Tiểu Luận Về Phòng Chống Tội Phạm, Tiểu Luận Về Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (227.29 KB, 25 trang )

Đang xem: Tiểu luận về phòng chống tội phạm

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, tệ nạn xã hội đã trở nên báo động đáng chú ý là tệ nạn ma
túy, mại dâm, đá gà, số đề, cá cược bóng đá, đánh bài, xốc đĩa, lô tô, bông vụ, uống rượu
càng quấy … diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Riêng địa bàn huyện Tri Tôn, trong những
năm qua, tình hình tệ nạn xã hội cũng diễn biến hết sức phức tạp, đa dạng với nhiều thủ
đoạn tinh vi, xảo quyệt, làm cho nhiều gia đình tan vỡ hạnh phúc, gây hậu quả nghiêm
trọng cho đời sống kinh tế, văn hóa, đạo đức xã hội và còn là một trong những nguyên nhân
phát sinh, phát triển tội phạm. Nghiêm trọng hơn nó ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính
trị và trật tự an toàn xã hội. Trước thực trạng trên, được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp
ủy Đảng, chính quyền và lực lượng Công an, mà trong đó nòng cốt là lực lượng Công an
huyện đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, đoàn thể tăng cường các biện pháp đấu tranh
phòng chống các loại tệ nạn xã hội. Nhờ đó tình hình an ninh trật tự có nhiều chuyển biến
tích cực, luôn được giữ vững.
Tuy nhiên, trong thực tế công tác phòng, chống tệ nạn xã hội của lực lượng Công an
huyện cũng còn bộc lộ những tồn tại, thiếu sót. Hiệu quả của nó vẫn còn bị hạn chế, chưa
đáp ứng được yêu cầu đặt ra, tệ nạn xã hội tuy có giảm nhưng chưa ổn định, trong từng lúc,
từng nơi cũng còn diễn biến rất phức tạp.
Với những vấn đề nêu trên, là một chiến sĩ Công an nhân dân, hơn ai hết, tôi luôn có
suy nghĩ tìm ra phương hướng và giải pháp tối ưu nhất để khắc phục những tồn tại, thiếu sót
trong công tác phòng, chống tệ nạn xã hội. Vì vậy bản thân đăng ký đề tài: “Công tác
phòng, chống tệ nạn xã hội trên địa bàn huyên Tri Tôn. Thực trạng và giải pháp.” để có điều
kiện nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về các loại tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện Tri Tôn. Từ đó
tìm ra những giải pháp cơ bản nhất góp phần cùng với đơn vị, địa phương bài trừ có hiệu
quả với các loại tệ nạn xã hội.
Đây là lần đầu tiên tiếp cận với đề tài, kiến thức có hạn và thời gian nghiên cứu
không được nhiều nên không tránh khỏi những thiếu sót, mong được sự chỉ dẫn và thông
cảm của quý thầy cô và đồng nghiệp.
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI

1.1.

Một số vấn đề chung về tệ nạn xã hội:

Tệ nạn xã hội xảy ra trong một phạm vi nhất định, thường có nhiều chủ thể tham gia,
gắn liền với các lĩnh vực hoạt động của con người, gây ra những hậu quả nghiêm trọng, có
ảnh hưởng sự phát triển của xã hội. Mặt khác tệ nạn xã hội và tội phạm ngày càng có liên
quan chặt chẽ với nhau, đan xen vào nhau và tạo điều kiện cho nhau phát triển. Chống tội
phạm và đấu tranh ngăn ngừa tệ nạn xã hội là hai mặt của một vấn đề.
Hiện nay trong xã hội nhiều tệ nạn xã hội có nguy cơ phát triển, đáng chú ý là những
tệ nạn xã hội sau: Tệ nạn mại dâm, tệ nạn ma túy, mê tín dị đoan…
Tệ nạn xã hội thường gắn chặt với tội phạm. Đây là một trong những nguồn gốc
chính gây ra tình trạng mất an ninh trật tự. Ngoài ra trong kinh tế thị trường, quy luật chạy
theo lợi nhuận cao chi phối hành vi con người không nhỏ, họ có thể làm bất cứ điều gì, bất
chấp các thủ đoạn, không tuân thủ pháp luật và đạo đức xã hội miễn là có lợi nhuận cao,
đây là cơ sở đầu tiên của những hành vi tội phạm. Kinh doanh ma túy và mại dâm đem lại
siêu lợi nhuận, có thể nói không ngành kinh doanh nào sánh kịp. Vì vậy một số người bất
chấp luân thường đạo lý và luật pháp, lao vào tổ chức, kinh doanh lĩnh vực này.
Tóm lại, tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội tiêu cực, có tính phổ biến, biểu hiện
bằng những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và gây ra hậu quả nghiêm
trọng cho đời sống cộng đồng.
1.2.

T ác hại c ủ a tệ nạn xã hội:

Tệ nạn xã hội là biểu hiện cụ thể của lối sống thực dụng, coi thường các chuẩn mực
đạo đức, xã hội và pháp luật, làm xói mòn các giá trị đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ
tục của dân tộc, phá vỡ tình cảm, hạnh phúc gia đình, phá hoại nhân cách, phẩm giá con
người, ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe, năng suất lao động, làm băng hoại giống nòi dân
tộc.

Tệ nạn xã hội làm cho nhiều gia đình tan vỡ hạnh phúc, gây hậu quả nghiêm trọng
cho đời sống kinh tế, văn hóa, đạo đức xã hội và còn là một trong những nguyên nhân phát
sinh, phát triển tội phạm. Nghiêm trọng hơn nó ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hội.

1.3.

Vai trò củ a công tác phòng, chống tệ nạn xã hội:

Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội là quá trình lực lượng Công an vận dụng các
quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật và các qui định khác của
Nhà nước về phòng, chống tệ nạn xã hội; tiến hành đồng bộ các biện pháp công tác nhằm
phát hiện, ngăn chặn, loại trừ các tệ nạn xã hội, góp phần bảo vệ và phát huy thuần phong
mỹ tục, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; góp phần giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an
toàn xã hội.
Để làm được đều đó, đồi hỏi phải có sự tham gia của các cấp, các ngành, của toàn xã
hội. Trong đó, lực lượng cơ sở có một vai trò, vị trí rất quan trọng. Đây là lực lượng chủ
công, nòng cốt tuyên truyền, hướng dẩn quần chúng nhân dân và trực tiếp thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng và nhà nước, các biện pháp theo chức năng, nhiệm vụ của
mình để phòng, chống tệ nạn xã hội trên địa bàn.
1.4.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác phòng, chống tệ nạn xã

hội:
a. Về mục tiêu:
Đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội trong giai đoạn hiện nay là
nhiệm vụ cấp bách và cực kỳ quan trọng của cả nước, của từng địa phương, đòi các cấp ủy
Đảng, chính quyền, các ngành, các lực lượng. phải tập trung đấu tranh cao độ với những

giải pháp, biện pháp đồng bộ và hữu hiệu mới có thể thu được thắng lợi. Đấu tranh phòng,
chống tội phạm và tệ nạn xã hội đạt hiệu quả là một trong những điều kiện để đảm bảo ổn
định chính trị, giữ vững trật tự an toàn xã hội, góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội và làm tiền đề thuận lợi cho công cuộc đổi mới, cho sự nghiệp công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
b. Về quan điểm:
Quan điểm của Đảng ta từ Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định mục
tiêu của việc phòng, chống tệ nạn xã hội hiện nay là phải chặn đứng sự phát triển của tệ nạn
xã hội, tiến tới đẩy lùi ở những nơi tiếp theo về lâu dài, từng bước xóa bỏ kết hợp thực hiện
các chính sách xã hội hướng phát triển lành mạnh. Để phòng ngừa tệ nạn ma túy, mại dâm,
cờ bạc, … Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách một cách cụ thể nhằm đẩy mạnh

công tác phòng, chống tệ nạn hiện nay như Chỉ thị 33, 64 của Ban bí thư Trung ương Đảng
về lãng đạo công tác phòng, chống tệ nạn xã hội: “. các cấp ủy phải chỉ đạo chặt chẽ và phối
hợp hoạt động giữa các tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ
chức kinh tế trong công tác tuyên truyền, giáo dục tổ chức chữa bệnh, giáo dục và dạy nghề
cho người mại dâm, nghiện hút ma túy, phát hiện và trừng phạt nghiêm minh”.
Trước tình hình trên, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội
trong tình hình mới đặc ra hiều vấn đề hết sức quan trọng đó là: bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thỗ của tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và
chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc gia và
trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn làm thất bại âm mưu và hành động chống phá
của các thế lực thù địch, như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu rõ: “… bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế
độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc gia và trật
tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá
của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Đại hội XI của Đảng cũng thể hiện sự quan tâm rất lớn đến công tác phòng ngừa tội

phạm. Đại hội yêu cầu phải phòng ngừa tội phạm và tệ nạn xã hội để không xảy ra các hiện
tượng này và xây dựng chương trình quốc gia phòng chống tội phạm.
Chỉ thị 09-CT/TW của Ban bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”. Tiếp nối tư tưởng chỉ đạo
của Trung ương Đảng qua các thời kỳ; đề cặp nhiều vấn đề quan trọng về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng hiệu quả; tiếp tục huy
động sức mạnh tổng hợp của nhân dân tích cực, tự giác tham gia phong trào toàn dân bảo
vệ an ninh Tổ quốc.
Chỉ thị 48 của Bộ chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”.
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã
hội trong những năm tới, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả

hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; giữ vững chủ quyền biên giới, vùng trời, biển, đảo
của Tổ quốc. Bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ
vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ động ngăn chặn làm thất bại mọi âm
mưu, hoạt động của các thế lực thù địch; trong bất cứ tình huống nào cũng không để xảy ra
bị động, bất ngờ, sẳn sàng ứng phó có hiệu quả trước các mối đe dọa, kể cả đe dọa an ninh
phi truyền thống mang tính toàn cầu.
c. Cơ sở pháp lý:
Để phòng, chống tệ nạn xã hội Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết,
Nghị định, Chỉ thị, Thông tư khác nhau nhằm thực hiện việc phòng, chống tệ nạn xã hội
một cách đồng bộ và có hiệu quả, các Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư ấy bao gồm:
* Các văn bản chỉ đạo của Trung ương:

Luật phòng, chống mua bán người

Luật phòng, chống ma tuý (sửa đổi, bổ sung).

Luật phòng, chống HIV/AIDS.

Nghị 87/CP ngày 12/12/1995 của Chính phủ về tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa
và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng.

Nghị 88/CP ngày 14/12/1995 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong các hoạt
động văn hóa, du lịch văn hóa và phòng, chống một số tệ nạn xã hội.

Nghị định 34/CP, ngày 18/8/2000 quy định khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là khu vực biên giới) bao gồm các xã, phường, thị
trấn có địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền.

Nghị định số 73/NĐ-CP ngày 12/07/2010 của Chính phủ: “Quy định về xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực an ninh trật tự”.

Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ngày 09/9/2010 của Chính phủ, về tổ chức cai nghiện ma tuý
tại gia đình và cộng đồng.

Nghị định 76/CP ngày 27/6/2003 của Chính phủ quy định về hướng dẩn cụ thể việc áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.

Nghị định 163/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính Phủ: “Quy định chi tiết thi hành biện pháp

giáo dục tại xã, phường, thị trấn ”.

Nghị định 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính Phủ: “Quy địnhvề chế độ áp dụng biện

pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh ”.

Quyết định thành lập Ban liên ngành 178 về kiểm tra các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa
xã hội.

Quyến định số 36/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chiến lược Quốc gia phòng, chống AIDS ở Việt Nam tới năm 2010 và tầm nhìn đến năm
2020.

Quyết định số 1173/QĐ-TTg ngày 18/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai luật
phòng chống mua bán người.

Quyết định số 1427/QĐ-TTg ngày 18/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương
trình hành động phòng chống tội phạm mua bán người giai đoạn 2011-2012”.
* Các văn bản chỉ đạo của tỉnh:

Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 26/09/2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, về việc ban

hành Quy chế phối hợp giữa lực lượng Công an, Bộ đội biên phòng và Hải quan trong đấu
tranh phòng, chống các tội phạm về ma tuý tại địa bàn biên giới, cửa khau.

Quyết định 3267/QĐ-UBND ngày 11/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, về việc ban

hành Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS, tệ nạn ma tuý, mại dâm
và các loại TNXH khác tỉnh An Giang.

Quyết định số 113/QĐ-UBND ngày 21/01/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, về việc ban

hành Quy chế phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống mại dâm.

Chương trình hành động số 19-CTr/TU ngày 07/07/2008 của Tỉnh ủy An Giang, về việc thực hiện

Chỉ thị số 21-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm
soát ma tuý trong tình hình mới.

Chỉ thị số 37-CT/TU ngày 24/3/2009 của Tỉnh ủy An Giang, về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo

phát động phong trào toàn dân tham gia vận động giúp đỡ, quản lý người sau cai nghiện,
tái hoà nhập cộng đồng và đẩy mạnh công tác xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh
không có tệ nạn ma tuý, mại dâm.

Quyết định số 159/QĐ-UBND ngày 25/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, về việc

thành lập Văn phòng liên lạc phòng, chống ma tuý qua biên giới giữa tỉnh An Giang và
Kandal – Campuchia.

Kế hoạch số 10/KH-BCĐ ngày 17/01/2012 của Ban chỉ đạo phòng, chống tội

phạm, HIV/AIDS và TNXH tỉnh An Giang.

Kế hoạch số 02/KH-UBND ngày 10/01/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh An

Giang về thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán người giai

đoạn 2011-2015.
* Các văn bản chỉ đạo của huyện:

Kế hoạch số 09/KH-BCĐ 138 ngày 12/3/2012 của Ban chỉ đạo 138 huyện Tri

Tôn, về việc thực hiện Nghị quyết 09/CP và Chương trình Quốc gia phòng, chống tội phạm.

Kế hoạch số 11/KH-BCĐ ngày 16/3/2012 của Ban chỉ đạo 138 huyện Tri

Tôn: về kế hoạch hành động phòng, chống HIV/AIDS; phòng, chống ma tuý; mại dâm và
các tệ nạn xã hội khác trên địa bàn huyện.

Kế hoạch số 14/KH-UBND ngày 20/3/2012 về việc thực hiện Chỉ thị số 48-

CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng,
chống tội phạm trong tình hình mới.

Kế hoạch số 15/KH-BCĐ ngày 28/3/2012 của Ban chỉ đạo phòng, chống

tội phạm, HIV/AIDS và TNXH tỉnh An Giang.

Kế hoạch số 18/KH-UBND ngày 30/3/2012 của Ủy ban nhân dân huyện Tri

Tôn, tỉnh An Giang về thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán
người giai đoạn 2011-2015.

Như vậy, với những văn bản quy phạm pháp luật nêu trên cho thấy quan điểm của
Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng công tác phòng chống tệ nạn xã hội. Mục đích hướng đến

làm sao cho xã hội ngày càng trong sạch, lành mạnh tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế xã
hội phát triển bền vững.
Chương 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỆ

NẠN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRI TÔN
2.1.

Đặc điểm tình hình:
Tri Tôn là Huyện miền núi, diện tích 600,40 km 2, có 13 xã và 02 Thị trấn, dân số

145.149 người, trong đó người kinh là 93.409 người, người Khmer 50.452 người, 1.231
người là người Hoa và dân tộc khác là 57 người .
Đặc điểm xã hội của huyện Tri Tôn là địa bàn miền núi, biên giới, dân tộc và tôn
giáo: đạo Phật, Thiên Chúa, Cao Đài, Tin Lành, Phật Giáo Hòa Hảo, đặc biệt là nơi sinh ra
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, với nhiều danh lam thắng cảnh du lịch mang chiến tích lịch sử hào
hùng và nơi đây kinh tế du lịch không ngừng phát triển, bên cạnh đó kéo theo mặt trái của
nền kinh tế là các loại tội phạm cũng phát sinh với nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi hơn,
manh động hơn nhưng đa số là còn trong lứa tuổi thanh thiếu niên.
Về trường học: toàn huyện hiện có 04 trường phổ thông trung học, trong đó có 01
trường dân tộc nội trú. Đối với các xã, thị trấn đều có trường phổ thông trung học cơ sở,
trường tiều học, tại huyện có 01 trung tâm Bồi dưỡng chính trị cho cán bộ công nhân viên.
Ngoài ra còn có khu du lịch đồi Tức Dụp, Xoài So, Ô Tà Sóc, nhà mồ Ba Chúc, … là nơi
thu hút khách ở các địa phương đến tham quan vui chơi, giải trí, mua bán, trao đổi hàng hóa
và cũng là nơi để nhân dân thư giản tinh thần sau những ngày mệt nhọc.
Về nghề nghiệp: có 80% các hộ dân sống bằng nghề nông, một số sống bằng nghề

tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, mua bán và ngành nghề khác. Trình độ dân trí còn thấp, tình
trạng khô hạn vào mùa nắng đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp của người dân.
Kinh tế – xã hội không ngừng phát triển, hàng năm trên địa bàn huyện thường xuyên
có nhiều khách tham quan du lịch (nhất là dịp Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ) lượng khách đổ về
đây rất đông. Chính vì thế đời sống của nhân dân càng ngày ổn định. Tuy nhiên, bên cạnh
đó một số đối tượng xấu từ nơi khác đến và số đối tượng tại địa phương lợi dụng nơi tập
trung giao lưu mua bán để hoạt động phạm tội và tham gia tệ nạn xã hội…

Thời gian gần đây, sự phát triển mạnh mẽ các sòng bạc dọc theo tuyến biên giới phía
Campuchia các đối tượng trong và ngoài địa bàn huyện, thậm chí ngoài tỉnh họ đi bằng
nhiều phương tiện qua nơi đây tham gia các hoạt động cờ bạc, đá gà, đã gây không ít khó
khăn cho việc phòng, chống tệ nạn xã hội.
Đời sống kinh tế khó khăn; địa bàn biên giới nên các loại tệ nạn xã hội về ma tuý,
trộm cắp vặt, số đề, đá gà, mê tín dị đoan, say rượu càn quấy, tụ tập băng nhóm lưu manh,
bảo kê, gây rối trật tự công cộng. ngày càng tăng; ngoài ra do một số thanh niên gia đình
khá giả sa vào con đường ăn chơi trụy lạc.
2.2.

Thực trạng về công tác phòng, chống tệ nạn xã hội ở huyện Tri Tôn năm

2012:
a. Công tác triển khai hoạt động phòng, chổng tệ nạn xã hội của huyện Tri Tôn:
Điểm nổi bậc trong quá trình tổ chức thực hiện công tác phòng chống tệ nạn xã hội
là lực lượng Công an đã tham mưu tốt cho các Ban ngành, các địa phương xã, thị trấn ra các
Chỉ thị, Nghị quyết chỉ đạo phát động toàn Đảng, toàn dân phát huy sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị vào cuộc đấu tranh phòng chống các loại tệ nạn xã hội. Tiếp tục thực
hiện khá tốt Nghị quyết 09/CP, Chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm, Chương
trình hành động phòng chống ma túy, HIV/AIDS, mại dâm, đã tạo được những chuyển biến
tích cực trong nhận thức và hành động của từng cấp, từng ngành, đơn vị cơ sở trong phong

trào quần chúng tham gia an ninh trật tự ở địa phương.
Với tư tưởng chỉ đạo lấy phòng ngừa là chính, Công an huyện làm nòng cốt tham
mưu tốt cho cấp Uỷ, chính quyền chỉ đạo các Ban ngành, đoàn thể tập trung đẩy mạnh công
tác tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân về đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những nội dung của
NQ09/CP và chương trình quốc gia phòng chống tội phạm – tệ nạn xã hội. Chỉ đạo lồng
ghép việc triển khai thực hiện NQ09/CP với các chương trình phát triển kinh tế – xã hội ở
địa phương nhằm nâng cao nhận thức trách nhiệm của mọi người dân trong công tác phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự tại địa bàn dân
cư.

Các hình thức tuyên truyền, vận động quần chúng cùng các ngành, các địa phương
tập trung đẩy mạnh, bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng, từng lứa tuổi, được
đông đảo nhân dân và các đơn vị trên địa bàn nhiệt tình hưởng ứng, thông qua hệ thống
truyền thanh, tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ – thể dục thể thao, triển lãm, diễu
hành, mít tinh cổ động, cắt dán khẩu hiệu, băng rol, kẻ vẽ Pano, áp phíc đặt ở các khu vực
dân cư, trục lộ giao thông. Đối với các trường học, lực lượng Công an phối hợp tuyên
truyền trực tiếp đến toàn thể học sinh, đồng thời tổ chức các buổi sinh hoạt nội khóa, ngoại
khóa về các biện pháp phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội để đảm bảo an ninh trật tự
trong nhà trường.
Các ngành, đoàn thể, các địa phương đã tích cực tổ chức tuyên truyền vận động được
208 cuộc, có 12.026 lượt người tham dự, viết tin bài tuyên truyền trên các đài truyền thanh
được 126 lần, nội dung vận động tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước để quần chúng nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành. Trong đó đáng
chú ý đã tổ chức cấp phát 32.000 tờ bước tuyên truyền phòng chống ma túy đến từng hộ gia
đình; tổ chức tuyên truyền trong trường học được 75 cuộc, có 8.240 lượt giáo viên, học sinh
tham dự, cho 18.108 học sinh ký cam kết sử dụng ma túy, 50 lượt trường học ký thi đua
không có ma túy trong học đường, cho 385 hộ mua bán quanh trường học cam kết không
bán các chất có liên quan đến ma túy, 152 cơ sở kinh doanh thuốc tân dược không vi phạm

về ma túy.
Thực hiện tốt công tác vận động quần chúng tích cực tố giác tội phạm, đã cấp phát
31.468 phiếu tố giác, quần chúng cung cấp cho lực lượng Công an lên danh sách theo dõi
quản lý 421 đối tượng các loại, thông qua hộp thư tố giác và đường dây nóng quần chúng
đã cung cấp 1.307 nguồn tin có giá trị phục vụ công tác tấn công đấu tranh các loại tệ nạn
xã hội.
Đi đôi với công tác tuyên truyền vận động, lực lượng Công an huyện chủ động tích
cực phối hợp các ban ngành, đoàn thể và các địa phương tập trung đẩy mạnh phát động xây
dựng phong trào quần chúng tham gia phòng chống các loại tệ nạn xã hội gắn với thông tư
04 của UBTW MTTQVN về “Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở
khu dân cư”. Đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình tập hợp quần chúng, đã tổ chức thành

lập được 17 đội honda đầu phòng chống tội phạm, 11 câu lạc bộ thanh niên phòng chống tội
phạm – tệ nạn xã hội với 412 hội viên, 8 câu lạc bộ phụ nữ phòng chống tội phạm – tệ nạn
xã hội với 261 hội viên và 409 tổ nhóm phụ nữ phòng chống tội phạm – tệ nạn xã hội với
4.521 thành viên, thành lập 776 chi đội thiếu niên cờ đỏ với 22.357 đội viên, 59 đội thanh
niên tình nguyện với 1.290 đội viên, 54 đội thanh niên xung kích với 380 thanh niên.
b. Những việc đạt được:
Nhìn chung, kinh tế – xã hội phát triển nhưng tệ nạn xã hội không giảm mà còn gia
tăng. Vì vậy, cần phải quan tâm và tập trung đẩy mạnh công tác tấn công các loại đối tượng
này chủ yếu như: Ma tuý, mại dâm, gây rối trật tự công cộng, số đề, đá gà. các tệ nạn xã hội
có chiều hướng gia tăng theo nhu cầu phát triển của xã hội. Các đối tượng hoạt động lén lút
và ngày càn tinh vi, có nơi có lúc diễn ra công khai, nó không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà
còn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng không tốt đối với dư luận xã hội.
Căn cứ vào Nghị quyết 09/CP năm 1998 và kế hoạch 138/CP của Công an cấp trên,
Công an huyện Tri Tôn đã chủ động đề ra kế hoạch tham mưu cấp ủy, ủy ban thành lập Ban
chỉ đạo 138 của huyện mà Công an là lực lượng nồng cốt triển khai thực hiện chương trình
phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn xã hội làm trong sạch lành mạnh hóa địa bàn.
Qua điều tra nghiên cứu xác định tính chất đặc thù của các loại tội phạm về tệ nạn xã

hội trên địa bàn, từ đó, Đảng ủy, ủy ban cùng các cơ quan chức năng quyết định chọn
phương châm: Xây dựng khu dân cư trên tuyến – thị trấn 03 không; “không ma túy, không
mại dâm, không tệ nạn xã hội”.
Bằng các hình thức và cách làm đúng để khơi dậy, phát huy truyền thống đạo lý, bản
sắc văn hóa, niềm tự hào dân tộc, đoàn kết yêu thương giúp đở nhau từ quần chúng nhân
dân trong việc xây dựng, duy trì bền vững sự ổn định về an ninh trật tự tại địa phương.
Trong năm 2012 Công an huyện Tri Tôn phát hiện triệt xóa 30 vụ liên quan 206 đối tượng
gồm đá gà, số đề, cờ bạc, … đưa truy tố 12 vụ gồm 20 đối tượng về hành vi đánh bạc; 18 vụ
gồm 186 đối tượng còn lại xử lý phạt hành chính với tổng số tiền trên 370 triệu đồng. Ngoài
ra triệt xóa 02 tụ điểm phức tạp gồm: 01 quán ăn uống giải khát tổ chức dịch vụ karaoke
không có giấy phép, có tiếp viên phục vụ không lành mạnh, không hợp đồng lao động; 01
dịch vụ internet truy cập và lưu trữ các nội dung xấu (sex) trên mạng vi tính, xử phạt vi

phạm hành chính 02 vụ 6 triệu đồng. Đồng thời, qua kiểm tra các cơ sở cầm đồ mùa Euro
xử phạt 04 cơ sở vi phạm số tiền là 8 triệu đồng, phát hiện thu hồi 01 xe mô tô trong vụ
trộm cắp tài sản. Tổ đặc nhiệm phát hiện 03 vụ 35 đối tượng tụ tập đánh nhau gây rối trật tự
công cộng, 04 vụ trộm cắp tài sản (chó, mèo, gà và 01 vụ trộm nóng xe mô tô); 01 vụ vận
chuyển băng đĩa không rõ nguồn gốc; 01 vụ xin điểu; 01 vụ đưa hối lộ để bỏ qua lổi vi
phạm khi phát hiện với số tiền là 800.000 đồng (đã lập biên bản cảnh cáo, xung quỹ nộp
kho bạc); tang vật thu giữ 05 dao tự chế, 01 kiếm, 01 ống tiếp inox, 01 gậy sắt, 01 gậy
gỗ, …
Công an các xã, thị trấn trong năm 2012 đã giải tán 183 nhóm thanh thiếu niên tụ tập
đêm khuya gây mất trật tự, 31 sòng bạc, 03 sòng bầu cua, 13 sòng bông vụ, 13 điểm đá gà,
03 thầu để, 33 đối tượng ghi thơ đề, 04 đối tượng mua đề, . Từ đó đảm bảo tốt tình hình an
ninh trật tự trên địa bàn các xã, thị trấn.
Ma túy: Lập danh sách và hồ sơ cá nhân để quản lý, giáo dục 68 đối tượng sử dụng
trái phép chất ma túy, xử phạt hành chính 05 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất
ma túy với số tiền 2,25 triệu đồng, đưa cai nghiện bắt buộc 06 đối tượng tái sử dụng trái
phép các chất ma túy, khởi tố 03 vụ 04 bị can về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Mại dâm: Lập danh sách và hồ sơ quản lý 47 đối tượng có biểu hiện bán dâm, 15 cơ
sở nhà trọ có biểu hiện chủ chứa mại dâm.
Cá cược bóng đá: Lập hồ sơ nghiệp vụ quản lý 14 đối tượng có biểu hiện tổ chức cá
cược bóng đá.
c. N u ên nhân đ t được:
Nhờ thường xuyên làm tốt công tác phối hợp chặt chẽ với các ngành đoàn thể của
huyện và của các xã thị trấn như: Mặt trận, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Hội nông dân,
Đoàn thanh niên, Quân sự, các ban ấp, khóm đến các tổ an ninh nhân dân, tai mắt của lực
lượng công an kịp thời cung cấp tin tức địa điểm của các loại tệ nạn xã hội trong đó có nạn
mại dâm, ma tuý, số đề, đánh bạc. để có biện pháp phòng ngừa chủ động kiên quyết đấu
tranh chống các loại tội phạm và bài trừ tệ nạn xã hội có hiệu quả.
Hàng năm, luôn chủ động làm công tác xây dựng các kế hoạch liên tịch với các
ngành như: Mặt trận, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Hội nông dân tổ

chức được 752 cuộc có khoảng 45.174 lượt người tham dự. Nội dung tuyên truyền các vấn
đề như: Vận động gia đình văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh, tham gia thực hiện Nghị
quyết 09/CP, Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và không tham gia tệ nạn xã hội,
tuyên truyền phụ nữ giúp nhau làm giàu chống bạo hành trong gia đình, thực hiện bình đẳng
giới, không có con em tham gia vào tệ nạn xã hội.
Nhờ chủ động trong công tác phối kết hợp giữa các ngành các cấp, các khóm, các tổ
an ninh nhân dân đến tuyên truyền vận động những đối tượng lười lao động thích tham gia
vào các tệ nạn xã hội trong đó có ma tuý, mại dâm, số đề. để kịp thời vận động không còn
tham gia nữa, bên cạnh không chỉ vận động những đối tượng mua mà còn vận động những
đối tượng bán để ngăn chặn nạn ma tuý, mại dâm, số đề lây lan.
Thường xuyên làm tốt công tác phòng ngừa như: mời gọi răn đe, cảm hóa giáo dục
47 đối tượng mại dâm, 68 đối tượng ma túy, 75 đối tượng số đề và bán đề hưởng huê hồng
đến Công an các xã, thị trấn làm việc cho cam kết không tái phạm.
Sự quan tâm chỉ đạo của Đảng uỷ – ủy ban nhân dân huyện trong công tác đấu tranh
phòng ngừa, ngăn chặn các loại tệ nạn xã hội.

Xem thêm: Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Đảng Ta Trong Sạch,

Kịp thời làm tham mưu cho Cấp ủy – ủy ban nhân dân huyện và các xã, thị trấn chỉ
đạo các ngành, đoàn thể và khóm có kế hoạch phối hợp chặt chẽ trong công tác tuyên
truyền vận động và sự ủng hộ của nhân dân.
Lực lượng công an ngày càng được chuyển hóa về trình độ, năng lực và hằng năm
được đưa đi đào tạo, bồi dưỡng lớp tập huấn nghiệp vụ cho công an cơ sở trong đó tập
trung cho lực lượng Công an các xã, thị trấn. Mở nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp tội
phạm và bài trừ tệ nạn xã hội, đảm bảo làm trong sạch địa bàn.
Duy trì chế độ họp đơn vị nhất là thấm nhuần việc học tập 6 điều Bác Hồ dạy Công
an nhân dân “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, đề ra phương án triệt xóa các tụ điểm tệ nạn
xã hội và rút kinh nghiệm từ đó đề ra biện pháp phù hợp.
d. Những hạn chế, tồn đọng:
Trong những năm qua công tác phòng chống tệ nạn xã hội đã đạt được như đã nêu
trên cũng nhờ sự quan tâm lãnh chỉ đạo của Đảng uỷ – ủy ban nhân dân huyện. Tuy nhiên,
bên cạnh cũng còn một số tồn tại, thiếu sót cụ thể như sau:

– Công tác xây dựng cơ sở tai mắt của lực lượng Công an chưa vững chắc, cung cấp
những thông tin về chậm cho nên ngành Công an khi xử lý phân tích những thông tin về đối
tượng sử dụng mua bán ma tuý, mua bán dâm, số đề qua đường dây điện thoại hoặc đến nơi
trể nên họ đã giải tán. Từ đó, không kịp thời phát hiện và xử lý được đối tượng, chỉ phạt
những đối tượng ghi đề hưởng huê hồng, còn những đối tượng là thầu số đề chưa bị xử phạt
do đối tượng tìm mọi cách khai né tránh là bán cho những người ở Campuchia không rõ tên
và cũng không rõ địa chỉ.

Quân số quản lý địa bàn, khu vực ít, đôi lúc công việc thường xuyên liên tục trên nhiều lĩnh
vực cho nên công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội thực sự quan tâm chưa cao,
chưa đề ra kế hoạch phòng ngừa triệt để tận gốc. Hiện nay đang quản lý trên địa bàn huyện
Tri Tôn là 256 đối tượng hình sự và tệ nạn xã hội các loại, 68 đối tượng mua bán và sử
dụng trái phép các chất ma tuý, đối tượng này đang hoạt động lén lút khi bị phát hiện thì

tìm cách phi tang chứng cứ, tìm cách đối phó lại với lực lượng khi làm nhiệm vụ.

Trình độ nhận thức của một bộ phận nhân dân chưa cao, chưa thấy hết tác hại của các tệ
nạn xã hội với bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội.

Phương thức hoạt động của các loại tệ nạn xã hội này ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thường
xuyên di chuyển địa điểm cho nên công tác đấu tranh triệt phá còn hạn chế ở gốc độ nào đó.
Hơn nữa, khi bị phát hiện đối tượng vi phạm thường che dấu hành vi các tệ nạn xã hội, gây
khó khăn trong việc điều tra xử lý. Vì vậy công tác triệt xóa gặp rất nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó cũng do một số hạn chế chủ quan như:
Công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân chưa được thường xuyên, nội
dung tuyên truyền còn sơ sài, chưa sâu, chưa thiết thực với tình hình tệ nạn xã hội trên địa
bàn.
Công tác phối hợp với Công an, Biên Phòng, Hải Quan và các đoàn thể trong việc
tuần tra kiểm soát, đấu tranh phòng, ngừa tệ nạn xã hội chưa được thường xuyên, kế hoạch
liên tịch giữa các ngành có thề hiện hàng năm nhưng chỉ mang tính thành tích.
Công tác quản lý người nghiện, quản lý đối tượng tham gia tệ nạn xã hội chưa được
chặt chẻ, chưa gọi hỏi, răn đe, cảm hóa giáo dục thường xuyên.

e. N u ên nhân h n chế:

Trình độ văn hóa thấp (phần đông là đối tượng tham gia tệ nạn xã hội), đời sống nhân dân
còn nhiều khó khăn, tư tưởng làm giàu bất chính, bất chấp pháp luật, có tư tưởng ăn bám,

lười lao động, có lối sống hưởng thụ những nhu cầu thấp hèn.

Về công tác tổ chức ở Công an cơ sở luôn có sự thay đổi về cán bộ chiến sĩ cho nên công
tác đấu tranh triệt xóa các tệ nạn xã hội phải gián đoạn. Trình độ chuyên môn của vài đồng
chí còn hạn chế, chưa nâng cao vai trò trách nhiệm của mình, đời sống của cán bộ chiến sĩ
còn gặp nhiều khó khăn, trong công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội vẫn còn sự
tình cảm, nể nang.

Số cơ sở kinh doanh và loại hình dịch vụ mọc lên ngày càng nhiều như: Karaoke, massa,
nhà trọ, cầm đồ, internet, quán giải khác và các quán rượu, … góp phần tạo điều kiện thuận
lợi cho các tệ nạn ma túy, mại dâm cờ bạc núp bóng hoạt động.

Chưa có kinh phí, chính sách hợp lý cho lực lượng làm nhiệm vụ hoặc quỹ dự phòng khi
xảy ra tình huống nghề nghiệp vì tệ nạn ma túy, mại dâm có nguy cơ lây nhiểm HTV/ ATDS
cho lực lượng làm nhiệm vụ rất cao.

Hệ thống pháp luật còn chưa đủ chặc chẽ, chưa đủ mạnh, chưa được điều chỉnh kịp thời so
với sự phát triển của xã hội.

Chưa phát huy tính chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp tổ chức thực hiện

có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an sinh xã hội để giảm đói
nghèo, ngăn chặn nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội.

f. Từ những nhận xét đánh giá trên qua thời gian thực hiện công tác phòng chổng tệ nạn
xã hội trên địa bàn huyện có thể rút ra một sổ kinh nghiệm
MT o
o




o

sau:
Phải nhận thức công tác phòng chống tội phạm là trách nhiệm của các cấp, các
ngành, của toàn xã hội, cuộc đấu tranh này phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp toàn diện của
cấp ủy Đảng, chính quyền, trong đó lực lượng Công an đóng vai trò nòng cốt xung kích.
Thực hiện cơ chế phối hợp tích cực giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể với vận
động quần chúng nhân dân tham gia phòng chống tội phạm, huy động được sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội vào cuộc đấu tranh, có như vậy mới đạt hiệu
quả cao.

Quá trình chỉ đạo thực hiện phải thường xuyên kiểm tra, thông báo, chấn chỉnh kịp

thời những sai sót, lệch lạc, nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị cơ sở trong
công tác phòng chống tội phạm. Coi trọng sơ kết, tổng kết, phát hiện những mô hình tốt,
điển hình tiên tiến rút kinh nghiệm nhân rộng trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh
Tổ quốc, kịp thời biểu dương khen thưởng động viên phong trào thi đua chung.
Phải thực hiện đồng bộ các chính sách cơ bản về xóa đói giảm
nghèo, giúp vốn, tạo công ăn việc làm cho những đối tượng có nguy
cơ tham gia tệ nạn xã hội và những đối tượng đã hoàn lương để có
cơ hội ổn định cuộc sống, vững tin vào sự giúp đõ của xã hội trong
việc tái hòa nhập cộng đồng, tin tưởng vào đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước.

Chương 3
MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ
HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRI TÔN ĐẾN NĂM 2015
3.1.

Mục tiêu:
Trong giai đoạn của thời kỳ mở cửa, nhất là từ khi gia nhập WTO thì thường là

giai đoạn giao thoa mới mẽ, nên việc du nhập các tệ nạn xã hội càn mãnh liệt và khó
quản lý hơn. Bởi một số phần tử xấu lợi dụng chính sách mở cửa của đất nước ta để
truyền bá du nhập các loại tệ nạn xã hội với hình thức tinh nvi mới mẽ hơn, phức tạp
hơn. Trước diển biến tình hình đó Công an huyện Tri Tôn đề ra những phương hướng
sau:

Bảo vệ tính thống nhất và chấp hành nghiêm pháp luật, ổn định của địa phương.


Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cả hệ thống chính trị trong hoạt
động đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội.

Phóng, chống tệ nạn xã hội phải kết hợp với các biện pháp loại trừ nguyên nhân và
điều kiện thực hiện tội phạm và tệ nạn xã hội ra khỏi đời sống xã hội.

Kết hợp phòng ngừa với điều tra, xử lý tội phạm và tệ nạn xã hội; Chủ động phòng
ngừa, tích cực tấn công, tấn công liên tục tội phạm và tệ nạn xã hội; đảm bảo yêu cầu
chính trị, pháp luật và nghiệp vụ trong hoạt động phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã
hội.

Thường xuyên quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX và
nghị quyết huyện Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 – 2015: Chăm lo phát triển đời sống văn
hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc anh em.; đấu tranh, ngăn
chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, văn hóa phẩm độc hại. Tiếp tục hoàn thiện và phát huy
hiệu quả các hoạt động văn hóa gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa” và “Xây dựng nông thôn mới”.

Tiếp tục phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp
ủy đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của chính quyền, sự tham gia tích cực của

các ngành, đoàn thể các cấp và các tầng lớp nhân dân trong đấu tranh phòng chống tội
phạm, thường xuyên tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng
lực của cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng chống tội phạm; quán triệt quản điểm
tích cực phòng ngừa, chủ động tấn công trấn áp các loại tội phạm, làm giảm các loại
tội phạm hình sự nguy hiểm, bảo vệ tuyệt đối an toàn các sự kiện chính trị, văn hóa, xã
hội lớn của đất nước, tỉnh và huyện.

Tập trung điều tra khám phá, triệt xóa các loại tội phạm; phấn đấu đẩy lùi, ngăn chặn
có hiệu quả các trường hợp lây nhiễm HIV/AIDS, tệ nạn ma túy, mại dâm như: khống
chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư dưới 0,3%; 95% số người nhiễm HIV
được tư vấn, quản lý, chăm sóc, điều trị; 100% trường hợp tai nạn nghiệp vụ, rủi ro
điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội HIV; giảm số người nghiện ma túy hàng năm từ
10 đến 20%; phấn đấu 80% số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý và được áp dụng
các biện pháp cai nghiện; ngăn chặn triệt để không để tái trồng cây có chứa chất ma
túy (cần sa…); phấn đấu 80% số người bán dâm có hồ sơ quản lý và được tổ chức chữa
bệnh, dạy nghề, hổ trợ tái hòa nhập cộng đồng; trên 90% cơ sở hoạt động nhà hàng,
khách sạn, nhà trọ có đăng ký sử dụng lao động đúng quy định; giảm cơ bản các loại tệ
nạn xã hội như: cờ bạc, số đề, đá gà, cá cược, bảo kê, mê tín dị đoan, say rượu càn
quấy, tụ tập băng nhóm lưu manh côn đồ, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp vặt. ;
phấn đấu triệt xoá 100% các tụ điểm tệ nạn xã hội gây dư luận bức xúc trong xã hội,
góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

3.2.

Những giải ph p cơ bản phòng, chống tệ nạn xã hội tr n đị bàn huyện

Tri Tôn từ nay đến năm 2015:

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống HIV/AIDS; phòng,
chống tệ nạn ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác, phải xem đây là công tác
quan trọng nhất, nhằm nâng cao nhận thức, tự phòng ngừa là chính. Phát huy thế mạnh
của các cơ quan truyền thông, xây dựng các chuyên đề, chuyên mục tuyên truyền cả

chiều rộng và chiều sâu; bên cạnh đó chú trọng phát huy vai trò tuyên truyền trực tiếp
của hội viên các đoàn thể.

Ngành công an, ngành giáo dục và liên đoàn lao động phối hợp nâng cao công tác
tuyên truyền, giáo dục chống xâm nhập ma tuý vào học đường, cán bộ công viên chức,
người lao động.

Ngành y tế phối hợp với các ngành chức năng thường xuyên kiểm tra chấn chỉnh việc
quản lý, sử dụng các loại thuốc tân dược gây nghiện, các chất hướng thần ở các cửa
hàng bán thuốc tân dược và các cơ sở kinh doanh chữa bệnh tư nhân.

Tăng cường kiểm soát, quản lý chặt chẽ việc sản xuất, lưu thông, sử dụng các chất ma
tuý, không để lợi dụng kinh doanh bất hợp pháp các loại tiền chất, chất gây nghiện,
chất hướng thần.

Nâng cao sức chiến đấu và hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên trách phòng,

chống ma tuý; tăng tỉ lệ phát hiện, bắt giữ, điều tra, truy tố và xét xử tội phạm về ma
tuý. Ưu tiên đầu tư trang thiết bị, phương tiện cho lực lượng chuyên trách phòng,
chống ma tuý.

Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa Công an – Hải quan – Biên phòng trong
đấu tranh phòng, chống ma tuý khu vực biên giới, cửa khẩu Tịnh Biên. Ngăn chặn triệt
để, không để tái trồng cây có chứa chất ma tuý (cần sa.). Tiếp tục xây dựng các mô
hình cơ quan, đơn vị, xã, phường, thị trấn không có tệ nạn ma tuý; gắn xây dựng xã,
phường, thị trấn không có tệ nạn ma tuý với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa”. Đa dạng hóa các mô hình cai nghiện, xây dựng mô hình cai nghiện
tại gia đình, cộng đồng và giúp đỡ người sau cai nghiện hòa nhập cộng đồng.

Thực hiện tốt công tác nắm tình hình, tuần tra, kiểm tra, phát hiện nhổ, huỷ bỏ cây cần
sa ở những địa bàn có khả năng trồng, tái trồng nhất là ở những nơi đồi núi.

Ngành Công an tiếp tục thực hiện tốt công tác phối hợp với các ngành chức năng,
nâng cao các hoạt động nghiệp vụ, mở các đợt cao điểm tấn công tội phạm, nhằm phát

hiện triệt phá các tổ chức đường dây buôn bán ma tuý, các tụ điểm ma tuý trên tuyến
biên giới không để tình hình diễn biến phức tạp hơn.

Phấn đấu làm giảm cơ bản mại dâm ở những điểm phức tạp, ngăn chặn sự phát sinh và

giảm dần số gái mại dâm trên địa bàn, phòng ngừa các đường dây mua bán phụ nữ, trẻ
em sang Campuchia vì mục đích mại dâm, bán dâm.

Phối hợp với các ngành chức năng tăng cường kiểm tra việc thực hiện các quy định
quản lý Nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh, dịch vụ có khả năng, điều kiện hoạt
động tội phạm ma tuý và các tệ nạn xã hội khác, chấn chỉnh và kiểm tra việc đăng ký
tạm trú, tạm vắng ở địa bàn trọng điểm.

Thường xuyên khảo sát và lập danh sách số gái mại dâm mới phát sinh để lập hồ sơ và
phân loại đối tượng này, nhằm quản lý, khi phát hiện có vi phạm thì đưa vào cơ sở
chữa bệnh và tái hòa nhập cộng đồng.

Tổ chức khảo sát và lập danh sách đối tượng mại dâm để có biện pháp quản lý, xử lý
thích hợp, đúng pháp luật. Trong đó cần phân loại đối tượng cần đưa vào các trung tâm
để chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề và đối tượng quản lý tại cộng đồng. Tăng cường
công tác kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm (nhà hàng, khách sạn, nhà
trọ, khu vui chơi giải trí…) dễ xảy ra tình trạng bán dâm.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác phòng, chống mại dâm, đội
kiểm tra liên ngành, kết hợp với quản lý địa bàn của chính quyền địa phương; kiên
quyết xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm. Mặt khác, các ngành, đoàn thể và ủy ban
nhân dân các xã, thị trấn phải tạo điều kiện cho người hoàn lương tái hòa nhập cộng

đồng, tổ chức dạy nghề, tạo công ăn việc làm, để họ không trở về con đường cũ.

Cần tập trung đấu tranh phòng, chống các loại tệ nạn xã hội khác là những đối tượng
là bọn cầm đầu, tổ chức, đường dây, chủ chứa, bảo kê, giữ vai trò chủ yếu trong các
hoạt động cơ bạc, đá gà, số đề, cho vay nặng lãi. Ngoài ra cũng tích cực đấu tranh với
các loại tội phạm có tổ chức, có sử dụng hung khí, côn đồ gây rối trật tự công cộng,
bạo hành, trộm cắp, say rượu càn quấy, mê tín dị đoan.. .trong đó chú trọng khu vực

trọng điểm, phức tạp, các khu vực giáp ranh địa giới hành chính, các nhà hàng, khách
sạn, nhà trọ, khu vui chơi giải trí, tập trung đông người.

Tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch, chỉ đạo và huy
động lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội
khác trên địa bàn; đồng thời tham gia quản lý lập hồ sơ, phân loại đối tượng, giáo dục
các đối tượng có hành vi vi phạm tệ nạn xã hội tại địa bàn nơi cư trú.

Gắn công tác phòng, chống các loại tệ nạn xã hội khác với các chương trình an sinh xã
hội như đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo; gắn với phong trao
“Xây dựng nông thôn mới”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Bảo vệ
an ninh Tổ Quốc”.

Thành lập nhiều câu lạc bộ như: Câu lạc bộ xe ôm, câu lạc bộ nghiệp đoàn bóc vác,

câu lạc bộ Hưu trí nhằm phát huy tác dụng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh tố
giác tội phạm, nhằm tăng cường tai, mắt trong quần chúng nhân dân.

Tăng cường công tác phối hợp, có ký kết giao ước thi đua ở những xã địa bàn giáp
ranh trong đấu tranh phòng ngừa tệ nạn xã hội, vì hiên nay đặc trưng của các hoạt
động về tệ nạn xã hội thường tập trung ở những địa bàn giáp ranh. Hồng gây khó khăn
cho lực lượng chức năng trong việc truy bắt loại tội phạm này.

Phòng chống tệ nạn xã hội nhằm mục tiêu trước mắt là triển khai có hiệu quả giai
đoạn 2010 – 2015 nhằm ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi tệ nạn xã hội trong tương lai. Đề
đạt được mục tiêu đó thì Đảng ủy, Ủy ban, Công an và các đoàn thể huyện Tri Tôn
phải làm tốt những mặt công tác sau:
+ Tiếp tiệc cũng cố Ban chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS; phòng chống tệ nạn
ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác ở tại địa phương mình.
+ Công an, Y tế, Lao động thương binh xã hội và các ngành liên quan rà soát
các văn bản chỉ đạo đã hết hiệu lực thi hành, tham mưu kịp thời với Đảng ủy, Ủy ban
để ban hành văn bản mới chỉ đạo trong công tác này.

+ Công an huyện chủ trì phối hợp với các ngành liên quan trong công tác phòng
chống tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác. Xây dựng lực lượng Công an thật sự
trong sạch vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ.
+ Khuyến khích các ban ngành đoàn thể ký kết liên ngành trong phòng, chống
HIV/AIDS, tệ nạn ma túy, mại dâm. Đài truyền thanh tăng cường công tác tuyên
truyền phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, HIV/AIDS…
3.3.

Kết luận:

Trong giai đoạn hiện nay, tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước ngày
càng được đổi mới, từng bước tiến lên công nghiệp hóa – hiện đại hóa nhằm thực hiện
mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tuy nhiên kinh tế phát triển thì nhu cầu cuộc sống của nhân dân ngày càng cao,
theo đó tệ nạn xã hội cũng ngày càng gia tăng. Đó là điều mà Đảng, Nhà nước đặc biệt
quan tâm và xác định vấn đề tệ nạn xã hội là một tác hại lớn làm ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cũng như đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân.
Qua nghiên cứu thực trạng vấn đề tệ nạn xã hội của cả nước nói chung, và địa
bàn huyện Tri Tôn nói riêng, những năm qua tình hình diễn ra hết sức đa dạng và phức
tạp, hình thức hoạt động của từng loại đối tượng ngày càng tinh vi hơn, nó tác động
mạnh mẽ đến đới sống xã hội.
Do đó, thời gian tới cần phải nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo của các cấp Ủy
đảng các Chi bộ cơ sở, quan tâm sâu sắc hơn nữa nhằm có hướng chí đạo kịp thời. Các
ngành, các tổ chức đoàn thể, các ban khóm, ấp phải phát huy vai trò trách nhiệm nhiều
hơn nữa, phải năng động sáng tạo và phải dựa vào quần chúng nhân dân, thề hiện tinh
thần đoàn kết, phấn đấu, nổ lực, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời phải
thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ.
Ngành chuyên môn phải thường xuyên theo dõi diễn biến tình hình hoạt động
của tệ nạn xã hội trên địa bàn, nhằm đề ra kế hoạch phối hợp tấn công, phòng chống

một cách có hiệu quả. Phải thường xuyên làm tốt công tác tham mưu c ho cấp Ủy, Ủy
ban, xây dựng phong trào quần chúng tự quản, bảo vệ an ninh Tổ quốc và công tác xây
dựng lực lượng trong sạch vững mạnh.
3.4.

Kiến nghị:
Qua nghiên cứu đề tài tệ nạn xã hội cũng như thực trạng và các biện pháp

phòng, chống thì hướng tới đây tôi xin kiến nghị một số vấn đề trọng tâm nhằm giúp
cho công tác phòng, chống tệ nạn xã hội đạt được kết quả tốt hơn:
*Đổi với Trung ương:
Tiếp tục tham mưu Quốc hội, chính phủ tiếp tục thực hiện chương trình mục
tiêu quốc gia giai đoạn 2010 – 2015, các Bộ, Ngành có liên quan sớm thống nhất ban
hành thông tư hướng dẩn quản lý sử dụng kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia
giai đoạn 2010 – 2015. Sớm có quyết định phân bổ các nguồn kinh phí vào đầu năm để
đảm bảo thực hiện các chương trình kế hoạch công tác.

Mở thêm các trường giáo dưỡng, dạy nghề và cơ sở chữa bệnh cho các đối tượng tệ
nạn xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình hiện nay.

Tạo điều kiện thuận lợi về kinh phí và phương tiện hoạt động cho công tác phòng,
chống, và có chính sách ưu đãi nhiều hơn cho cán bộ cơ sở trong công tác này. Cần
xem xét cải tiến chế độ tiền lương cho cán bộ công an cơ sở, đảm bảo cuộc sống thì
mới an tâm và nhiệt tình phục vụ trong công tác.

Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước đối
với công tác bài trừ tệ nạn xã hội.

Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác phòng, chống tệ
nạn xã hội.
* Đổi với cấp Tỉnh:

Cần trang bị những phương tiện như: máy ảnh, Camera, xe máy, máy ghi âm, công cụ
hổ trợ như: súng bắn đạn nhựa, roi điện, dùi cui . . . . Để phục vụ trong việc phòng
chống tệ nạn xã hội.

Cần đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có đủ trình độ, năng lực có đủ phẩm chất đạo
đức ngang tầm với nhiệm vụ, nhất là cán bộ phụ trách chuyên môn.

Cần phải có chính sách hổ trợ vốn, dạy nghề cho các đối tượng đã hoàn

lương để làm ăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập vào cộng đồng, góp phần chung vào
việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
*

Đối với cấp Huyện:

Hàng năm cần phải thường xuyên mở các lớp tập huấn nghiệp vụ cho

lực lượng công an cơ sở.

Xem thêm: Tài Liệu Bài Tập Thực Hành Access Có Lời Giải, Tài Liệu Bài Tập Thực Hành Access 2010

Tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ công an học tập để nâng cao trình độ

học vấn và chuyên môn nghiệp vụ.

Thường xuyên tổ chức hội nghị, sơ tổng kết định kỳ hàng quý, 06 tháng,

tổng kết năm về công tác phòng, chống tội phạm về tệ nạn xã hội nhằm kiểm điểm,
đánh giá rút kinh nghiệm để chỉ đạo các ngành các cấp tham gia thực hiện công tác bài
trừ tệ nạn xã hội đạt hiệu quả cao hơn.
*

Đối với cấp xã, thị trấn:

Cần quán triệt sâu rộng đến các ban ngành đoàn thể trong công tác phối

kết hợp tuyên truyền vận động nhân dân về chủ trương chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà Nước. Nhất là Nghị Quyết 09, Chương trình Quốc gia phòng phồng tội
phạm và các Nghị quyết liên tịch của các ngành.

Tổ chức nhiều phong trào ở địa phương như câu lạc bộ đờn ca tài tử, sân

bóng chuyền, sân bóng đá và các địa điểm giải trí lành mạnh từng bước góp phần đẫy
lùi các tệ nạn xã hội.

Cần tuyên truyền pháp luật rộng khắp cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa

bằng nhiều hình thức như: qua đài phát thanh, lồng gép vào các chương trình văn nghệ
quần chúng, cũng như đưa nhiều tin ảnh về lĩnh vực tệ nạn xã hội …

Tăng cường biện pháp giáo dục tại địa phương nhiều hơn nữa nhằm cảm

hóa, giáo dục họ trở thành người tốt.

TAI LIỆU THAM KHAO
1. Giáo trình trung học chính trị.
2. Văn Kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa X, Khóa XI.
3. Bộ luật hình sự (được sửa đổi bổ sung).
4. Luật phòng, chống ma túy (được sửa đổi bổ sung).
5. Pháp Lệnh Phòng Chống Mại Dâm.
6. Pháp Lệnh Phòng Chống Ma Túy.
7. Báo Cáo Tổng Kết Năm Của Công An huyện Tri Tôn năm 2012.
8. Một Số Điều Khoản Nghị Định 88/CP, 73/CP…………….
Ngoài ra còn có tham khảo một số tiểu luận khác có liên quan.

Viết một bình luận