Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, Một Số Nhận Xét Về Mới

GH Việt Nam Giáo Phận Chủng Viện Thông Báo Suy Niệm Thời Sự Phụng Vụ Đức Tin Mục Vụ Linh Mục – Tu Sĩ Sứ Vụ Media Tư Liệu GH Toàn Cầu Khác Tư Liệu GHVN Khác

Ngày 1 tháng 5 năm 2019, Đức cha Chủ tịch và Đứccha Tổng Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ký sắc lệnh phê chuẩn bản dịch mớicủa Sách Lễ Rôma. Để chuẩn bị phát hành và sử dụng bản dịch (2019) này vào MùaVọng năm nay, Ủy ban Phụng tự trân trọng giới thiệu nội dung Quy chế Tổng quátSách Lễ Rôma.Chúng tôi sẽ trình đăng từng phần để giới thiệuđến quý vị.

Đang xem: Quy chế tổng quát sách lễ rôma

QUY CHẾ TỔNG QUÁT

SÁCH LỄ RÔMA

*

LỜI MỞ ĐẦU

1. Khi Chúa Kitô sắpcử hành bữa tối vượt qua với các môn đệ, trong đó, Người thiết lập hy lễ Mìnhvà Máu Người, Người đã truyền phải sửa soạn một căn phòng rộng rãi, được trangbị đầy đủ (Lc 22,12). Hội Thánh luôn nghĩ rằng mệnh lệnh này cũng liên hệ đếnmình, khi ấn định những điều giúp chuẩn bị tâm hồn, nơi chốn, nghi thức, bảnvăn liên quan đến việc cử hành Thánh Thể. Những quy tắc được ban hành thể theoý muốn của Công đồng Vatican II, cũng như Sách lễ mới mà từ nay Hội Thánh theoNghi lễ Rôma, sẽ dùng khi cử hành Thánh lễ, tất cả những điều đó lại một lần nữacho thấy mối quan tâm, niềm tin và lòng mến không thay đổi của Hội Thánh đối vớimầu nhiệm Thánh Thể cao cả; đồng thời, những yếu tố đó cũng làm chứng về truyềnthống liên tục và vững bền của Hội Thánh, mặc dù có một số điều mới đã đượcthêm vào.

Chứng tích vềmột đức tin không thay đổi

2. Bản chất hy tế củaThánh lễ đã được Công đồng Trentô long trọng xác quyết <1>, phù hợp với truyềnthống chung của Hội Thánh; nay một lần nữa được khẳng định lại trong Công đồngVatican II, với những lời đầy ý nghĩa về Thánh Lễ như sau: “Trong bữa tiệc ly, Đấng Cứu Chuộcchúng ta đã thiết lập hy tế Tạ ơn bằng chính Mình vàMáu Người, để nhờ đó hy tế thập giá được tiếpdiễn qua các thời đại cho tới khi Người ngự đến, và đã ủy thác cho Hiền thê yêu quý của Người là Hội Thánh việctưởng niệm sự chết và sự phục sinh của Người” <2>. Điều Công đồng dạytrên đây vẫn không ngừng được diễn tả trong các công thức của Thánh lễ. Thật vậy,Sách lễ xưa, thường được gọi là sách lễ của Đức Giáo hoàng Lêô, có nói rõ: “Mỗi lần cử hành việc tưởng niệm hiến lễ này, công trình cứuchuộc chúng ta lại được thực hiện” <3>, giáolý đó được diễn giải cách thích hợp và chính xác trong các Kinh nguyện Thánh Thể;vì trong các kinh này, khi cử hành nghi thức tưởng niệm, linh mục nhân danhtoàn thể dân chúng hướng về Thiên Chúa, cảm tạ và dâng lên Ngài hy lễ sống độngvà thánh thiện, đó là hiến lễ và lễ hy tế của Hội Thánh được hiến tế theo ýThiên Chúa để nhân loại được giao hòa với Ngài<4>; và linh mục cũng cầu xin đểMình và Máu Chúa Kitô trở nên hy lễ được Chúa Cha chấp nhận và sinh ơn cứu độcho toàn thế giới<5>.

Như thế, trong Sách lễ mới, quiluật cầu nguyện (lex orandi) của HộiThánh phù hợp với qui luật ngàn đời của đức tin (lexcredendi). Qui luật này dạy cho chúng ta biết hy lễ thập giá và việctái diễn hy lễ đó cách bí tích trong Thánh lễ, đã được Chúa Kitô thiết lậptrong bữa tiệc ly và truyền cho các Tông đồ phải làm để tưởng nhớ đến Người, cảhai chỉ là một, mặc dù cách thức hiến dâng có khác nhau. Do đó, Thánh lễ, vừalà hy lễ ngợi khen, tạ ơn, vừa là hy lễ xin ơn tha thứ và đền tội.

3. Mầu nhiệm lạlùng về sự hiện diện thực sự của Chúa dưới hình bánh và hình rượu, đã được Côngđồng Vatican II <6>, và các văn kiện khác của Huấn Quyền xác nhận <7>, với cùngmột ý nghĩa và bằng cùng một ngôn từ như đã được Công đồng Trentô <8> buộc phảitin. Trong khi cử hành Thánh lễ, mầu nhiệm ấy được công bố, không những với lờitruyền phép qua đó Chúa Kitô hiện diện do việc biến đổi bản thể, mà còn qua tâmtình và thái độ hết sức cung kính, tôn thờ xứng hợp trong phụng vụ Thánh Thể.Chính vì thế, trong Thánh lễ Tiệc ly vàothứ Năm Tuần Thánh và ngày lễ trọng kính Mình và Máu Thánh Chúa, dân Kitô giáothường tỏ lòng tôn kính thật đặc biệt đối với Bí tích vô cùng kỳ diệu này.

4. Bảntính của chức linh mục thừa tác thuộc riêng hàng Giám mục và linh mục, nhữngngười dâng hy lễ và chủ tọa cộng đoàn dân thánh với tư cách là hiện thân của ĐứcKitô, được làm nổi bật trong chính hình thức của lễ nghi, vì linh mục có một vịtrí và nhiệm vụ đặc biệt hơn. Những đặc điểm chính yếu của phận vụ này đượccông bố đồng thời cũng được giải thích rõ ràng và sâu rộng hơn trong kinh tiềntụng của Thánh lễ làm phép Dầu, ngày thứ Năm tuần Thánh, ngày kỷ niệm thiết lậpchức linh mục. Lời kinh tiền tụng đó đề cập rõ ràng đến chức năng tư tế đượctrao ban qua việc đặt tay, và chức năng ấy, được diễn tả với từng phận vụ riêngbiệt, chính là sự tiếp nối chức năng của Chúa Kitô, Vị Thượng Tế của Giao ước Mới.

5. Cũng phảitrân trọng và hiểu đúng ý nghĩa chức tư tế vương giả của các tín hữu, tự bản chấtkhác với chức linh mục thừa tác; chính nhờ thừa tác vụ của Giám mục và linh mục,hy lễ thiêng liêng của các tín hữu được liên kết với hy lễ của Chúa Kitô là ĐấngTrung gian duy nhất <9>. Thật vậy, cử hành Thánh Thể là hành vi của toàn thể HộiThánh, trong đó mỗi người chỉ làm và làm trọn vẹn phận sự được dành riêng tùytheo chức vị của mình trong đoàn dân Thiên Chúa. Bởi thế, phải chú trọng hơn đếnmột số khía cạnh của việc cử hành, đã có lúc không được lưu tâm đủ trong nhiềuthế kỷ qua. Vì đoàn dân này là dân Thiên Chúa, được cứu chuộc bằng giá máu ĐứcKitô, được Chúa quy tụ, được lời Chúa nuôi dưỡng, là dân được kêu gọi để dânglên Thiên Chúa lời cầu nguyện của toàn thể gia đình nhân loại, là đoàn dân hiệplời tạ ơn trong Chúa Kitô về mầu nhiệm cứu độ, khi dâng hy lễ của chính Người,và sau cùng, là dân liên kết với nhau trong tình hợp nhất nhờ thông hiệp vớiMình và Máu Đức Kitô. Đoàn dân này, từ nguồn gốc đã là dân thánh, nhưng nhờtham dự vào mầu nhiệm Thánh Thể cách ý thức, tích cực và hữu hiệu, sẽ liên lỉtiến tới trên đường thánh thiện <10>.

Xác nhận mộttruyền thống liên tục

6. Khi ban bố nhữnghuấn thị nhằm duyệt lại Nghi thức Thánh lễ, Công đồng Vatican II, ngoài nhữngchỉ thị khác, cũng truyền phải phục hồi một số lễ nghi, “dựa theo quy tắc cổkính thời các thánh Giáo phụ” <11>, đây chính là những lời thánh Piô V đã ghitrong Tông hiến Quo primum, khi công bố sách lễ của Công đồng Trentô năm 1570.Vì có sự trùng hợp về ngôn từ, nên ta có thể nhận thấy lý do tại sao hai Sách lễRôma, dù cách nhau bốn thế kỷ, vẫn theo cùng một truyền thống như nhau. Nếu cânnhắc các yếu tố nội tại của truyền thống này, chúng ta cũng thấy Sách lễ mới bổtúc cho Sách lễ cũ cách tinh tế và thích hợp.

7. Vào thời điểmxảy ra những nguy cơ tác hại cho đức tin Công giáo liên quan tới bản chất hy tếcủa Thánh lễ, chức linh mục thừa tác, sự hiện diện thực sự và thường hằng của ĐứcKitô dưới hình bánh rượu, mối bận tâm đầu tiên của thánh Piô V là bảo tồn truyềnthống vừa mới hình thành nhưng đang bị tấn công dữ dội, nên Ngài chỉ cho thay đổirất ít trong lễ nghi thánh. Thật vậy, Sách lễ năm 1570 không khác nhiều so vớiSách lễ in đầu tiên năm 1474, và Sách lễ này lại trung thành theo Sách lễ thờiĐức Giáo Hoàng Innôcentiô III. Ngoài ra, các thủ bản trong Thư viện Vatican, mặcdù có cung cấp một số tài liệu giúp điều chỉnh văn bản, nhưng việc nghiên cứu“các tác giả cổ đại và có uy tín” vẫn bị hạn chế trong các bản chú giải về phụngvụ thời Trung cổ.

8. Trái lại,ngày nay, các “quy tắc cổ kính thời các thánh Giáo phụ” mà những người hiệuđính Sách lễ của thánh Piô V tuân theo, đã phong phú hơn nhiều với vô số văn bảncủa các học giả. Thật vậy, sau khi Sách cử hành bí tích Grêgôrianô được xuất bảnlần đầu năm 1571, các Sách cử hành bí tích cổ xưa của Phụng vụ Rôma vàAmbrôsianô cũng được phát hành với những ấn bản được nghiên cứu cẩn thận, cả nhữngsách phụng vụ cổ của nghi lễ Tây Ban Nha và Pháp, chứa đựng những kinh nguyệnmang nhiều giá trị thiêng liêng, cho tới bấy giờ vẫn chưa được biết đến, naycũng được phổ biến rộng rãi..

Cũngvậy, ngày nay, việc khám phá thêm nhiều văn kiện phụng vụ đã soi sáng rõ hơn vềnhững truyền thống của các thế kỷ đầu, đã có trước khi nghi lễ Đông và Tâyphương được hình thành.

Ngoàira, những nghiên cứu tường tận về các Giáo phụ đã giúp cho nền thần học về mầunhiệm Thánh Thể trở nên sâu sắc hơn, nhờ được soi sáng bởi giáo lý của các Giáophụ nổi danh thời Kitô giáo xa xưa, như thánh Irênê, Ambrôsiô, Cyrilô thànhGiêrusalem và Gioan Kim Khẩu.

9. Vì thế, “quytắc cổ kính thời các thánh Giáo phụ” không chỉ đòi hỏi phải bảo tồn những gì dobậc cha ông kế cận chúng ta truyền lại, nhưng còn phải tìm hiểu và cân nhắc kỹlưỡng tất cả các giai đoạn quá khứ của Hội Thánh, tất cả các thể thức tuyênxưng đức tin duy nhất của Hội Thánh qua những cách thức phụng tự đa dạng của cánhân và cộng đoàn, được thực hành tại các miền đất của người Sêmít, người Hy Lạp,và người Latinh. Chính tầm nhìn bao quát này giúp chúng ta nhận thấy Chúa ThánhThần đã ban cho dân Chúa sự trung tín lạ lùng trong việc bảo toàn kho tàng đứctin trường cửu, trong khi vẫn có nhiều kinh nguyện và nghi lễ thật khác biệtnhau.

Thích ứng vớinhững điều kiện mới

10. Như thế, Sách lễmới, vừa làm chứng cho luật cầu nguyện của Hội Thánh Rôma và bảo vệ kho tàng đứctin do các Công đồng gần đây truyền lại, vừa đánh dấu một giai đoạn quan trọngtrong truyền thống phụng vụ.

Vì khi nhắc lại những xác quyết vềtín lý của Công đồng Trentô, các Nghị phụ Công đồng Vatican II đã lên tiếngtrong một thời đại khác xa với trước; nên trong lĩnh vực mục vụ, các ngài có thểđưa ra những đề nghị và những lời khuyên mà trước đó bốn thế kỷ, không ai có thểnghĩ đến.

11. Công đồngTrentô đã nhận thấy việc cử hành Thánh lễ có lợi ích lớn lao về phương diệngiáo lý, nhưng chưa thể tổng hợp tất cả hệ quả để đưa vào cuộc sống. Thật vậy,có nhiều người đã xin Công đồng cho phép dùng tiếng bản xứ khi cử hành hy lễThánh Thể. Nhưng trước lời thỉnh cầu này, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, Công đồngcho rằng nhiệm vụ của Công đồng là phải nhấn mạnh lại giáo lý truyền thống củaHội Thánh, theo đó, hy lễ Thánh Thể, trước hết là hành động của chính ChúaKitô, nên hiệu năng riêng của hành động này không bị ảnh hưởng do cung cáchtham dự của các tín hữu. Vì thế Công đồng đã xác quyết bằng những lời vừa mạnhmẽ vừa đắn đo như sau: “Mặc dầu Thánh lễ hàm chứa những giáo huấn phong phú chocộng đoàn tín hữu, nhưng các Nghị phụ nhận thấy việc tùy tiện cử hành Thánh lễbằng tiếng bản xứ thì không thuận lợi” <12>. Và Công đồng đã lên án kẻ nào chorằng: “nghi lễ Hội Thánh Rôma dạy đọc nhỏ tiếng phần Lễ Qui và lời truyền phép,là sai; hoặc: phải cử hành Thánh lễ bằng tiếng bản xứ mà thôi” <13>. Tuy nhiên,dù Công đồng cấm dùng tiếng bản xứ trong Thánh lễ, nhưng lại truyền cho các mụctử phải dùng lời giáo huấn thích hợp để thay thế: “Để đoàn chiên Đức Kitô khỏiphải đói khát… Công đồng truyền cho các mục tử và tất cả những ai có trách nhiệmcoi sóc các linh hồn, khi cử hành Thánh lễ, nhất là trong các Chúa nhật và lễtrọng, phải tự mình, hoặc nhờ người khác, thường xuyên trình bày một vài điểm từcác bài đọc trong Thánh lễ, phải giải thích về mầu nhiệm của hy lễ rất thánhnày, cũng như các mầu nhiệm khác” <14>.

Xem thêm: bài thu hoạch cảm tình đảng hay nhat

12. Công đồngVatican II, đã được triệu tập để giúp cho Hội Thánh thích nghi với các nhu cầucủa nhiệm vụ tông đồ trong thời đại ngày nay. Cũng như Công đồng Trentô, Công đồngnày đã nghiên cứu thấu đáo tính chất giáo huấn và mục vụ của Phụng vụ thánh <15>.Vì không một người Công giáo nào phủ nhận tính cách hợp pháp và hữu hiệu củanghi lễ thánh được cử hành bằng tiếng Latinh, nên Công đồng cũng có thể công nhậnrằng: “Việc dùng ngôn ngữ bản địa thường có thể đem lại nhiều lợi ích cho dânchúng”, và đã cho phép dùng tiếng bản xứ <16>. Quyết định trên đây đã được nồngnhiệt đón nhận khắp nơi, và dưới sự hướng dẫn của các giám mục và của chínhTông Tòa, tất cả các cử hành phụng vụ có giáo dân tham dự đều được phép sử dụngtiếng bản xứ, để mọi người am hiểu đầy đủ hơn về mầu nhiệm đang được cử hành.

13. Tuy nhiên, vìviệc dùng tiếng bản xứ trong Phụng vụ thánh chỉ là một phương tiện, dù rất quantrọng để trình bày rõ ràng hơn giáo huấn về mầu nhiệm chứa đựng trong việc cửhành, nên Công đồng Vatican II còn nhắn nhủ phải thực thi một số chỉ thị củaCông đồng Trentô, mà một số nơi đã không tuân giữ, như phải giảng trong cácChúa nhật và lễ trọng <17>, và được phép nói ít lời hướng dẫn khi cử hành cácnghi lễ thánh <18>.

Công đồng Vatican II còn nhấn mạnh:“Phải khuyến khích các tín hữu tham dự Thánh lễ cách trọn vẹn hơn, bằng cách,sau khi linh mục hiệp lễ, họ cũng lãnh nhận Mình Thánh Chúa trong cùng Thánh lễđó” <19>. Công đồng cũng muốn thực hiện một ước nguyện khác của các Nghị phụCông đồng Trentô, đó là để tham dự cách trọn vẹn mầu nhiệm Thánh Thể, “trong mỗiThánh lễ, các tín hữu không chỉ tham dự bằng tâm tình thiêng liêng, mà còn bằngviệc lãnh bí tích Thánh Thể” <20>.

14. Được thúc đẩybởi cùng một tinh thần và nhiệt tâm mục vụ, Công đồng Vatican II đã có thể đưara định hướng mới liên quan đến quyết định của Công đồng Trentô về việc hiệp lễ dưới hai hình. Thật vậy, ngày nay, không cònai nghi ngờ những nguyên tắc giáo lý về hiệu lực rất đầy đủ của việc hiệp lễ dưới một hình bánh, nên Công đồng đã cho phépđôi khi được hiệp lễ dưới hai hình, đểqua hình thức rõ ràng hơn của dấu chỉ bí tích, giáo dân có được điều kiện thuậnlợi đặc biệt để hiểu sâu xa hơn về mầu nhiệm họ đang tham dự <21>.

15. Theo tinh thầnđó, trung thành với phận vụ là thầy dạy chân lý, Hội Thánh vừa gìn giữ những điều“cũ”, nghĩa là kho tàng truyền thống, vừa chu toàn bổn phận xem xét và khônngoan sử dụng những điều “mới” (Mt 13,52).

Quả thế, một phần Sách lễ mới hướngcác kinh nguyện của Hội Thánh về những nhu cầu của thời đại chúng ta cách rộngrãi hơn; đặc biệt là các lễ có nghi thức riêng và các lễ “cho những nhu cầukhác nhau”, trong đó, truyền thống và cái mới được kết hợp với nhau cách hàihòa. Bởi thế, trong khi vẫn duy trì nguyên vẹn nhiều kiểu nói, nhận lấy từ truyềnthống rất xa xưa của Hội Thánh, đã có trong Sách lễ Rôma từng được xuất bản nhiềulần, nhiều kiểu nói khác được thích nghi với những đòi hỏi và hoàn cảnh của thờinay. Bên cạnh đó, có những cách diễn đạt, như các lời nguyện cầu cho Hội Thánh,cho giáo dân, cho việc thánh hóa lao động, cho cộng đoàn các dân tộc, cho một sốnhu cầu riêng của thời đại chúng ta, hoàn toàn được sáng tác theo tư tưởng, vànhiều khi theo chính những cách diễn đạt trong các văn kiện gần đây của Công đồng.

Cũng vì ý thức về tình trạng mớicủa thế giới ngày nay, nên khi sử dụng những bản văn cổ truyền, có lẽ không làmtổn thương gì đến kho tàng khả kính nếu có thay đổi một vài câu, để lời vănthích hợp hơn với ngôn ngữ thần học ngày nay, và cũng thực sự phù hợp với kỷ luậthiện hành của Hội Thánh. Do đó đã thay đổi một số câu liên quan đến việc đánhgiá và sử dụng của cải trần gian, và một số câu trình bày dạng thức bày tỏ lòngsám hối, thuộc những thời đại khác của Hội Thánh.

Như thế, những quy tắc phụng vụ củaCông đồng Trentô đã được bổ túc và kiện toàn trong nhiều điểm nhờ những quy tắccủa Công đồng Vatican II, một Công đồng đã thành công trong nỗ lực đưa các tínhữu tới gần phụng vụ hơn, những nỗ lực đã được thực hiện suốt bốn thế kỷ nay, đặcbiệt trong thời đại gần đây, nhất là nhờ việc nghiên cứu phụng vụ do thánh PiôX và các Đấng kế vị ngài cổ võ.

<1> Cđ. Trentô, khóa 22, ngày 17.09.1562: Denz.-Schönm.1738-1759.

<2> Cđ. Vatican II, Hiến chế về Phụng vụ thánh,Sacrosanctum Concilium, số 47; x. Hiến chế tín lý về Giáo Hội, Lumen Gentium,các số 3, 28; Sắc lệnh về tác vụ và đời sống linh mục, Presbyterorum Ordinis,các số 2, 4, 5.

<3> Thánh lễ chiều kỷ niệm bữa Tiệc ly của Chúa, lời nguyệntiến lễ, x. Sách lễ Vêronensê, ed. L.C. Mohlberg, số 93.

<4> x. Kinh nguyệnThánh Thể III.

<5> x. Kinh nguyệnThánh Thể IV.

<6> Cđ. Vatican II,Hiến chế về Phụng vụ thánh, Sacrosanctum Concilium, các số 7, 47; Sắc lệnh về tác vụ và đời sống linhmục, Presbyterorum Ordinis, các số 5, 18.

<7> x. Piô XII,Thông điệp Humani Generis, ngày 12.08.1950: AAS. số 42 (1950) tr. 570-571;Phaolô VI, Thông điệp Mysterium Fidei, ngày 03.09.1965: AAS. số 57 (1965) tr.762-769; Bản long trọng tuyên xưng đức tin, ngày 30.06.1968, các số 24-26: AAS.số 60 (1968) tr. 442-443; Thánh Bộ Nghi Lễ, Huấn thị Eucharisticum Mysterium,ngày 25.03.1967, các số 3f, 9: AAS. số 59 (1967) tr. 543, 547.

<8> Cđ. Trentô,khóa 13, ngày 11.10.1551; DS.: 1635-1661.

Xem thêm: Bài Tập Hình Học Sơ Cấp – Giáo Trình Cơ Sở Hình Học Và Hình Học Sơ Cấp

<9> x. Cđ. VaticanII, Sắc lệnh về tác vụ và đời sống linh mục, Presbyterorum Ordinis, số 2.

Viết một bình luận