tiểu luận tính độc lập tương đối của ý thức xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (197.31 KB, 26 trang )

Đang xem: Tiểu luận tính độc lập tương đối của ý thức xã hội

MỞ ĐẦU
Trong đời sống xã hội, vật chất và tinh thần là hai mặt cơ bản. Nếu kinh
tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội, thì ý thức xã hội với tính cách là
một mặt của đời sống tinh thần xã hội. Thiếu điều kiện vật chất thì không có sự
tồn tại của con người, nhưng thiếu điều kiện tinh thần thì xã hội không thể phát
triển được. Trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử, cơ sở vật chất và
tinh thần thường xuyên thấm lẫn vào nhau và hỗ trợ lẫn nhau. Chừng nào nền
tảng tinh thần suy yếu, chừng đó xã hội sẽ lâm vào khủng hoảng, các tệ nạn xã
hội xuất hiện và sự phát triển kinh tế sẽ gặp khó khăn.
Nền tảng tinh thần của xã hội có vai trò quan trọng trong nuôi dưỡng,
định hướng, tạo ra điều kiện, môi trường cho mỗi người phát triển. Nền tảng tinh
thần lành mạnh, tiến bộ sẽ góp phần hình thành ở con người lý tưởng, lối sống,
phẩm chất, đạo đức, quan niệm chân – thiện – mỹ đúng đắn, là động lực của phát
triển kinh tế. Trong khi đó, văn hóa mà hạt nhân là ý thức xã hội được xem là
nền tảng tinh thần của xã hội. Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI của Đảng đã bổ
sung phát triển quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về
vắn hóa là: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu động lực phát
triển bền vững đất nước. Văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã
hội. Trong quan điểm của Đảng, xây dựng văn hóa gắn với con người, do con
người và vì con người.
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, một mặt phải coi trọng cuộc cách
mạng tư tưởng văn hóa; phát huy vai trò tích cực của đời sống tinh thần đối với
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mặt khác phải tránh duy ý chí
trong xây dựng văn hóa, xây dựng con người mới; cần chăm loi xây dựng ý thức
xã hội mới tốt đẹp, lành mạnh tạo điều kiện tác động trở lại đối với phát triển
kinh tế, thực hiện mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam: dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với ý nghĩa đó, bản thân chọn vấn đề đề

2
nghiên cứu: “Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội và vận dụng trong xây

dựng nền tảng tinh thần của xã hội ở nước ta hiện nay”.
NỘI DUNG
1. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1.1. Khái niệm tồn tại xã hội
Tồn tại xã hội là sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất
của xã hội. Trong những quan hệ xã hội vật chất, hai loại quan hệ cơ bản là quan
hệ giữa người với tự nhiên và quan hệ vật chất giữa người với người.
Tồn tại xã hội được nghiên cứu với tính cách vừa là đời sống vật chất vừa
là những quan hệ vật chất giữa người với người. Theo ý nghĩa đó thì tồn tại xã
hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội và ý thức xã hội không bao quát được
toàn bộ tồn tại xã hội.
Tồn tại xã hội gồm các yếu tố cơ bản sau: điều kiện tự nhiên (trước hết là
hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số, phương thức sản xuất vật chất. Trong
ba yếu tố cơ bản đó thì phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất. Như
vậy, tồn tại xã hội là mặt vật chất xã hội. Mỗi giai đoạn phát triển của loài người
có một đời sống vật chất riêng – một tồn tại xã hội riêng. Mặt khác, các yếu tố
của tồn tại xã hội thường xuyên thay đổi nên tồn tại xã hội có tính lịch sử.
1.2. Khái niệm và kết cấu của ý thức xã hội
Khái niệm ý thức xã hội: ý thức xã hội là một mặt của đời sống tinh thần
xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng,
truyền thống… nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những
giai đoạn phát triển nhất định.
Khi nghiên cứu về khái niệm ý thức xã hội cũng cần thấy rõ sự khác nhau
tương đối giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân. Ý thức cá nhân là thế giới tinh
thần của những con người riêng biệt, cụ thể. Ý thức cá nhân đều phản ánh tồn tại
xã hội ở những mức độ khác nhau, do đó nó không thể không mang tính xã hội.
Song, ý thức cá nhân không phải bao giờ cũng thể hiện quan điểm tư tưởng, tình
cảm phổ biến của một cộng đồng , một tập thể, một xã hội, một thời đại nhất định.

3
Ý thức xã hội và ý thức cá nhân cùng phản ánh tồn tại xã hội, chúng tồn tại trong
mối liên hệ hữu cơ, biện chứng, xâm nhập vào nhau và làm phong phú cho nhau.
Kết cấu của ý thức xã hội: Ý thức xã hội gồm các hiện tượng tinh thần,
những bộ phận, những hình thái khác nhau phản ánh tồn tại xã hội bằng những
phương thức khác nhau. Tuỳ theo góc độ xem xét, chúng ta có thể chia ý thức xã
hội thành các dạng khác nhau.
* Ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận: Ý thức xã hội thông
thường là những tri thức, những quan niệm của con người hình thành một cách
trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hoá, khái quát
hóa; Ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm được hệ thống hoá, khái quát
hoá thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm,
phạm trù, qui luật.
Ý thức xã hội thông thường tuy trình độ thấp hơn so với ý thức lý luận
nhưng ý thức xã hội thông thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặt cuộc
sống hàng ngày của con người, thường xuyên chi phối cuộc sống đó. Ý thức xã
hội thông thường là tiền đề quan trọng cho sự hình thành của học thuyết khoa
học. Ý thức lý luận (lý luận khoa học) có khả năng phản ánh khái quát, sâu sắc,
chính xác, nó có khả năng vạch ra mối quan hệ bản chất của sự vật trong tồn tại
xã hội.
* Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng: Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tình cảm,
ước muốn, thói quen, tập quán của con người, của một bộ phận xã hội hoặc toàn
bộ xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và
phản ánh đời sống đó. Tâm lý xã hội có đặc điểm phản ánh trực tiếp tồn tại xã
hội, nhưng đó là trình độ phản ánh thấp, phản ánh tự phát tồn tại xã hội. Tâm lý
xã hội ghi lại những mặt bề ngoài của xã hội nên nó không vạch ra đầy đủ, rõ
ràng, sâu sắc bản chất các mối quan hệ xã hội. Những quan niệm của con người
ở trình độ tâm lý xã hội mang tính chất kinh nghiệm, yếu tố trí tuệ đan xen với
yếu tố tình cảm chưa thể hiện về mặt lý luận. Nó có vai trò quan trọng trong việc
phát triển ý thức xã hội.

4
Hệ tư tưởng là trình độ cao của ý thức xã hội, hình thành khi con người
nhận thức sâu sắc hơn về những điều kiện sinh hoạt vật chất của mình. Hệ tư
tưởng có khả năng đi sâu vào bản chất sự vật, vào các mối quan hệ xã hội. Hệ tư
tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ thống những quan điểm tư
tưởng (chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo) là kết quả của sự khái
quát hoá những kinh nghiệm xã hội. Hệ tư tưởng được hình thành một cách tự
giác, nghĩa là nó được hình thành tự giác bởi các nhà khoa học và được truyền
bá trong xã hội. Khi nghiên cứu về hệ tư tưởng cần có sự phân biệt hệ tư tưởng
khoa học và hệ tư tưởng không khoa học. Hệ tư tưởng khoa học phản ánh chính
xác, khách quan các mối quan hệ vật chất của xã hội. Còn hệ tư tưởng không
khoa học tuy cũng phản ánh các mối quan hệ vật chất xã hội nhưng dưới một
hình thức sai lầm, hư ảo, xuyên tạc khách quan.
Mối quan hệ giữa hệ tư tưởng và tâm lý xã hội: Hệ tư tưởng và tâm lý xã
hội tuy là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội,
nhưng chúng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Cả hai đều có nguồn gốc
tự tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội. Nhưng trong đó, tâm lý xã hội tạo
điều kiện thuận lợi hoặc gây trở ngại cho sự hình thành, sự truyền bá, sự tiếp thu
của con người đối với một hệ tư tưởng nhất định (tâm lý, tình cảm giai cấp là
điều kiện thuận lợi cho các thành viên giai cấp tiếp thu hệ tư tưởng của giai cấp).
Mối liên hệ giữa hệ tư tưởng (đặc biệt là tư tưởng khoa học, tiến bộ) với tâm lý
xã hội, với sự sinh động phong phú của đời sống thực tiễn sẽ giúp cho hệ tư
tưởng bớt xơ cứng, giảm sai lầm.
Ngược lại, hệ tư tưởng, lý luận xã hội sẽ làm gia tăng yếu tố trí tuệ cho
tâm lý xã hội. Hệ tư tưởng khoa học sẽ thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo
hướng đúng đắn, lành mạnh. Hệ tư tưởng phản khoa học sẽ kích thích những
yếu tố tiêu cực của tâm lý xã hội phát triển. Hệ tư tưởng không ra đời trực tiếp
từ tâm lý xã hội, không là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã hội.

Tính giai cấp của ý thức xã hội:

5
Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật
chất khác nhau, có những lợi ích khác nhau, địa vị xã hội khác nhau, nên ý thức
xã hội của các giai cấp có nội dung và hình thức khác nhau. Ý thức xã hội mang
tính giai cấp. Tính giai cấp của ý thức xã hội được biểu hiện ở tâm lý xã hội và
hệ tư tưởng về tâm lý xã hội: mỗi giai cấp đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen
riêng, có thiện cảm hay ác cảm với tập đoàn xã hội này hay tập đoàn xã hội
khác. Ở trình độ hệ tư tưởng thì tính giai cấp của ý thức xã hội được biểu hiện
rất sâu sắc. Trong xã hội có đối kháng giai cấp bao giờ cũng xuất hiện những
quan điểm, tư tưởng hoặc hệ tư tưởng đối lập nhau: đó là tư tưởng của giai cấp
thống trị và giai cấp bị trị, bao giờ bóc lột và giai cấp bị bóc lột. Những tư tưởng
thống trị thời đại bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị về kinh tế và
thống trị về chính trị ở thời đại đó. Sự đối lập đó thể hiện: nếu hệ tư tưởng của
giai cấp thống trị, bóc lột ra sức bảo vệ địa vị của giai cấp đó thì hệ tư tưởng của
giai cấp bị trị, bị bóc lột thể hiện nguyện vọng, lợi ích của quần chúng lao động
chống lại xã hội người bóc lột người để xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng.
Chủ nghĩa Mác Lênin là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp
công nhân, ngọn cờ giải phóng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, phản ánh tiến
trình khách quan của sự phát triển. Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin ngay
từ khi hình thành đã đối lập với hệ tư tưởng tư sản -hệ tư tưởng bảo vệ lợi ích
của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ người bóc lột người. Cuộc đấu tranh giữa giai
cấp tư sản và giai cấp vô sản diễn ra hàng thế kỷ nay và sẽ còn kéo dài trên tất
cả các lĩnh vực trong đó có hệ tư tưởng. Cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý
thức hệ vẫn đang tiếp tục diễn ra trong điều kiện xã hội hiện nay. Trước sự biến
động phức tạp của tình hình thế giới, các thế lực thù địch đang ra sức tiến công
vào chủ nghĩa Mác Lênin, muốn phủ nhận chủ nghĩa Mác Lênin, phủ nhận chủ
nghĩa xã hội. Do vậy bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin trong điều kiện

hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng của cuộc đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân
tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta và nhân dân tiến bộ nói chung
trên thế giới.

6
Trong xã hội có giai cấp, thì ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác
động qua lại lẫn nhau. Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp bị trị do bị tước
đoạt tư liệu sản xuất, bị áp bức về vật chất nên không thể tránh khỏi bị áp bức về
tinh thần. Do vậy, giai cấp bị thống trị không tránh khỏi chịu ảnh hưởng tư
tưởng của giai cấp thống trị, bóc lột. Các Mác và Ăng ghen đã viết “Giai cấp
nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư
liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có
tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối” 1. Tuy
nhiên, mức độ ảnh hưởng của hệ tư tưởng của giai cấp thống trị còn tuỳ thuộc
vào trình độ phát triển ý thức cách mạng của giai cấp bị thống trị.
Trong xã hội có giai cấp, bản thân giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng
tư tưởng của giai cấp bị thống trị. Ở thời kỳ đấu tranh cách mạng phát triển
mạnh, thường thấy một số người trong giai cấp thống trị, nhất là những tri thức
tiến bộ từ bỏ giai cấp xuất thân của mình chuyển sang hàng ngũ các giai cấp
cách mạng và chịu ảnh hưởng của giai cấp đó về tư tưởng. Đặc biệt trong số đó,
có những người còn trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng.
Khi khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội, chủ nghĩa Mác Lênin
không phủ nhận ý thức cá nhân và tâm lý dân tộc.
Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội không chỉ mang dấu ấn của những
điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp, mà còn phản ánh những điều kiện sinh
hoạt chung của dân tộc: những điều kiện lịch sử, kinh tế chính trị, văn hóa xã
hội, điều kiện tự nhiên hình thành trong quá trình hình thành và phát triển lâu
dài của dân tộc. Vì vậy, trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội, ngoài tâm lý xã
hội và hệ tư tưởng của giai cấp, còn bao gồm tâm lý dân tộc, tình cảm, ước

muốn, thói quen, tập quán, tính cách…của dân tộc. Những yếu tố đó phản ánh
những điều kiện sinh hoạt chung của cả dân tộc, thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời
sống tinh thần của dân tộc, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo thành
truyền thống dân tộc.
2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
1

C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.132

7
2.1. Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định
Công lao to lớn của Các Mác và Ph. Ăng ghen là phát triển chủ nghĩa duy
vật đến đỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử và lần đầu tiên giải
quyết khoa học về sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh rằng: đời sống tinh thần của xã
hội hình thành và phát triển trên cơ sở đời sống vật chất rằng không thể tìm
nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa là không thể tìm
trong đầu óc con người mà phải tìm trong chính hiện thực vật chất. Sự biến đổi
của một thời đại nào đó cũng sẽ không giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thức
thời đại đó. Các Mác viết: “Không thể nhân định được về một thời đại đảo lộn
như thế, căn cứ vào ý thức của thời đại đó. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy
bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các
lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất ấy”2.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã chỉ rõ rằng: tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội.
Nghĩa là tồn tại xã hội quyết định nội dung phản ánh của ý thức xã hội: nó quyết
định ý thức xã hội ở sự nghèo nàn, phong phú hay đơn điệu trong nội dung phản
ánh. Tồn tại xã hội cũng quyết định tính chất cách mạng hay phản ánh cách
mạng, đối kháng hay không đối kháng trong ý thức xã hội. Khi tồn tại xã hội

thay đổi, nhất là phương thức sản xuất thay đổi thì những tư tưởng và lý luận xã
hội, những quan điểm về chính trị pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa nghệ
thuật…sớm hay muộn cũng thay đổi theo. Cho nên, chúng ta thấy ở những thời
kỳ lịch sử khác nhau có những quan điểm, lý luận, tư tưởng xã hội khác nhau thì
đó chính là do những điều kiện khác nhau của đời sống vật chất quyết định.
Điều đó chứng tỏ: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ,
trái lại tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”.
Thực tế trong lịch sử đã chứng minh điều đó. Trong xã hội nguyên thuỷ,
do trình độ của lực lượng sản xuất còn hết sức thấp kém, mọi người còn sống
chung, làm chung, hưởng chung nên chưa có quan niệm tư hữu, chưa có ý thức
2

C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, tập13, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.235

8
bóc lột. Nhưng khi chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã, chế độ tư hữu ra đời xã
hội phân chia giàu nghèo, bóc lột và bị bóc lột thì ý thức con người cũng thay
đổi căn bản: tư tưởng ăn bám, tư hữu, bóc lột, chủ nghĩa cá nhân…xuất hiện.
Nhưng các nhà tư tưởng của giai cấp nô lệ vẫn ca ngợi chế độ nô lệ, xem đó là
sự tồn tại hợp tự nhiên, cần thiết. Nhưng khi chế độ chiếm hữu nô lệ suy tàn thì
trong xã hội cũng xuất hiện tư tưởng xem chế độ chiếm hữu nô lệ là trái với
chính nghĩa cần xoá bỏ. Trong xã hội phong kiến, khi quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa ra đời và dần dần lớn mạnh thì cũng nảy sinh quan niệm cho rằng sự
tồn tại của chế độ phong kiến là trái công lý, không phù hợp với lý tính con
người phải được thay thế bằng xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái. Ngay cả khi
chủ nghĩa tư bản mới ra đời, đã xuất hiện các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa
không tưởng phê phán những mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa tư bản, đề xuất
xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, thay thế chế độ tư bản. Nhưng ở thời điểm
đó các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng không thể giải thích được bản chất của

phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và không hiểu những điều kiện khách
quan dẫn tới thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
Triết học Mác Lênin với quan điểm về nguồn gốc ý thức không chỉ dừng
lại ở chỗ xác định sự phụ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội mà còn chỉ
ra rằng: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, không phải một cách đơn giản,
trực tiếp mà thường thông qua các khâu trung gian. Không phải bất cứ tư tưởng
quan niệm, lý luận hình thái ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp
những quan hệ kinh tế của thời đại, chỉ khi nào xét đến cùng thì mới thấy rõ
những mối quan hệ kinh tế được phản ánh bằng cách này hay cách khác trong
các tư tưởng ấy.
2.2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
Khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội với ý thức xã hội, còn
ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội phụ thuộc vào tồn tại xã hội, triết học Mác
Lênin không xem ý thức xã hội như một yếu tố hoàn toàn thụ động mà trái lại còn
nhấn mạnh sự tác động tích cực trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội,

9
nhấn mạnh tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội. Tính
độc lập tương đối của ý thức xã hội được thể hiện trên những điểm sau.
Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội
Tính “thường lạc hậu” của ý thức xã hội nên hiểu theo nghĩa: ý thức xã
hội thường ra đời sau khi tồn tại xã hội đã ra đời và thường mất đi sau khi tồn tại
xã hội đã mất đi. Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội từ
những nguyên nhân sau:
Một là, theo nguyên lý phản ánh của Lênin: ý thức xã hội là các phản ánh
tồn tại xã hội nên nó chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi của tồn tại xã hội. Hơn
nữa sự biến đổi của tồn tại xã hội do tác động thường xuyên mạnh mẽ và trực
tiếp của những hoạt động thực tiễn của con người, nên nó thường diễn ra với tốc
độ rất nhanh mà ý thức xã hội có thể không phản ánh kịp và trở nên lạc hậu.

Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do
tính lạc hậu, bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội.
Ba là, ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn
người, những giai cấp nhất định trong xã hội. Vì vậy, những tư tưởng cũ lạc hậu
thường được các lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá chống lại
các lực lượng xã hội tiến bộ.
Lịch sử xã hội cho thấy, nhiều khi xã hội cũ mất đi, thậm chí mất đi rất
lâu, nhưng ý thức xã hội do xã hội đó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng. Tính độc lập
của ý thức xã hội thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực tâm lý xã hội: trong truyền
thống tập quán, thói quen… V.I Lênin cho rằng sức mạnh tập quán được tạo ra
qua nhiều thế kỷ là sức mạnh ghê gớm nhất.
Khuynh hướng lạc hậu của ý thức xã hội cũng biểu hiện rõ trong điều kiện
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều hiện tượng ý thức có nguyên nhân sâu xa
trong xã hội cũ vẫn tồn tại dai dẳng trong xã hội mới như lối sống ăn bám, lười
lao động, tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân…
Những ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Vì vậy,
trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác tư

10
tưởng, đấu tranh chống lại những âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực
thù địch về mặt tư tưởng. Đồng thời kiên trì xoá bỏ những tàn dư ý thức cũ kết
hợp với phát huy những truyền thống tư tưởng tốt đẹp của dân tộc.
Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
Triết học Mác Lênin khi khẳng định tính lạc hậu của ý thức xã hội so với
tồn tại xã hội thì đồng thời thừa nhận rằng trong những điều kiện nhất định, tư
tưởng của con người, đặc biệt là những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt
trước sự phát triển của tồn tại xã hội. Tư tưởng đó có thể dự báo được tương lai,
có tác dụng chỉ đạo, tổ chức hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt
động của con người vào giải quyết những nhiệm vụ mới do sự chín muồi của đời

sống vật chất tạo ra.
Sự ra đời, phát triển của chủ nghĩa Mác Lênin là một minh chứng. Chủ
nghĩa Mác Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân – giai cấp cách mạng
nhất của thời đại. Tuy ra đời vào thế kỷ XIX, trong lòng chủ nghĩa tư bản nhưng
chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ rõ qui luật của chủ nghĩa tư bản nói riêng. Qua đó
khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ bị thay thế bằng chủ nghĩa cộng
sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Học thuyết đó đã trang bị cho giai cấp
công nhân và chính đảng cộng sản vũ khí lý luận sắc bén để giải phóng mình và
giải phóng nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới thoát khỏi
ách nô dịch, bóc lột, xây dựng một xã hội hoàn toàn tốt đẹp. Trong thời đại ngày
nay, chủ nghĩa Mác Lênin vẫn là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất
cho nhận thức và cải tạo thế giới trên mọi lĩnh vực, vẫn là cơ sở lý luận và
phương pháp khoa học cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Triết học Mác Lênin khẳng định tư tưởng tiên tiến có thể đi trước tồn tại
xã hội không có nghĩa nói rằng trong trường hợp này ý thức xã hội không còn bị
tồn tại xã hội quyết định nữa. Tư tưởng khoa học tiên tiến không thoát ly tồn tại
xã hội mà phản ánh sâu sắc tồn tại xã hội.
Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình

11
Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình vì kế thừa là qui
luật chung của các sự vật, hiện tượng nên trong quá trình vận động của ý thức xã
hội nó cũng phải có tính kế thừa. Mặt khác, sự tồn tại, phát triển của ý thức xã hội
là phản ánh tồn tại xã hội, mà tồn tại xã hội cũng có tính kế thừa, nó vận động liên
tục nên ý thức xã hội cũng phản ánh quá trình đó, nó có tính kế thừa.
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng những quan
điểm lý luận của mỗi thời đại không nảy sinh trên mặt đất trống không mà được
tạo ra trên cơ sở kế thừa những thành tựu lý luận của các thời đại trước. Ví dụ,
chủ nghĩa Mác Lênin, kế thừa tinh hoa tư tưởng của loài người đã đạt được

trước đó mà trực tiếp là nền triết học cổ điển Đức, nền kinh tế chính trị học cổ
điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng ở Pháp.
Cho nên, không thể giải thích được một tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào
những quan hệ kinh tế hiện có, không chú ý đến các giai đoạn phát triển tư
tưởng trước đó. Lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại cho thấy: những giai
đoạn phát triển hưng thịnh hay suy tàn của triết học, văn hóa, nghệ thuật …
nhiều khi không phù hợp hoàn toàn với những giai đoạn hưng thịnh hay suy tàn
của kinh tế. Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội là một trong
những nguyên nhân chỉ rõ vì sao một nước có trình độ phát triển tương đối kém
về kinh tế nhưng tư tưởng lại ở trình độ phát triển cao. Thí dụ, như nước Pháp
thế kỷ XVIII nền kinh tế kém phát triển hơn nước Anh, nhưng tư tưởng lại tiên
tiến hơn nước Anh, hoặc so với nước Anh, Pháp nửa đầu thế kỷ XIX, nước Đức
lạc hậu hơn về kinh tế, nhưng đứng ở trình độ cao hơn về triết học.
Trong xã hội có giai cấp, tính kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính giai
cấp của nó. Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau
của các thời đại trước. Các giai cấp tiên tiến kế thừa những di sản tư tưởng tiến
bộ của xã hội cũ để lại. Khi tiến hành cách mạng tư sản các nhà tư tưởng tiên
tiến của giai cấp tư sản đã kế thừa, khôi phục những tư tưởng duy vật, nhân bản
thời cổ đại. Ngược lại những giai cấp lỗi thời và các nhà tư tưởng của nó thì tiếp
thu, khôi phục những tư tưởng, những lý thuyết xã hội phản tiến bộ của các thời

12
kỳ lịch sử trước. Giai cấp phong kiến trung cổ vào thời kỳ suy thoái đã khai thác
triết học duy tâm của Platon và những yếu tố duy tâm trong hệ thống triết học
Arixtot của triết học Hy lạp cổ đại, biến chúng thành cơ sở triết học của các giáo
lý đạo thiên chúa. Hoặc bước vào nửa sau của thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các
thế lực tư sản phản động đã phục hồi và phát triển những trào lưu triết học duy
tâm, tôn giáo dưới những cái tên mới như chủ nghĩa Cantơ, chủ nghĩa Tôma mới
nhằm chống phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và chống chủ nghĩa

Xem thêm: từ điển bách khoa britannica pdf

Mác Lênin.
Chính vì thế, nên khi tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý
thức xã hội thì không những phải vạch ra tính chất phản khoa học, phản tiến bộ
của những trào lưu tư tưởng phản động trong điều kiện hiện tại, mà còn phải chỉ
ra những nguồn gốc lý luận của nó trong lịch sử.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính kế thừa của ý thức xã hội
có ý nghĩa rất to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tinh thần của xã
hội xã hội chủ nghĩa. V.I Lênin nhấn mạnh rằng, văn hóa xã hội chủ nghĩa cần
phải phát huy những thành tựu và truyền thống tốt đẹp nhất của nhân loại từ cổ
chí kim trên cơ sở thế giới quan Mác xít. Người nhấn mạnh: “Văn hoá vô sản
phải là sự phát triển hợp qui luật của tổng số những kiến thức mà loài người đã
tích luỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã
hội của bọn quan liêu”3
Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội
Ý thức xã hội tồn tại trong những hình thái khác nhau. Những hình thái
chủ yếu của ý thức xã hội là: ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý
thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và triết học. Tính phong phú đa dạng của các hình
thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự qui định của tính phong phú đa dạng của
bản thân tồn tại xã hội.
Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội cũng là một biểu hiện
nữa của tính độc lập tương đối của ý thức. Đây là qui luật phát triển của ý thức
xã hội. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội làm cho mỗi hình
3

V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.29, tr.150.

13
thái có những mặt, những tính chất không thể giải thích được một cách trực tiếp
bằng tồn tại xã hội hay bằng các điều kiện vật chất.

Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời
đại, tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, có những hình thái ý thức xã hội nào đó
nổi lên hàng đầu và tác động mạnh đến cách hình thái ý thức khác.
Ở Hy Lạp cổ đại, triết học và nghệ thuật đóng vai trò đặc biệt quan trọng,
còn ở Tây Âu thời trung cổ, tôn giáo ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt của đời
sống tinh thần xã hội như triết học, nghệ thuật, đạo đức, chính trị, pháp quyền, ở
giai đoạn lịch sử sau này thì ý thức chính trị lại đóng vai trò to lớn tác động đến
các hình thái ý thức xã hội khác nhau. Ở Pháp cuối thế kỷ XVIII và Đức cuối thế
kỷ XIX triết học và văn hóa là công cụ quan trọng nhất để tuyên truyền những tư
tưởng chính trị, là vũ đài của cuộc đấu tranh chính trị của các lực lượng xã hội
tiên tiến.
Trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội, ý thức chính
trị có vai trò đặc biệt quan trọng, ý thức chính trị của giai cấp cách mạng định
hướng cho sự phát triển theo chiều hướng tiến bộ của các hình thái ý thức khác.
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, những hoạt động tư tưởng như triết học,
văn học, nghệ thuật… mà tách rời đường lối chính trị đổi mới đúng đắn của
Đảng sẽ không tránh khỏi rơi vào những quan điểm sai lầm, không thể đóng góp
tích cực vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân.
Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội
Đâu là biểu hiện quan trọng của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Chủ nghĩa Mác Lênin không những chống lại quan điểm tuyệt đối hoá vai trò
của ý thức xã hội mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường phủ nhận vai trò
tích cực của ý thức xã hội trong đời sống xã hội. Ph. Ăng ghen đã khẳng định
“Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật…đều dựa vào sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng
lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế.”4
4

C.Mác, Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, 1993, H. tr. 172

14
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển của xã hội phụ thuộc
vào những điều kiện lịch sử cụ thể, vào tính chất các mối quan hệ kinh tế mà
trên đó tư tưởng nảy sinh, vào vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư
tưởng vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đối với các nhu cầu phát
triển xã hội, vào mức độ thâm nhập của tư tưởng đó vào quần chúng. Vì vậy cần
phân biệt vai trò của ý thức tư tưởng tiến bộ và ý thức của tư tưởng phản tiến bộ
đối với sự phát triển của xã hội.
Như vậy, nguyên lý của triết học Mác Lênin về tính độc lập tương đối của
ý thức xã hội chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển của ý thức xã hội
và của đời sống tinh thần xã hội nói chung. Nó bác bỏ mọi quan điểm siêu hình,
máy móc tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Đây
cũng là cơ sở lý luận để quán triệt quan điểm của Đảng ta trong việc kết hợp
phát triển kinh tế với xây dựng nền văn hóa mới, và con người mới trong thời kỳ
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
3. Ý nghĩa phương pháp luận và vấn đề xây dựng nền tảng tinh thần
của xã hội Việt Nam hiện nay
3.1. Ý nghĩa phương pháp luận:
Từ việc nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính quyết
định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức
xã hội là cơ sở phương pháp luận căn bản của hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Theo nguyên lý này, một mặt, nhận thức các hiện tượng của đời sống tinh thần
xã hội phải căn cứ vào tồn tại xã hội nhưng mặt khác cũng phải thấy được sự
độc lập tương đối giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Do đó, trong thực tiễn cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn
tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản để
thay đổi ý thức xã hội; đồng thời, cũng cần phải thấy rằng những tác động của
đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những
biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội.

15
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội chứng tỏ rằng ý thức xã hội nói
chung, ý thức con người nói riêng vừa bao hàm cả yếu tố tích cực và lạc hậu, vì
thế trong cuộc sống chúng ta phải biết phát huy tính tích cực, phát huy những
tiến bộ, hạn chế những tiêu cực lạc hậu. Trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
cần tiến hành cuộc cách mạng trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa.Đây là tính tất
yếu của cách mạng trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa.
Đông thời, cần thấy được tầm quan trọng của ý thức xã hội, đặc biệt là ý
thức xã hội mới, phải chú ý đến giáo dục ý thức xã hội mới lành mạnh, tiến bộ
để định hướng cho hoạt động của con người.
3.2. Một số vấn đề về xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội Việt Nam
hiện nay
Khái niệm nền tảng tinh thần: “nền tảng tinh thần” có thể hiểu là những
cơ sở tư tưởng, tình cảm, nội tâm của con người, từ đó hình thành lý tưởng, lối
sống, phẩm chất, đạo đức, quan niệm Chân – Thiện – Mỹ…, là chỗ dựa tinh thần
cho con người cả trong cuộc sống, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Nói văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội là nói đến vai trò của văn hóa
trong việc hình thành, phát triển những tư tưởng, tình cảm, đạo đức, các giá trị
Chân – Thiện – Mỹ của xã hội, tác động trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của
xã hội, là chỗ dựa tinh thần cho xã hội.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, xây dựng nền tảng tinh thần
của xã hội hay xây dựng ý thức xã hội mới lành mạnh, tiến bộ là vấn đề bức
thiết. Xây dựng ý thức xã hội mới là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng, trên cơ sở xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Xây dựng ý thức
xã hội mới, chúng ta cần phải đẩy mạnh công cuộc xây dựng đời sống kinh tế
mới, văn hoá mới, con người mới; không ngừng hoàn thiện ý thức xã hội theo

hướng khoa học, cách mạng, tiến bộ; đồng thời tăng cường công tác tuyên
truyền, giáo dục ý thức xã hội mới.

16
Trong sự phát triển của mỗi cá nhân, ngoài các yếu tố thuận về chủ thể, họ
còn bị chi phối bởi quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền thống của
cộng đồng, tức là bị chi phối bởi ý thức xã hội. Vì vậy, khi ý thức xã hội tiến bộ,
lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cá nhân và ngược lại.
Bởi thế, muốn xây dựng xã hội mới, tất yếu phải xây dựng ý thức xã hội mới và
việc xây dựng ý thức xã hội mới trở thành một nhiệm vụ của công cuộc xây
dựng xã hội mới.
Ý thức xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng là toàn bộ quan điểm, tư
tưởng, tình cảm, tâm trạng… của xã hội mới mà hạt nhân là chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
phản ánh lợi ích căn bản của nhân dân nhằm phục vụ công cuộc xây dựng xã hội
mới. Trên thực tế, ý thức xã hội mới đó biểu hiện rất phong phú, đa dạng. Ngoài
hệ tư tưởng, nó còn được biểu hiện ra ở tâm trạng, tình cảm, nhu cầu và cả thói
quen, phong tục, tập quán của cộng đồng xã hội. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI, Đảng ta đã xác định: ” Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng
là một xã hội : Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân
dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh
đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.”5. Có thể nói,
mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã xác định đó là định hướng có
tính chiến lược trong việc xây dựng ý thức xã hội mới ở nước ta hiện nay. Cùng
với định hướng cơ bản trong việc phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội,

Như vậy, xây dựng ý thức xã hội mới là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về bản chất, xã hội mới là xã hội dân
chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “I – NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN
5

Đảng, Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.70

17
CHỦ Bao nhiêu quyền lợi đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công
cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến
quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân
cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền
hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đây là tư tưởng cơ bản khẳng định chủ thể
tích cực cũng là đối tượng phục vụ chính của xã hội mới.
Ý thức xã hội mới phản ánh lợi ích của nhân dân và chính do nhân dân
xây dựng. Tinh thần này được thể hiện trong các quan điểm, chủ trương của
Đảng và Nhà nước, trong các chính sách cụ thể. Vì vậy, mọi chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều có sự tham gia xây dựng của nhân
dân, phản ánh lợi ích của nhân dân. Nhân dân có quyền và trách nhiệm trong
việc xây dựng, hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước; xây dựng, tuyên truyền, quảng bá, phát triển ý thức xã hội mới. Như
vậy, có thể nói, sự nghiệp đổi mới không thể thành công nếu thiếu sự đóng góp
của nhân dân; công cuộc xây dựng nền văn hoá mới, bảo tồn giá trị truyền thống
dân tộc, kế thừa những cái tốt, lọc bỏ những thói hư tật xấu, chống sự xuyên tạc,
bóp méo của các thế lực thù địch, không thể thành công nếu thiếu sự đóng góp
của nhân dân. Mặt khác, phải thấy rằng, việc xây dựng ý thức xã hội mới cũng
không thể thành công nếu thiếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – đội tiên phong
của giai cấp cách mạng, cũng là đội tiên phong của toàn dân tộc, bởi Đảng ta là
một tổ chức chính trị bao gồm những cá nhân ưu tú nhất của xã hội. Tuy nhiên, để

làm tốt vai trò lãnh đạo, Đảng phải đổi mới, tự chỉnh đốn nhằm nâng cao năng
lực, sức chiến đấu mà trước hết là bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng.
Mặt khác, xây dựng ý thức xã hội mới trên cơ sở đẩy mạnh sự nghiệp xây
dựng và phát triển nền văn tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá
thực sự trở thành mục tiêu, động lực của phát triển, thành nền tảng tinh thần của
xã hội. Sự phát triển xã hội không chỉ có đời sống vật chất, mà còn có đời sống
tinh thần. Đó là hai mặt không thể thiếu và giữa chúng có sự gắn bó, tác động
tương hỗ có thể làm giàu, phong phú cho nhau và cũng có thể kìm hãm nhau

18
trong quá trình phát triển. Bên cạnh kinh tế, văn hoá luôn đóng vai trò quyết
định trong quá trình phát triển và sự trường tồn của mỗi quốc gia, dân tộc. Hơn
nữa, từ trong bản chất, văn hoá đã mang tính nhân văn, chứa đựng cái đúng, cái
tốt, cái đẹp được cộng đồng dân tộc sáng tạo, lưu giữ, truyền lại cho thế hệ sau
thành truyền thống văn hoá, thành hồn thiêng dân tộc. Các truyền thống này
được chuyển tải vào các lĩnh vực chính trị, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật, tôn
giáo, v.v. tạo thành môi trường văn hoá nuôi dưỡng đời sống tinh thần mỗi cá
nhân và cả cộng đồng. Trong điều kiện hiện nay, văn hoá còn đóng vai trò quan
trọng trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường theo hướng phát triển bền vững,
hạn chế bớt những mặt trái của kinh tế thị trường.
Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là
nội dung cốt lõi trong đời sống tinh thần xã hội, là nhiệm vụ quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Quan điểm xây dựng và phát triển nền văn tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã được Đảng ta đề cập đến từ rất sớm, được phản
ánh trong Đề cương văn Việt Nam (năm 1943), trong các văn kiện sau đó của
Đảng. Ngay trong Đề cương văn hoá Việt Nam, Đảng ta đã xác định văn hoá là
một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hoá và ba mặt trận này có quan hệ
biện chứng với nhau, tạo thành động lực đưa cách mạng tới thành công. Và cũng
ở đây, văn hoá được xác định “gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật”. Như

vậy, văn là cốt lõi của ý thức xã hội và xây dựng nền văn mới là cốt lõi của việc
xây dựng ý thức xã hội mới. Với quan niệm đó, Đảng ta đã xác định ba phương
châm xây dựng văn mới là: dân tộc, khoa học và đại chúng. Trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại
Đại hội VII (1991), Đảng ta đã chỉ rõ, xã hội mà chúng ta xây dựng là xã hội có
nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mốc đánh giá sự đổi mới toàn
diện trong tư duy về văn của Đảng thể hiện ở Nghị quyết Trung ương 5 khóa
VIII Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc. Trong Văn kiện này, Đảng ta đã khẳng định: trong quá trình xây dựng

19
nền văn mới, chúng ta không chỉ chú ý giữ gìn, kế thừa những giá trị và bản sắc
văn dân tộc, mà còn phải chú trọng tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn của nhân loại.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta khẳng định: “Phát triển
văn hoá, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã
hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là thể hiện rõ nhất tính ưu
việt của chế độ ta…Xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý
thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi, sống
có văn hoá, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính; xây dựng gia đình ấm
no, tiến bộ, hạnh phúc”6.
Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI cua Đảng đã bổ sung phát triển 3
quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII là: Văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu động lực phát triển bền vững đất nước.
Văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; Xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng: Dân tộc, nhân văn, dân chủ
và khoa học; Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ
vai trò quan trọng.

Xây dựng ý thức xã hội mới gắn với việc tăng cường học tập lý luận,
tuyên truyền, giáo dục, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảng trở thành nền tảng và kim
chỉ nam cho nhận thức, hành động của toàn Đảng và nhân dân.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, trong Diễn văn khai mạc, Hồ Chí
Minh khẳng định: “Chúng ta phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tăng
cường giáo dục tư tưởng trong Đảng”. Vấn đề này tiếp tục được Đảng ta khẳng
định qua các thời kỳ cách mạng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, nó được coi
là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Bởi lẽ, để giữ vững
vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh yêu
cầu về năng lực, trình độ chuyên môn, đạo đức cách mạng, đảng viên còn phải
6

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.40, tr.41

20
có phẩm chất chính trị tốt, kiên định lập trường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội… Do vậy, xây dựng ý thức xã hội mới cần tiếp tục tăng cường hoạt động lý
luận, nghiên cứu sâu rộng và có những bổ sung về lý luận để làm phong phú kho
tàng tri thức của chủ nghĩa Mác – Lênin trong tình hình mới.
Xây dựng ý thức xã hội mới cần ý thức sâu sắc sự kết hợp chặt chẽ giữa
“xây” và “chống”. Ý thức xã hội mới là cốt lõi trong đời sống tinh thần xã hội
mới; nó không hình thành một cách tự phát trong lòng xã hội cũ; nó cần được
chủ động nhận thức, xây dựng, truyền bá thành ý thức chung của con người
trong xã hội mới, thành động lực tinh thần của con người trong quá trình xây
dựng xã hội mới. Vì vậy, cần xây dựng ý thức xã hội mới đáp ứng nhu cầu phát
triển đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
Trước hết, đó là tri thức, tình cảm, quyết tâm kiên định con đường xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của

Đảng. Bên cạnh đó, cần trang bị cho con người những tri thức mới của thời đại,
tri thức về kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đặc biệt là những tri thức về
khoa học và công nghệ… Đó là yêu cầu tiên quyết trong quá trình xây dựng xã
hội ta hiện nay. Đi cùng với nó là việc bồi dưỡng lý tưởng sống, hoài bão, ước
mơ, khát vọng cống hiến, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Ngoài ra, cần đẩy mạnh
việc xây dựng và phát huy ý thức làm chủ trong nhân dân, bồi dưỡng và phát
huy lòng yêu nước, ý thức về dân tộc và tinh thần đoàn kết dân tộc; nâng cao ý
thức phòng chống tham nhũng, lãng phí, trước hết là trong đội ngũ cán bộ Đảng
viên. Cùng với việc xây dựng, bồi dưỡng ý thức xã hội mới, cần chống những
biểu hiện cản trở sự nghiệp xây dựng đó. Về hệ tư tưởng, đó là việc tập trung
khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ,
đảng viên với các biểu hiện như: dao động về lý tưởng, mục tiêu và con đường
phát triển của dân tộc; phủ nhận thành quả cách mạng và giá trị truyền thống của
dân tộc; thiếu thống nhất với các quan điểm, chủ trương của Đảng, từ đó nói và
làm không theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; ý thức mất cảnh
giác trước âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch;

21
không kịp thời và kiên quyết phê phán, đấu tranh với những ý kiến, quan điểm
sai trái…Nghị quyết Trung ương 4 khoa XI cũng chỉ rõ: “Thường xuyên chỉ đạo
uốn nắn những nhận thức lệch lạc, mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư
tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng, đấu
tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện cơ hội,
thực dụng, bè phái, cục bộ, phê phán bác bỏ các quan điểm sai trái thù địch, chủ
động đối phó với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực lợi dụng vấn đề tôn giáo,
dân tộc và nhân quyền chống phá cách mạng nước ta”. Không dừng ở góc độ hệ
tư tưởng trong tâm lý xã hội cũng cần có những biểu hiện phải khắc phục. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ
địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ” 7. Hiện nay, chúng ta cần

phải khắc phục những biểu hiện tâm lý vốn được coi là hậu quả của nền kinh tế
tập trung, quan liêu, bao cấp – tâm lý thụ động, trông chờ, ỷ lại, xin cho, đối phó;
khắc phục tâm lý của nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ lâu dài của lịch sử và
hiện vẫn còn tồn tại là tâm lý lạc hậu, kinh nghiệm chủ nghĩa, tuỳ tiện, đố kỵ,
coi thường pháp luật và cả những tâm lý vốn khá phổ biến ở những nước chịu
nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, như tâm lý trọng nam khinh nữ, tâm lý gia
trưởng… Đặc biệt, trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những tâm lý này còn
có nhiều biểu hiện, biến tướng và gây hậu quả nặng nề, biến họ thành những kẻ
cơ hội, cá nhân chủ nghĩa, v.v..
Để xây dựng ý thức xã hội mới – vấn đề cốt lõi của nền tảng tinh thần
xã hội ở nước ta hiện nay là quá trình lâu dài, phức tạp có hiệu quả, chúng ta
phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh công cuộc xây dựng đời sống kinh tế mới, văn hoá
mới, con người mới. Nghiên cứu sự vận động của lịch sử qua các thời kỳ, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã khái quát: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn
tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”. Ý thức xã hội
mới luôn bị chi phối bởi điều kiện sinh hoạt vật chất, điều kiện kinh tế của xã
hội mới. Vì vậy, xây dựng ý thức xã hội mới phải bắt đầu từ việc xây dựng đời
7

Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.142

22
sống vật chất của xã hội mới. Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI của Đảng đã
nêu rõ: “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo
môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực
sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân
thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm
của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”.

Xem thêm: Công Văn 3360 /Tct – Công Văn Số 3360/Bhxh

Những biểu hiện lệch lạc trong đời sống tinh thần ở xã hội ta thời gian qua có
nguyên nhân từ những yếu kém trong công tác tư tưởng, nhưng cũng có nguyên
nhân từ những kết quả còn rất hạn chế trong việc xây dựng nền kinh tế mới. Bên
cạnh đó, xây dựng ý thức xã hội mới cũng phụ thuộc rất nhiều vào kết quả xây
dựng nền văn hoá mới, con người mới, bởi giữa kinh tế, văn hoá và con người
luôn có mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhau, chi phối và ảnh hưởng
qua lại lẫn nhau.
Thứ hai, không ngừng hoàn thiện ý thức xã hội mới theo hướng khoa học,
cách mạng, tiến bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội mới, con người mới. Về
mặt lý luận, chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, kịp
thời làm sáng tỏ những vấn đề lý luận mà cuộc sống đang đặt ra, như vấn đề
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng Đảng
cầm quyền trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần, vấn đề xây dựng Nh à nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Mặt khác, chúng ta cũng cần chú trọng vấn đề kế
thừa và đổi mới những giá trị truyền thống của dân tộc. Đó không chỉ là sự gìn
giữ, bảo lưu các giá trị truyền thống, mà còn tiếp thu có chọn lọc các giá trị tinh
thần được du nhập từ bên ngoài. Quá trình này cần được nhìn nhận một cách cụ
thể trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay. Lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự
hào dân tộc là những giá trị tinh thần truyền thống, song trong điều kiện hiện
nay, nó cần được thể hiện ở tinh thần cần cù, sáng tạo, ý chí quyết tâm vượt khó
để cải tạo cuộc sống, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Tinh
thần đoàn kết dân tộc phải được thể hiện thành tinh thần đồng thuận trên cơ sở
giải quyết hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, xoá bỏ mặc cảm về

23
thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo vì một nước Việt Nam độc lập, thống
nhất, dân gi àu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thứ ba, tăng cường công tác tư tưởng phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo
dục, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong quá trình

tuyên truyền, giáo dục ý thức xã hội mới. Trong công tác tư tưởng, chúng ta cần
bám sát thực tiễn, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và tìm ra những vướng mắc
trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời giải đáp. Tăng
cường vai trò của báo chí, của các phương tiện thông tin đại chúng khác trong
việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, định hướng dư
luận theo chiều hướng tích cực, đồng thời phê phán những quan điểm sai trái,
luận điệu phản động. Trong công tác giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa MácLênin, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức để việc tuyên
truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin hiệu qu

Viết một bình luận