thực hành văn bản tiếng việt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.17 MB, 162 trang )

Đang xem: Thực hành văn bản tiếng việt

NGUYỄN HOÀI NGUYÊN

THỰC HÀNH
VĂN BẢN TIẾNG VIỆT

NGHỆ AN, 2012
MỤC LỤC
1

Chương 1. Khái quát về tiếng Việt
và bộ môn Thực hành văn bản tiếng Việt
1. Khái quát về tiếng Việt
1.1. Tiếng Việt và vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
1.2. Vai trò của tiếng Việt
1.3. Đặc điểm của tiếng Việt
2. Bộ môn Thực hành văn bản tiếng Việt
2.1. Mục đích, yêu cầu
2.2. Các nội dung cơ bản của môn học
Chương 2. Thực hành phân tích và tạo lập văn bản
1. Khái quát về văn bản
1.1. Khái niệm và những đặc điểm chính của văn bản
1.2. Đơn vị văn bản và các loại quan hệ trong văn bản
1.3. Phân loại văn bản
2. Thực hành phân tích văn bản khoa học
2.1. Một số vấn đề về phân tích văn bản
2.2. Thực hành phân tích văn bản khoa học
3. Thực hành tạo lập văn bản thông dụng
3.1. Một số vấn đề chung
3.2. Thực hành tạo lập văn bản thông dụng
Chương 3. Thực hành phân tích và tạo lập đoạn văn

1. Giản yếu về đoạn văn
1.1. Khái niệm, đặc điểm
1.2. Câu chủ đề của đoạn văn
1.3. Cấu trúc của đoạn văn
1.4. Lập luận trong đoạn văn
2. Thực hành phân tích đoạn văn
2.1. Lưu ý khi phân tích đoạn văn
2.2. Thực hành phân tích đoạn văn
3. Thực hành tạo lập đoạn văn
2

3.1. Mục đích, yêu cầu viết đoạn văn
3.2. Các bước viết đoạn văn
3.3. Thực hành tách đoạn, chuyển đoạn, liên kết đoạn
3.4. Các loại lỗi của đoạn văn
Chương 4. Thực hành viết câu trong văn bản
1. Một số vấn đề chung
1.1. Giản yếu về câu
1.2. Yêu cầu về viết câu trong văn bản
2. Luyện viết câu trong văn bản
2.1. Các thao tác viết câu trong văn bản
2.2. Biến đổi câu trong văn bản
3. Các loại lỗi thường gặp về câu
3.1. Lỗi về cấu tạo ngữ pháp
3.2. Lỗi về quan hệ ngữ nghĩa
3.3. Lỗi về dấu câu
3.4. Lỗi về phong cách
Chương 5. Dùng từ và chính tả trong văn bản
1. Dùng từ trong văn bản

1.1. Yêu cầu về dùng từ trong văn bản
1.2. Các thao tác sử dụng từ trong văn bản
1.3. Các loại lỗi dùng từ
2. Chính tả tiếng Việt
2.1. Một số vấn đề chung
2.2. Luyện tập chính tả tiếng Việt

3

LỜI GIỚI THIỆU
Hiện nay, trong khung chương trình đào tạo của một số trường đại học, môn Thực
hành văn bản tiếng Việt (hay Tiếng Việt thực hành), có thể là một môn bắt buộc, có thể là
một môn tự chọn. Dù xây dựng chương trình theo hướng nào, thì có một một thực tế đặt ra:
nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt trong giap tiếp và học tập cho sinh viên là một công
việc không thể xem nhẹ. Đối với những sinh viên theo học các ngành khoa học xã hội và nhân
văn, tri thức tiếng Việt là một phần quan trọng không chỉ trong quá trình học tập các bộ môn ở
trường đại học mà còn là hành trang gắn với nghề nghiệp được đào tạo. Với sinh viên các
khoa thuộc khoa học tự nhiên – kỹ thuật – công nghệ, các kĩ năng tiếng Việt cũng không hề xa
lạ, bởi tiếp nhận và tạo lập các văn bản khoa học là công việc phải tiến hành thường xuyên.
Xuất phát từ thực tế đó, tiến sĩ Nguyễn Hoài Nguyên đã biên soạn giáo trình Thực hành văn
bản tiếng Việt.
Giáo trình được triển khai trong 5 chương, trình bày theo hướng: đi từ văn bản – đơn
vị giao tiếp – đến các đơn vị bộ phận như đoạn văn, câu, từ ngữ, chữ viết và chính tả. Với mỗi
chương, tác giả trình bày những vấn đề lí thuyết cơ bản, ngắn gọn, cô đúc và làm sáng tỏ các
luận điểm lý thuyết bằng việc phân tích những ngữ liệu cụ thể, phù hợp. Bài tập trên lớp và bài
tập về nhà của từng chương là những phần thiết yếu, giúp người học không những củng cố tri
thức, mà quan trọng hơn, có thể tự thực hành các kỹ năng, đáp ứng các yêu cầu về sử dụng
tiếng Việt. Việc phân bố thời gian học trên lớp (gồm lý thuyết và thực hành) và học ở nhà (ôn
tập lý thuyết và làm bài tập) là sự định hướng hết sức cần thiết để người học có kế hoạch thực

hiện chương trình, đáp ứng yêu cầu học tập theo học chế tín chỉ.
Biên soạn giáo trình này, người viết ít nhiều có sự kế thừa kinh nghiệm của những
người đi trước (tác giả của những cuốn Tiếng Việt thực hành từng được in ấn và phát hành thời
gian qua). Tuy nhiên, với mục đích và đối tượng được xác định cụ thể, giáo trình này chắc
chắn sẽ là học liệu cần thiết cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên các ngành khoa học xã hội và
nhân văn, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho những giáo viên dạy thực hành tiếng
Việt trong nhà trường.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn Thực hành văn bản tiếng Việt của tiến sĩ Nguyễn Hoài
Nguyên với độc giả.
TS. Đặng Lưu
Giảng viên bộ môn Ngôn ngữ
Khoa Ngữ văn, Trường đại học Vinh
4

Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ TIẾNG VIỆT
VÀ BỘ MÔN THỰC HÀNH VĂN BẢN TIẾNG VIỆT

1. KHÁI QUÁT VỀ TIẾNG VIỆT
1.1. Tiếng Việt và vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Cuộc sống của con người luôn gắn với hoạt động giao tiếp, trong đó, ngôn ngữ là công cụ
giao tiếp quan trọng bậc nhất. Thế nhưng, chúng ta chưa hiểu chính xác là đã nắm được ngôn
ngữ như thế nào, đã nhận thức thế giới nhờ ngôn ngữ ra sao. Ngôn ngữ đến với mỗi người
bình thường, tự nhiên đến mức ít ai tự hỏi ngôn ngữ là gì. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu
âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong
một cộng đồng người; đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, lưu trữ và truyền đạt
truyền thống lịch sử – văn hóa của một cộng đồng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nói đến
ngôn ngữ là nói đến các ngôn ngữ cụ thể của các dân tộc với tư cách là phương tiện giao tiếp,
chẳng hạn tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt, v.v.. Tiếng Việt là ngôn ngữ của người
Việt (còn gọi người Kinh), là tiếng phổ thông của các dân tộc thiểu số và là ngôn ngữ quốc gia

Việt Nam.
Tiếng Việt của chúng ta giàu và đẹp. Tiếng Việt rất giàu, bởi nó thể hiện đời sống muôn
màu, đời sống tư tưởng và tình cảm phong phú của dân tộc ta; bởi nó phản ánh kinh nghiệm
đấu tranh xã hội, đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm suốt hàng nghìn năm
lịch sử. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp, bởi là thứ tiếng có nhiều nguyên âm và thanh điệu
nên rất mềm mại, uyển chuyển, du dương nói mà như hát. Tiếng ta đẹp còn bởi có lớp từ láy,
các tổ hợp từ cố định (thành ngữ) thể hiện sự đăng đối, hài hòa, gợi hình, gợi cảm. Tiếng ta
đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi cuộc sống của nhân dân ta từ ngàn xưa
tới nay là cao quý. Vẻ giàu đẹp của tiếng Việt được khúc xạ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày
của quần chúng nhân dân, trong các thành ngữ, tục ngữ, ca dao, trong các áng văn chương của
những nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Chẳng hạn: Hỡi cô tát nước bên đàng// Sao cô múc
ánh trăng vàng đổ đi (Ca dao); hay: Long lanh đáy nước in trời// Thành xây khói biếc non
phơi bóng vàng (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Tiếng Việt hiện nay, nhìn chung, có thể diễn tả
5

sâu sắc đời sống tư tưởng và tình cảm đẹp đẽ của dân tộc, có khả năng to lớn trong việc truyền
đạt tri thức văn hóa và khoa học kĩ thuật. Bởi vậy, tiếng Việt ngày càng có địa vị ngang hàng
với các ngôn ngữ phát triển trên thế giới. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Tiếng
nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó,
quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp (Báo Nhân dân, 9-9-1964).
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là gìn giữ và phát triển vốn từ vựng tiếng Việt, nói và
viết đúng ngữ pháp tiếng Việt; giữ gìn bản sắc, tinh hoa phong cách tiếng Việt trong mọi thể
văn. Cụ thể, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, trước hết là nói đúng và viết đúng chuẩn
mực tiếng Việt về ngữ âm và chính tả, từ vựng, ngữ pháp; sau đó là nói hay, viết hay tiếng
Việt trong các phong cách ngôn ngữ khác nhau. Cùng với việc sử dụng là nghiên cứu, xây
dựng và phát triển tiếng Việt thành ngôn ngữ văn hóa chuẩn mực.
1.2. Vai trò của tiếng Việt
1.2.1. Đảm nhiệm các chức năng xã hội
a. Công cụ trao đổi ý kiến trong đời sống chính trị – xã hội

Suốt nghìn năm Bắc thuộc, trong thời kì độc lập và hơn tám mươi năm Pháp xâm lược,
tiếng Việt bị chèn ép, luôn lép vế trước tiếng Hán, tiếng Pháp. Tiếng Việt chỉ tồn tại sau lũy
tre xanh, chủ yếu dùng để bàn việc làng, ít khi được dùng để bàn việc nước. Nhưng từ Cách
mạng tháng Tám, tiếng Việt đã gánh vác đầy đủ chức năng làm công cụ trao đổi ý kiến trong
đời sống chính trị – xã hội của cả nước, và chức năng ấy ngày càng được phát huy theo đà cách
mạng phát triển, đưa mọi tầng lớp nhân dân bước lên vũ đài chính trị, cổ vũ mọi người tích
cực tham gia hai cuộc cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
b. Công cụ giáo dục quốc dân
Trước năm 1945, tiếng Việt chỉ được dùng vào công việc giáo dục ở ba lớp đầu của cấp tiểu
học, còn các lớp tiếp sau phải dùng song ngữ Việt – Pháp. Chính sách ngôn ngữ ấy cùng với
các chính sách ngu dân khác hạn chế hoạt động giáo dục, đẩy nhân dân ta vào tình trạng mù
chữ. Nhưng liền sau Cách mạng tháng Tám, công việc trước nhất của chính phủ và Hồ Chủ
tịch là thanh toán nạn mù chữ, tiến hành sự nghiệp giáo dục ở mọi cấp bằng tiếng Việt. Nhờ
vậy, sự nghiệp giáo dục Việt Nam có bước phát triển rất nhanh. Chúng ta đã xóa mù trong một
thời gian ngắn; đã dùng tiếng Việt giảng dạy ở mọi cấp học từ phổ thông, đại học và sau đại
học. Hiện nay, tiếng Việt có thể truyền đạt được mọi tư tưởng cao sâu, hiện đại trong các
ngành khoa học, kĩ thuật và khoa học xã hội nhân văn, trở thành công cụ sắc bén trong sự
nghiệp hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà.
6

c. Phục vụ công tác hành chính – pháp luật
Chức năng phục vụ công tác hành chính – pháp luật của tiếng Việt cũng được mở rộng gấp
nhiều lần so với trước. Tất cả các văn bản pháp quy (hiến pháp, các bộ luật, pháp lệnh, quyết
định, nghị định, chỉ thị, thông tư, công văn, báo cáo, v.v.), mọi sự thảo luận, công bố từ Quốc
hội, Chính phủ đến hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp, từ Trung ương đến địa
phương đều được soạn thảo bằng tiếng Việt.
d. Tiếng phổ thông cho các dân tộc thiểu số
Trước đây, tiếng Việt được các dân tộc thiểu số biết đến nhưng trong phạm vi hẹp. Từ sau
năm 1945, Việt Nam là quốc gia gồm 54 dân tộc anh em cùng chung vận mệnh, cùng chung

mục tiêu phấn đấu nên sự giao lưu, tiếp xúc giữa các dân tộc ít người với dân tộc Việt (Kinh),
giữa các dân tộc ít người với nhau chặt chẽ hơn các thời kì trước. Thêm nữa, chính sách ngôn
ngữ của Đảng và Nhà nước hết sức đúng đắn, đó là chính sách bình đẳng và tự nguyện. Do đó,
thực tế, các dân tộc ít người vừa sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình, vừa tự nguyện dùng tiếng Việt
để giao tiếp. Như vậy, chức năng xã hội của tiếng Việt được mở rộng thêm: làm công cụ giao
tiếp của tất cả các dân tộc sống chung trên lãnh thổ Việt Nam. Tiếng Việt có điều kiện ảnh
hưởng tới sự phát triển của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số.
e. Chất liệu của sáng tạo nghệ thuật
Trước cách mạng, nền văn học Việt Nam thực sự phát triển song đó là một nền văn học
chưa thực sự mang tính dân tộc. Các tác phẩm văn chương vừa được sáng tác bằng chất liệu
tiếng Việt (văn học dân gian, các tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, v.v.), vừa bằng ngôn ngữ xa lạ với ngôn ngữ quần
chúng (tiếng Hán – Việt, chữ Hán). Sau cách mạng, một nền văn học mới đã hình thành. Nó
phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ, khắc họa những hình tượng sâu sắc bằng chất liệu
tiếng Việt. Vì thế, tiếng Việt – yếu tố thứ nhất của văn học – đã trở thành một ngôn ngữ toàn
năng của một nền văn học đa dạng, phong phú, hiện đại.
g. Công cụ truyền thông, xuất bản
Dưới chế độ cũ, báo chí truyền thông, xuất bản có phần xa lạ đối với quần chúng nhân dân.
Từ sau cách mạng, sự nghiệp báo chí, truyền thông đại chúng và xuất bản bằng tiếng Việt đã
phát triển mạnh mẽ. Do đó, tiếng Việt mở rộng thêm chức năng xã hội làm công cụ của công
tác thông tin đại chúng, phát triển sự nghiệp báo chí và xuất bản.
1.2.2. Thể hiện nếp nghĩ, tình cảm, tâm hồn dân tộc
a. Tiếng Việt thể hiện cách nghĩ, cách cảm của người Việt Nam
7

Suy nghĩ của mỗi người bao giờ cũng xuất phát từ ngôn ngữ, do ngôn ngữ mẹ đẻ quyết
định. Tiếng Việt ngày nay có thể biểu đạt đầy đủ các giá trị tinh thần của một dân tộc đã đạt
tới trình độ văn hóa tương đối cao, có khả năng ảnh hưởng tới văn hóa của một số dân tộc
khác. Tiếng Việt là một ngôn ngữ phát triển hoàn thiện vì nó thỏa mãn mọi nhu cầu giao tiếp

xã hội, thể hiện một cách sâu sắc nếp nghĩ, cách cảm, khát vọng của con người Việt Nam. Có
thể thấy rõ điều đó trong các sáng tác dân gian như tục ngữ, ca dao, hò vè, v.v. hoặc trong các
tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ. Đó chính là lời ăn tiếng nói của nhân dân kết tinh từ bao
đời, thể hiện trí tuệ và tâm hồn của người Việt.
b. Tiếng Việt chứa đựng văn hóa dân tộc
Ngôn ngữ là một thành tố của văn hóa, nhưng đồng thời cũng là địa chỉ của văn hóa. Thực
tế, tiếng Việt thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Cuộc sống, lịch sử, kiểu lựa
chọn của cộng đồng trong tất cả các lĩnh vực xã hội đều được khúc xạ trong tiếng Việt, qua
các bình diện: ngữ âm (giàu nhạc tính), từ vựng (đa dạng, phong phú, mở), ngữ pháp (mềm
dẻo, linh hoạt).
1.3. Đặc điểm cơ bản của tiếng Việt
1.3.1. Tiếng Việt là ngôn ngữ âm tiết tính, đa thanh điệu
a. Đặc điểm âm tiết tính được thể hiện ở các khía cạnh sau:
– Trong dòng âm thanh, các âm tiết được phát âm thành những khúc đoạn riêng rẽ, tách
bạch (có đường ranh giới dứt khoát, rõ ràng), không đọc nối như tiếng Nga, tiếng Anh, v.v..
Còn khi viết, các âm tiết được viết rời (giữa các con chữ ghi âm tiết có khoảng cách đều nhau),
không viết liền. So sánh: từ sinh viên, trong tiếng Việt, đọc/ phát âm rời thành hai đoạn âm
sinh / viên và viết rời; trong tiếng Anh, cũng hai âm tiết nhưng đọc/ phát âm nối liền, viết liền:
student.
– Âm tiết tiếng Việt, phần lớn trùng với đơn vị nhỏ nhất mà có nghĩa, tức hình vị; đồng thời,
những đơn vị ấy có thể vận dụng độc lập để đặt câu, nghĩa là ranh giới âm tiết, hình vị và từ
(đơn tiết) trùng nhau (ví dụ: nhà, xe, ăn, học, tốt, xấu, v.v.). Do vậy, âm tiết, còn gọi là tiếng,
vừa có thể là từ nên có tính tự lập. So sánh: tiếng Việt: cậu/bé (hai âm tiết = 2 hình vị); tiếng
Anh: boy/s và (2 hình vị, 1 âm tiết).
b. Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu, gồm 6 thanh (tiếng Lào có 5 thanh, tiếng Hán 4
thanh, tiếng Miến Điện 3 thanh). Ví dụ: ma, mà, mã, mả, má, mạ. Thanh điệu là đặc trưng độ
cao và có tác dụng khu biệt nghĩa cho các âm tiết, góp phần quan trọng làm nên nhạc tính cho
tiếng Việt.
8

1.3.2. Từ tiếng Việt không biến đổi hình thái
Nếu ở một số ngôn ngữ như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, từ được sử dụng trong lời nói
có sự biến đổi hình thái (hình thức âm thanh) để biểu thị các phạm trù ngữ pháp (giống, số,
cách, thời, thể, thức) thì trong tiếng Việt, mỗi từ là một diện mạo cố định, không biển đổi hình
thức âm thanh dù là ở dạng từ điển hay trong các câu nói (ngữ cảnh). So sánh, (1) ở dạng độc
lập, tiếng Việt: tôi, yêu, cô ấy; tiếng Anh: I, love, she; (2) Ở dạng câu nói, tiếng Việt: Tôi yêu
cô ấy// Cô ấy yêu tôi. Còn tiếng Anh: I love her// She loves me.
1.3.3. Đặc trưng về cấu tạo từ, về mặt ngữ pháp
Trong tiếng Việt, trật tự, hư từ, ngữ điệu có vai trò hết sức quan trọng thể hiện ý nghĩa ngữ
pháp, trong việc tổ chức các đơn vị giao tiếp.
a. Trật tự, nghĩa là sự xuất hiện kế tiếp theo thứ tự trước/sau của các yếu tố. So sánh, ở cấp độ
từ: quốc vương / vương quốc, hành quân / quân hành, gió trăng / trăng gió, v.v..; ở cấp độ
câu: Mẹ thương con / Con thương mẹ, v.v. sẽ thấy sự khác biệt rõ rệt.
b. Hư từ là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ. Chẳng hạn: và, hay, hoặc,
còn, v.v. (quan hệ đẳng lập); của, ở, bằng, v.v. (quan hệ chính phụ). So sánh: tính cách người
lớn/ tính cách của người lớn; hay: sách của thư viện/ sách ở thư viện, v.v..
c. Ngữ điệu là tổng hòa những sự diễn biến âm thanh (độ dài, độ mạnh, độ cao) nhằm thể hiện
và phân biệt các câu nói. Ví dụ: câu nói Tất cả im lặng, nếu xuống giọng ở cuối (độ cao), là
câu tường thuật (khi viết dùng dấu chấm); còn nếu nhấn giọng (độ mạnh) sẽ là câu mệnh lệnh
(khi viết dùng dấu chấm than).
2. BỘ MÔN THỰC HÀNH VĂN BẢN TIẾNG VIỆT
2.1. Mục đích, yêu cầu
2.1.1. Mục đích
Trong trường đại học, bộ môn Thực hành văn bản tiếng Việt hướng đến các mục đích:
– Hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về tiếng Việt, về lí thuyết tiếp nhận và tạo lập văn bản
tiếng Việt.
– Giúp người học có khả năng phân tích, lí giải các hiện tượng ngôn ngữ trong sử dụng một
cách hệ thống, logíc.
– Rèn luyện năng lực sử dụng tiếng Việt, rèn luyện kĩ năng soạn thảo các loại văn bản nhật

dụng, các văn bản theo đặc trưng chuyên ngành.
– Bồi dưỡng tình cảm quý mến và trân trọng tiếng mẹ đẻ, nâng cao ý thức giữ gìn và phát
triển “thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc”.
9

2.1.2. Yêu cầu
– Người học có thái độ học tập đúng đắn, nắm vững mục đích của môn học Thực hành văn
bản tiếng Việt để xác định phương pháp học tập phù hợp.
– Có ý thức tự giác, nghiêm túc rèn luyện kĩ năng thực hành phân tích và tạo lập văn bản
thuộc các phong cách ngôn ngữ; thực hiện đầy đủ các nội dung thảo luận và bài tập thực hành
trên lớp và ở nhà.
– Chú trọng rèn luyện kĩ năng phân tích và tạo lập các loại văn bản nhật dụng, văn bản chuyên
ngành.
– Có khả năng phát hiện và sửa chữa các loại lỗi của văn bản.
2.2. Các nội dung cơ bản của môn học
Về nội dung của môn học, ngoài những nội dung chính theo chương trình chung (của Bộ
giáo dục và đào tạo), giáo trình này, chúng tôi còn chú ý đến những lỗi sử dụng ngôn ngữ mà
sinh viên thường hay mắc phải trong việc tiếp nhận và tạo lập văn bản. Ngoài chương 1 trình
bày những kiến thức nhập môn, các nội dung chính trình bày trong bốn chương tiếp theo:
Chương 2. Thực hành phân tích và tạo lập văn bản, trình bày giản yếu về văn bản (khái
niệm, đặc trưng, các loại văn bản); trọng tâm thực hành là kĩ năng phân tích và tạo lập văn
bản, (chú trọng văn bản hành chính và văn bản khoa học).
Chương 3. Thực hành phân tích và xây dựng đoạn văn, thuyết minh vắn tắt lí thuyết đoạn
văn (khái niệm, cấu trúc, câu chủ đề, các loại đoạn văn); tập trung cho việc rèn luyện kĩ năng
tổ chức đoạn và liên kết đoạn.
Chương 4. Luyện câu trong văn bản, trình bày sơ lược lí thuyết về câu (các loại câu về cấu
trúc và mục đích giao tiếp, câu và phát ngôn, biến đổi câu); rèn luyện viết câu trong văn bản,
phát hiện lỗi và sửa chữa câu sai.
Chương 5. Rèn luyện dùng từ và chính tả, tập trung rèn luyện các thao tác dùng từ (lựa

chọn, thay thế); rèn luyện viết đúng chính tả trong văn bản; phát hiện và sửa chữa các lỗi dùng
từ và chính tả.
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH
* Phần thảo luận và thực hành trên lớp
1. Tại sao nói Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ? Nêu vị thế của tiếng Việt
trong các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam.

10

2. Trình bày vai trò của tiếng Việt. Liên hệ việc sử dụng tiếng Việt trong nói/ viết hàng ngày
của bản thân.
3. Phân tích các đặc điểm cơ bản của tiếng Việt (có dẫn chứng minh họa).
4. Phân tích và chứng minh câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tiếng nói là thứ của cải vô
cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, bảo vệ nó, làm cho nó
phát triển ngày càng rộng khắp.
5. Trình bày cách hiểu của anh/ chị về câu: Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho
vừa lòng nhau.
6. Nêu những câu tục ngữ, ca dao, châm ngôn, những thành ngữ nói về ngôn ngữ và việc sử
dụng ngôn ngữ.
* Phần tự học ở nhà
1. Nêu nhận thức của anh/ chị về bộ môn Thực hành văn bản tiếng Việt. Những định hướng
của anh/ chị khi học bộ môn này.
2. Đọc các văn bản/ đoạn trích sau đây để cảm nhận tiếng Việt giàu đẹp, có bản sắc riêng.

a.

Đồng đăng có phố Kì Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
Ai lên xứ Lạng cùng anh,

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em.
Tay cầm bầu rượu, nắm nem,
Mảng vui quên hết lời em dặn dò

b.

(Ca dao)

KIỀU TIỄN BIỆT THÚC SINH
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường!
(Nguyễn Du – Truyện Kiều)
11

c.

CHIỀU
Hồ Dzếnh
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây.
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây

Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay
Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay trên cây…

d.

TỲ BÀ
Bích Khê
Nàng ơi! Tay đêm đương giăng mềm
Tay đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
12

Ôi nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đương hương gây đê mê
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Dây đàn yêu đương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu: em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung thương

Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Tìm đâu đào nguyên cho xa xôi
Đào nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông

e.

CÁT ĐỢI
Nguyễn Việt Chiến
Cát chiều nay sẫm bên sông
Thương con đò ngược mùa đông chưa về
13

Lối mòn bạc cỏ chân đê
Chiều mòn rỗng tiếng chim gì kêu đau
Sóng đem từ bến sông nào
Theo trăng về thức dưới màu mây xưa
Tôi hoang vu, cát hoang vu

Trăng là người khách qua đò đêm nay
Cô đơn xuống một đò đầy
Tôi chờ em phía bên này mùa đông
Cát còn bay trắng bên sông
Người còn đi trắng mùa mong ước này
Tôi cầm hạt cát trên tay
Đêm không còn ấm như ngày có em
Tôi cầm cả chính tôi lên
Câu thơ nhặt được phía miền quạnh hiu
Câu thơ như cát mỗi chiều
Mang theo chút ấm nắng nghèo vào đêm
PHẦN HƯỚNG DẪN HỌC TẬP CHƯƠNG 1
1. Tài liệu cần đọc
(1) Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Văn Nguyên, Tiếng Việt thực hành,
Nxb Nghệ An, 2009, từ trang 7 đến trang 13.
(2) Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, Tiếng Việt thực hành, Nxb Giáo dục, H. 1997,
từ trang 8 đến trang 21.
2. Nội dung trọng tâm cần nắm
– Vai trò và các đặc điểm cơ bản của tiếng Việt.
– Mục đích, yêu cầu và nội dung chương trình môn học
3. Cách tổ chức học
– Trên lớp: nghe giảng, thảo luận nhóm các nội dung thảo luận thực hành tại lớp.
– Tự học: làm các bài tập ở cuối bài học.

14

Chương 2. THỰC HÀNH PHÂN TÍCH VÀ TẠO LẬP VĂN BẢN
1. KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN
1.1. Khái niệm và những đặc điểm chính của văn bản

1.1.1. Khái niệm văn bản
a. Đơn vị giao tiếp của ngôn ngữ
Từ lâu, chúng ta xem câu là đơn vị hoàn chỉnh nhất, đơn vị cuối cùng của ngôn ngữ dùng
để giao tiếp. Thực tế không phải như vậy, bởi vì, đơn vị dùng để giao tiếp là văn bản. Khi giao
tiếp, người ta tạo ra văn bản và chính các văn bản ấy lại trở thành công cụ chuyển tải các ý
tưởng, cảm xúc, làm cho hoạt động giao tiếp được xác lập. Vậy là, có thể nói, văn bản vừa là
sản phẩm, vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp.
Xét các ví dụ:
(1) Đàn cá hồi gặp thác phải nghỉ lại lấy sức để sáng mai vượt sóng. Những đôi vây xòe ra
như đôi cánh. Nước tung lên thành những búi trắng như tơ. Mặt trời vừa nhô lên. Suốt đêm,
thác réo điên cuồng. Dòng thác óng ánh sáng rực dưới nắng. Suốt đêm đàn cá rậm rịch.
Những con cá hồi lấy đà lao vút lên như chim. Đậu “chân” bên kia ngọn thác, chúng chưa kịp
chờ cho cơn choáng đi qua, lại hối hả lên đường. Lần lượt, chúng vượt qua thác nước.

(2)

CÁ HỒI VƯỢT THÁC

Đàn cá hồi gặp thác phải nghỉ lại lấy sức để sáng mai vượt sóng. Suốt đêm, thác réo điên
cuồng. Nước tung lên thành những búi trắng như tơ. Suốt đêm, đàn cá rậm rịch.
Mặt trời vừa nhô lên. Dòng thác óng ánh sáng rực dưới nắng. Tiếng nước xối gầm vang.
Những con cá hồi lấy đà lao vút lên như chim. Chúng xé toạc màn mưa bạc trắng. Những đôi
vây xòe ra như đôi cánh. Lần lượt, chúng vượt qua thác nước.
Đàn cá hồi vượt thác an toàn. Đậu “chân” bên kia ngọn thác, chúng chưa kịp chờ cho cơn
choáng đi qua, lại hối hả lên đường.
(Nguyễn Phan Hách)

15

Xem thêm: Bài Báo Cáo Thực Tập Tour Miền Tây Của Học Sinh Lớp Hướng Dẫn Du Lịch K2B

Tìm hiểu các ví dụ trên, ta thấy: ở mỗi chuỗi câu đều có nhiều câu; mỗi câu trong đó đều có
nghĩa, thể hiện một thông báo nhất định; các câu đều đúng ngữ pháp. Nhưng hai chuỗi câu
trên có nhiều điểm khác nhau: ở (1) là chuỗi câu, trong đó, mỗi câu diễn đạt một ý nhưng các
ý lan man không tạo nên thông tin hoàn chỉnh; còn ở (2) là chuỗi câu, mỗi câu là một ý nhưng
các ý liên quan với nhau, đều hướng đến một nội dung khái quát tạo nên một thông tin trọn
vẹn, logic. Còn nữa, ở (1) chưa có hình thức hoàn chỉnh, chỉ là một tập hợp câu đứng cạnh
nhau; trong khi đó, ở (2) có hình thức rõ ràng, mạch lạc và hoàn chỉnh: có tiêu đề, có phần mở,
phần thân và phần kết. Chuỗi (2) có thể dùng để giao tiếp mà không một điều kiện nào khác.
Có thể xem chuỗi (2) là một văn bản.
Như vậy, các câu đúng và độ dài không phải là điều kiện quyết định một chuỗi câu nào đó
thành văn bản. Văn bản phải là một tập hợp câu kết hợp theo một phương thức nhất định nhằm
xác lập một thông tin trọn vẹn.
b. Định nghĩa văn bản
Hiện tại, khái niệm văn bản được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, văn bản chỉ
sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở cả hai hình thức nói và viết; còn theo nghĩa
hẹp, văn bản chỉ sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ tồn tại ở dạng viết. Liên quan đến văn bản
còn có các khái niệm ngôn bản, diễn ngôn, v.v..
Có thể định nghĩa văn bản như sau:
Văn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, chủ yếu tồn tại ở
dạng viết, thường là một tập hợp câu có tính liên kết chặt chẽ, trọn vẹn về nội dung, hoàn
chỉnh về hình thức, độc lập trong giao tiếp và có một hướng đích nhất định.
1.1.2. Những đặc điểm chính của văn bản
a. Tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức
Văn bản là một thể thống nhất hoàn chỉnh về nội dung và hình thức. Về nội dung, văn bản
là đơn vị lời nói có nội dung thông tin trọn vẹn: làm cho người khác hiểu được một sự việc,
một tư tưởng hay một tình cảm nào đó, tức là có tính nhất quán về chủ đề. Về hình thức, văn
bản có kết cấu hoàn chỉnh gồm tiêu đề, các phần mở đầu, triển khai và kết thúc; có hàng loạt
các dấu hiệu liên kết (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, v.v.) để biểu thị mối liên hệ ràng buộc lẫn
nhau giữa các tạo tố, các thành tố, các phần trong tính chính thể văn bản.
b. Tính liên kết chặt chẽ, mạch lạc

Liên kết chỉ có ở cấp độ văn bản, là thuộc tính đặc thù của văn bản. Liên kết, đó là mạng
lưới các mối quan hệ qua lại giữa các câu, các đoạn, các phần của văn bản. Liên kết văn bản
16

thể hiện ở hai mặt: liên kết nội dung và liên kết hình thức. Liên kết nội dung là mạng lưới liên
hệ về logic và ngữ nghĩa giữa các câu, các đoạn, các phần hướng về cùng một chủ đề. Nếu
không có liên kết nội dung thì văn bản sẽ mắc lỗi chủ đề, hoặc lỗi logic. Liên kết hình thức là
sử dụng các phương thức và phương tiện ngôn ngữ để gắn các câu thành đoạn, các đoạn thành
các phần, các phần thành văn bản. Liên kết hình thức là để phục vụ liên kết nội dung.
c. Tính hướng đích
Mỗi văn bản đều hướng tới một mục đích nhất định. Mục đích của văn bản có thể được bộc
lộ một cách trực tiếp (thông tin hiển ngôn), hoặc gián tiếp (thông tin hàm ngôn). Cách bộc lộ
trực tiếp và/hoặc gián tiếp chi phối cách tổ chức văn bản (việc chọn và cách thức tổ chức các
chất liệu nội dung, việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ).
1.2. Đơn vị của văn bản và các loại quan hệ trong văn bản
1.2.1. Đơn vị của văn bản
Không tính đến các văn bản đặc biệt kiểu như Uống nước nhớ nguồn (tục ngữ), Hỡi cô tát
nước bên đàng// Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi (ca dao), hoặc các văn bản có độ dài gồm
nhiều tập sách, như Những người khốn khổ (tiểu thuyết, 4 tập) v.v. thì văn bản là một cấu trúc
gồm các tổ hợp đoạn, mục, chương, phần, trong đó, tổ hợp đoạn có tính thông dụng và định
hình nhất. Ở dạng nói, đoạn được gọi là đoạn lời, còn ở dạng viết, đoạn được gọi là đoạn văn.
Nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp văn bản cho rằng đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo lập văn bản,
vừa phụ thuộc vừa có tính độc lập trong cấu trúc văn bản.
1.2.2. Các loại quan hệ của văn bản
a. Quan hệ hướng nội
Quan hệ hướng nội là quan hệ trong nội tại văn bản. Đó là quan hệ giữa các câu, các đoạn,
các phần, quan hệ giữa các thành tố nội dung chi tiết với các chủ đề bộ phận và giữa các chủ
đề bộ phận với chủ đề văn bản. Tìm hiểu ví dụ sau:
BIỂN ĐẸP

(1) Biển nhiều khi cũng đẹp, một vẻ đẹp nồng nàn, đắm say. Nếu chú ý quan sát, ta sẽ lí giải
được vì sao biển đẹp.
(2) Buổi sớm nắng sáng, những cánh buồm nâu trên biển được nắng chiếu vào, hồng rực
lên như đàn bướm múa lượn giữa trời xanh. Bọt sóng trắng xóa mênh mông. Có buổi sớm
nắng mờ, biển bốc hơi nước, không nom thấy núi xa, chỉ một màu trắng đục. Không có thuyền,
không có sóng, không có mây, không có sắc biếc của da trời.

17

(3) Có một buổi chiều, gió mùa đông bắc vừa dừng. Biển lặng, đỏ đục, dày như mâm bánh
đúc, loáng thoáng những con thuyền như những hạt lạc ai đem rắc lên trên. Lại đến một buổi
chiều, nắng tàn, mát dịu. Biển xanh veo màu mảnh chai. Những núi xa lam nhạt pha màu
trắng sữa. Không có gió mà sóng cứ vỗ đều đều, rì rầm. Những con sóng nhè nhẹ liếm trên bãi
cát, bọt sóng màu bưởi đào.
(4) Thế đấy, biển rất đẹp, ai cũng thấy thế. Nhưng có một điều ít ai chú ý: vẻ đẹp của biển
phần lớn là do mây, trời và ánh sáng tạo nên.
(Vũ Tú Nam)
ta thấy, giữa tiêu đề Biển đẹp với toàn bộ nội dung được thể hiện trong các câu, hoặc giữa
các phần mở đầu (đoạn 1), triển khai (các đoạn 2, 3) và phần kết thúc (đoạn 4) đều gắn bó chặt
chẽ với nhau.
b. Quan hệ hướng ngoại
Quan hệ hướng ngoại là quan hệ giữa văn bản với hiện thực được nói tới, với người tạo lập
và tiếp nhận văn bản, giữa văn bản với môi trường văn hóa, xã hội, lịch sử, v.v. trong đó văn
bản được sản sinh.
Xét ví dụ Biển đẹp, ta thấy, những vẻ đẹp của biển mà văn bản miêu tả là phù hợp với thực
tế. Vẻ đẹp của biển thì ai cũng có thể nhận ra, nhưng lí giải vì sao biển đẹp thì người đọc có
trải nghiệm mới thấy được.
1.3. Phân loại văn bản
1.3.1. Dựa vào hình thức tồn tại, có 2 loại: văn bản dạng nói/ văn bản dạng viết.

a. Văn bản dạng nói (văn bản hội thoại) bao gồm các cuộc trò chuyện hàng ngày, đàm phán,
thảo luận, giảng bài, phát biểu ý kiến, v.v.. Đặc điểm ngôn ngữ: tính thông tục của từ ngữ và
câu, tính ngắn gọn, tỉnh lược, nói lửng, không liên tục, sử dụng ngữ điệu tự nhiên, sinh động;
sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ bổ trợ (cử chỉ điệu bộ, nét mặt, ánh mắt, tư thế cơ thể, v.v.).
b. Văn bản dạng viết (văn bản diễn thoại) bao gồm các loại văn bản được viết, in ấn trên các
chất liệu có mặt phẳng, trên vi tính, v.v.. Đặc điểm ngôn ngữ: từ ngữ sách vở, trau chuốt văn
vẻ, câu văn thường mở rộng, thường xuyên sử dụng các phương tiện liên kết, v.v..
1.3.2. Dựa vào phong cách chức năng, có các loại: văn bản hành chính, văn bản khoa học, văn
bản chính luận, văn bản báo chí, văn bản nghệ thuật.
a. Văn bản hành chính
– Văn bản hành chính là loại văn bản dùng trong các hoạt động tổ chức, quản lí, điều hành xã
hội, phục vụ giao tiếp trong lĩnh vực hành chính – công vụ (giữa các cơ quan nhà nước với
18

nhau và giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân, giữa các tổ chức với nhau, và với nhân dân,
v.v.)
– Các loại văn bản hành chính gồm: văn bản quy phạm pháp luật (hiến pháp, các bộ luật, nghị
định, chỉ chị, thông tư, v.v.), văn bản chuyên môn (gắn với các lĩnh vực, các ngành), văn bản
hành chính thông thường (đơn từ, biên bản, đề án, hợp đồng, báo cáo, công văn, văn bằng,
chứng chỉ, v.v.).
– Đặc điểm cơ bản của văn bản hành chính: tính quy phạm, khuôn mẫu; tính chính xác, minh
bạch và nghiêm túc; tính hiệu lực cao.
– Đặc điểm ngôn ngữ
* Về từ ngữ, sử dụng phổ biến các danh từ riêng, các tổ hợp từ chỉ tên riêng (chỉ người, tổ
chức, địa danh, tên người gọi theo chức trách trong quan hệ hành chính – công vụ, v.v.); sử
dụng thường xuyên các quán ngữ, những từ ngữ thuộc thể thức công vụ; sử dụng phổ biến lớp
từ Hán-Việt. Từ ngữ được sử dụng đòi hỏi chính xác, chặt chẽ, đơn nghĩa, trung hòa biểu cảm.
* Về cú pháp và diễn đạt, chỉ sử dụng câu tường thuật và câu cầu khiến; có thể sử dụng kết
hợp câu đơn và câu phức, dùng câu không đầy đủ thành phần ngữ pháp; có thể có những quy

định về chữ viết, cách bố trí văn bản. Văn bản hành chính thường trình bày theo lối diễn dịch,
hoặc quy nạp.
b. Văn bản khoa học
– Văn bản khoa học là những văn bản phản ánh hoạt động trí tuệ, nhận thức, có chức năng
chủ yếu là thông báo và chứng minh, dùng trong lĩnh vực hoạt động khoa học.
– Các loại văn bản khoa học gồm: các văn bản chuyên sâu (công trình khoa học, chuyên luận,
luận án, luận văn, v.v.); các văn bản giáo khoa (giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu dạy học, tài
liệu tham khảo trong nhà trường, v.v.); các văn bản phổ cập khoa học (bài báo, tài liệu phổ
biến, thông báo khoa học, v.v.).
– Đặc điểm của văn bản khoa học
Văn bản khoa học có tính trừu tượng – khái quát, bởi chức năng của nó là thông báo, chứng
minh chân lí, những tính quy luật phát hiện bằng tư duy khoa học. Văn bản khoa học còn có
tính chính xác – khách quan và tính logíc nghiêm ngặt (duy lí) vì nó được xây dựng bằng
những phán đoán, suy lí chính xác, logíc.
– Đặc điểm ngôn ngữ
* Về từ ngữ, các từ ngữ có nghĩa chính xác, đơn nghĩa, trung hòa về biểu cảm; sử dụng
nhiều thuật ngữ chuyên ngành, những từ công cụ, từ có nghĩa trừu tượng. Từ loại được dùng
19

phổ biến là danh từ (xu hướng định danh hóa các sự kiện, hoạt động, tính chất, v.v.) và đại từ
(thường mang ý nghĩa khái quát, dùng chủ yếu ngôi ba và ngôi nhất số nhiều).
* Về cú pháp, câu văn có kết cấu chặt chẽ, rõ ràng (có thể dùng cả câu khuyết chủ ngữ hoặc
chủ ngữ không xác định); sử dụng chủ yếu câu tường thuật. Loại câu phức hợp, đặc biệt loại
câu ghép chính phụ có các cặp quan hệ từ hô ứng (chỉ quan hệ nguyên nhân, nhượng bộ, tăng
tiến, v.v.) cũng được sử dụng rộng rãi.
* Về kết cấu và diễn đạt, văn bản khoa học thường được xây dựng theo một thể thức
nghiêm ngặt (chẳng hạn, một bài báo có các phần: 1/ tính thời sự của vấn đề, 2/ trình bày hệ
thống nội dung vấn đề kèm theo phân tích, lí giải, nhận xét, 3/ đưa ra những kết luận (hệ quả
của phần thứ hai). Diễn đạt trong văn bản khoa học phải mạch lạc, khúc chiết, logíc.

c. Văn bản chính luận
– Văn bản chính luận là loại văn bản trình bày, giải thích, đánh giá, bày tỏ thái độ đối với
những vấn đề nảy sinh trong đời sống chính trị – xã hội (chiến tranh, hòa bình, lẽ sống, hạnh
phúc, lao động, môi trường, v.v.). Văn bản chính luận có chức năng thông tin, tuyên truyền,
thuyết phục, đem lại cho người tiếp nhận một cách nhìn, một thái độ.
– Các loại văn bản chính luận gồm: các văn bản hiệu triệu (báo cáo chính trị, cương lĩnh của
một tổ chức, tuyên ngôn độc lập, lời kêu gọi, v.v.); các văn bản bình giá (bình luận, xã luận
trên các phương tiện truyền thông, các ý kiến tham luận đại hội, hội nghị, mít tinh, v.v.).
– Đặc điểm của văn bản chính luận
Văn bản chính luận có các đặc điểm là tính bình giá công khai (tính khuynh hướng), tính lập
luận chặt chẽ (thuyết phục người đọc/người nghe bằng những lí lẽ sắc bén, những dẫn chứng
xác thực, sắp xếp bằng một trình tự mạch lạc) và tính biểu cảm (người viết/nói bộc lộ cảm xúc
chân thành, sâu sắc qua các cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh).
– Đặc điểm ngôn ngữ
* Về từ ngữ, ngoài lớp từ toàn dân, còn dùng phổ biến lớp từ chính trị, lớp từ có tính chất
thuật ngữ của các ngành khoa học; có thể sử dụng lớp từ ngữ giàu màu sắc tu từ (từ khẩu ngữ,
từ sách vở).
* Về cú pháp và diễn đạt, dùng nhiều câu tường thuật và câu cầu khiến (không dùng câu hỏi
và câu cảm thán); kết hợp linh hoạt câu ngắn và câu dài (khẳng định, đánh giá dùng câu ngắn,
còn trình bày, bàn luận dùng câu dài). Về cách diễn đạt, văn bản chính luận, một mặt, đòi hỏi
trình bày vấn đề mạch lạc, logíc, mặt khác, có thể sử dụng các phương tiện biểu cảm (so sánh,
ẩn dụ, hoán dụ tu từ, v.v.), các biện pháp tu từ (lặp cú pháp, sóng đôi, v.v.).
20

d. Văn bản báo chí
– Văn bản báo chí là loại văn bản có chức năng cung cấp thông tin thời sự (cung cấp tin tức,
phản ánh công luận, thông tin – quảng cáo) và điều chỉnh dư luận xã hội. Như vậy, văn bản
báo chí hướng đến giao tiếp lí trí và tác động trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo
viết (ấn phẩm), báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình), báo mạng (trực tuyến).

– Đặc điểm nổi bật của văn bản báo chí là tính thời sự (tin giờ chót, tin cuối ngày, bản tin
không giờ, nhật báo, v.v.), tính đại chúng (dành cho số đông, dành cho mỗi tầng lớp người,
từng lứa tuổi, v.v.), tính hấp dẫn (bắt mắt bằng nhiều hình thức). Ngôn ngữ báo chí cũng
hướng đến những đặc điểm này.
– Đặc điểm ngôn ngữ báo chí
* Về từ ngữ, sử dụng phổ biến các danh từ riêng (chỉ người, địa danh); thường sử dụng lớp
từ ngữ có cấu tạo đặc biệt thể hiện cảm xúc, có màu sắc biểu cảm rõ rệt (đứng chân, trừng phạt
kinh tế, thời cơ và thách thức, dính líu, tiếp tay, trả đũa, thiện chí hòa bình, v.v.); lớp từ nghề
nghiệp (giật tít, săn tin, kênh thông tin, hãng tin, đưa tin, tiết lộ, hãng thông tấn, v.v.).
* Về cú pháp và diễn đạt, sử dụng linh hoạt nhiều kiểu câu cho từng kiểu loại văn bản (ví
dụ: câu khuyết chủ ngữ cho văn bản tin). Sử dụng co chữ, kiểu chữ, màu sắc, hình nền khác
nhau, sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ như tranh, ảnh, bảng biểu, đồ thị để thể hiện thông tin.
e. Văn bản nghệ thuật
– Văn bản nghệ thuật (văn bản văn chương) là loại văn bản thực hiện chức năng thẩm mĩ
thông qua hình tượng văn học nhằm phục vụ cho như cầu nâng cao đời sống tinh thần, bồi
dưỡng vẻ đẹp tâm hồn của con người. Các loại văn bản nghệ thuật gồm trữ tình (thơ, trường
ca), tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết, v.v.), kịch, kí.
– Đặc điểm cơ bản của văn bản nghệ thuật: tính hình tượng, tính hàm súc đa nghĩa, tính cá
thể, tính biểu cảm và thẩm mĩ. Do vậy, ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật cũng có tính hình
tượng, cụ thể, sinh động và mang phong cách cá nhân.
– Đặc điểm ngôn ngữ
* Về từ ngữ, sử dụng rộng rãi các lớp từ và các biến thể của từ (từ địa phương, từ thông tục,
từ nghề nghiệp, biệt ngữ, tiếng lóng), triệt để khai thác tính đa nghĩa của từ, các biện pháp tu
từ.
* Về cú pháp, sử dụng hết sức linh hoạt các loại, kiểu câu; sử dụng rộng rãi câu đặc biệt,
câu bất quy tắc (chệch chuẩn); khai thác tối đa phép biến đổi câu (tách câu, chuyển đổi thành

21

phần câu, v.v.). Cấu trúc câu (cả đoạn văn, văn bản) đều có tính linh hoạt, tất cả hướng đến ý
đồ sáng tạo của nhà văn.
1.3.3. Dựa vào mức độ sử dụng
Theo mức độ sử dụng ở trong nhà trường, ta thấy có hai loại văn bản được xem là thông
dụng: văn bản hành chính và văn bản khoa học.
a. Văn bản hành chính
Trong nhà trường, loại văn bản hành chính thường dùng là đơn từ, báo cáo, biên bản, thông
báo, công văn, hợp đồng, văn bằng, chứng chỉ, v.v..
b. Văn bản khoa học
Văn bản khoa học trong nhà trường gồm các loại: giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham
khảo, luận văn, khóa luận, các bài thi, kiểm tra, v.v. gắn liền với các lĩnh vực chuyên môn, các
ngành khoa học. Chẳng hạn:
– Ngành khoa học xã hội, có các văn bản thuộc lĩnh vực xã hội – nhân văn (văn học, lịch sử,
chính trị, văn hóa học, v.v.).
– Ngành khoa học tự nhiên, có các văn bản khoa học tự nhiên (thuộc các chuyên ngành toán,
lí, hóa, sinh học, công nghệ, v.v.).
Do mục đích ứng dụng, giáo trình này sẽ trình bày các loại hình văn bản xét theo phong
cách chức năng ngôn ngữ và chỉ thực hành phân tích và tạo lập hai loại văn bản: văn bản khoa
học và văn bản hành chính.
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH MỤC 1 CHƯƠNG 1
* Phần thảo luận và thực hành tại lớp
1. Làm thế nào để phân biệt văn bản với chuỗi câu hỗn độn?
2. Nêu những đặc điểm cơ bản của văn bản.
3. Vì sao đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo thành văn bản?
4. Các loại văn bản hành chính, khoa học, chính luận, báo chí khác với văn bản nghệ thuật ở
những điểm nào? Minh họa bằng ví dụ cụ thể.
5. Những loại văn bản nào có tính thông dụng trong giao tiếp và trong lĩnh vực chuyên môn
của anh/chị?
6. Đọc các văn bản sau và cho biết chúng thuộc loại văn bản nào, của ngành nào, vì sao? Tại
sao các văn bản ấy trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức?

22

a)

HOA LAN

Cây ai giồng, khi lớn lên thì tôi đã thấy nó phủ lá xuống mái chùa, da nó mốc thếch, cành
nó sum suê. Hai cây hoa lan mọc sóng đôi, tỏa thơm khắp làng, có thể thơm lây sang cả hai
làng bên. Vì hai làng bên không ai trồng hoa lan.
Mùa hè, hoa nở trắng.
Mùa nước ngập, nó cũng nở trắng. Ong mật, bướm bay quấn quýt suốt ngày. Bố hay lấy
hoa về cho tôi, để ở đĩa trên án thư. Mỗi lần, bố lại dặn: “Cây hoa lan có Thần, có Phật đấy.
Các con đừng có trèo lên bẻ cành nó. Thần, Phật quật chết đấy”. Đêm nằm mê, tôi cứ thấy
ngòn ngọt như ai cho uống mật ong.
Người đến nhà chơi, ai cũng thơm và ai cũng cho tôi hoa:
– Anh Khán ơi! Hoa này.
– Cháu Khán ơi! Hoa này.
– Khán ơi! Hoa này…
-…
Hình như họ cũng chẳng có gì mà cho tôi, ngoài hoa ra. Nhưng tôi lại thích hoa đến ngơ
ngẩn. Nghiễm nhiên, tôi trở thành người có cái may mắn đặc biệt ấy. Họ tung vào nhà tôi đầy
hoa là hoa.
Đi đâu, tôi cũng đứng ở đê ngoái nhìn hai cây hoa lan rồi mới đi tiếp.
Trong số người cho tôi hoa, tôi nhớ nhất là em Đức. Em Đức là con trai bác Khiếu, là chị
cái Thơm. Cả nhà em Đức thân nhà tôi lắm. Bao giờ em Đức cũng thơm, da dẻ trắng hồng,
hai cái môi cứ đỏ lên, cái mặt đầy đặn, hai hàm răng trắng bóng đều tắp. Tóc rất dài, nhìn
vào là mát. Em kém tôi một tuổi, mười ba, mười bốn. Cứ mỗi trưa, em lấy hoa lan rồi tìm em
Bảng tôi, ghé sát vào tai: “Đừng cho ai biết, cầm hoa về cho anh Khán”. Cứ như thế, suốt

mấy mùa hè.
Ngày tôi đi xa về, hai cây lan xơ xác, làng cũng xơ xác. Bão đã làm nó gẫy cành. Bàn tay
độc ác nào lại chặt đi cho trụi. Thân nó lại có cả vết dao chém.
Tôi lại đi. Đến đâu có hương hoa lan tôi lại bần thần, ngơ ngác như kẻ mất hồn, xa xăm,
man mác…
(Duy Khán, Tuyển tập, Nxb Hội nhà văn, H.2010)

23

TINH THẦN YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN TA

b)

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến
nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô
cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước
và cướp nước.
Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta.
Chúng ta có quyền tự hào về những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng
Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,…Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì
các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng.
Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ những cụ già tóc
bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở
vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu
nước, ghét giặc. Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát giặc đặng
tiêu diệt giặc, đến những công chức ở địa phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ
khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ
chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và
nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến,

cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất cho Chính phủ… Những cử chỉ cao đẹp đó, tuy
khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.
Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong
bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất dấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn
phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là
phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả
mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến.
(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Sự thật, H.1986)

c)

Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TẠI BẮC CỰC
Tuần lễ vừa qua, các khoa học gia thuộc viện Awi (Alfred wegener – Khảo cứu địa cực và

đại dương) đã lên tiếng báo động vì không khí trên đỉnh các ngọn núi tại Ni-Alesund bị ô
nhiễm ở mức độ cao nhất từ trước đến nay (biểu tượng đã đạt tới màu nâu-cam).
Thông thường thì không khí tại các đỉnh núi rất sạch, nhưng do ảnh hưởng của thời tiết,
đặc biệt từ hồi đầu tháng 5 nên những luồng khí gọi là aerosol từ khu vực Đông Âu tràn đến,
24

mang theo những vật thể bay bay trong không khí. Các chuyên gia đã đo được 50 microgram
aerosol/m3 không khí tại các đỉnh núi, và mức độ ô nhiễm này gần bằng tại một thành phố sầm
uất đông đúc.
Viện phụ trách ô nhiễm môi trường của Na Uy cũng lên tiếng báo động vì đo được khí ôzôn
dày đặc ngay sát mặt đất: 160 microgram/m3 không khí, và mức độ này cũng là cao nhất kể từ
1989, khi Trung tâm đo đạc mức độ ô nhiễm không khí được thành lập tới nay. Tuy các
chuyên gia cũng đã đo được những luồng khí aerosol dày đặc tại Bắc Cực những năm vừa
qua vào thời điểm mùa xuân, nhưng hiện tượng gọi là “không gian mù mịt” này tại Bắc Cực
năm nay đặc biệt có cường độ chưa từng bao giờ cao đến thế, gấp 2,5 lần mức độ đo được

vào mùa xuân năm 2000.
Aerosol là những vật thể li ti trong không khí, có thể ở dạng chất lỏng hay đặc và là nòng
cốt của sự hình thành các đám mây. Những hạt thế này còn có khả năng làm phân tán và thậm
chí làm tan biến cả ánh sáng mặt trời, do đó ảnh hưởng rất nhiều đến khí hậu, thời tiết và môi
trường.
Andreas Herber thuộc viện Awi (tại Bremerhaven, Đức) tỏ ý lo ngại vì: “Hậu quả là thời
tiết sẽ càng ấm hơn nữa. Khuynh hướng nóng này có thể tiếp diễn lâu dài hay không, chưa thể
kết luận được vì chúng tôi còn phải tiếp tục đo đạc nhiều lần nữa. Hiện nay, chúng tôi đang
nghiên cứu xuất xứ và thành phần cấu tạo hóa học của aerosol…”
(Theo Bích Vân, Khoa học và đời sống)
BẤT CÔNG

d)

Mới đây, có ba người nông dân viết thư cho tác giả “Chuyện làm ăn”, một ở Vĩnh Phú,
một ở Thái Bình và một ở Đồng Nai. Thư viết nhiều chuyện, có thư khá dài, làm cho người
cầm bút thực sự cảm động vì được tin cậy. Tình cờ làm sao mà cả ba thư đó, bên cạnh nhiều
chuyện riêng lại có một chuyện chung. Hình như đó là một thắc mắc chung. Cho nên mới có
bài này.
Buồn là thấy báo chí đến với người nông dân ít quá nhưng cũng mừng vì thấy bà con đọc
kĩ quá! Có ông viết: “Thỉnh thoảng, một tháng mới mượn được một tờ báo, đọc tuốt tuột, từ
chữ đầu tới chữ cuối, không sót chữ nào”. Các ông cho rằng, đọc báo kĩ thấy nhiều chuyện
vui trên đất nước ta, nhưng cũng có nhiều chuyện gây thắc mắc. Mỗi ông thắc mắc một kiểu,
nhưng cả ba ông đều nói chuyện thuế.

25

Tài liệu liên quan

*

Tài liệu KIỂM TRA HỌC TRÌNH MÔN : THỰC HÀNH VĂN BẢN TIẾNG VIỆT pptx 3 1 6

*

Trích rút thực thể từ các văn bản tiếng việt trên internet 14 592 0

*

nhận dạng thực thể trong văn bản tiếng việt 73 893 3

Xem thêm: Mẫu Ủy Quyền Quyết Toán Thuế Tncn 2016, Mẫu Giấy Ủy Quyền Quyết Toán Thuế Tncn 02/Uq

*

Chứng thực chữ ký trong văn bản tiếng Việt ppt 4 584 0

*

Chứng thực điểm chỉ trong văn bản tiếng Việt pptx 4

Viết một bình luận