phương pháp nghiên cứu kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (446.19 KB, 84 trang )

Đang xem: Phương pháp nghiên cứu kinh tế

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KINH TẾ & QTKD
BỘ MÔN KINH TẾ

BÀI GIẢNG
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ
(Tài liệu dùng cho khối ngành Kinh tế)
PHÚ THỌ, 2014
MỤC LỤC
Chương 1 1
GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ 1
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 12
Câu 1: Phân biệt nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng? Làm thế nào để đưa các kết
quả từ nghiên cứu ứng dụng vào triển khai áp dụng trong thực tế hoạt động sản xuất? 12
Câu 2: Phân biệt nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng? Làm thế nào để lượng hóa
ảnh hưởng của các biến số chất lượng (biến định tính) đến một vấn đề kinh tế cụ thể nào đó?
12
Câu 3: Trình bày các tiêu chuẩn của một nghiên cứu tốt? 12
Câu 4: Trình bày khái quát quá trình nghiên cứu? 12
1 CHƯƠNG 2 13
THIẾT KẾ ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KINH TẾ 13
CHƯƠNG 3 19
THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN 19
CHƯƠNG 4 65
PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KINH TẾ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 79
i
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ
1.1 Khoa học

1.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ “khoa học” là một khái niệm rất phức tạp ở nhiều mức độ khác nhau
của quá trình tích cực nhận thức hiện thực khách quan và tư duy trừu tượng.
Trong lịch sử phát triển có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học, khái quát
lại có thể đưa ra định nghĩa về khoa học như sau:
Khoa học là hệ thống những tri thức được hệ thống hoá, khái quát hoá từ thực
tiễn và thực tiễn kiểm nghiệm; nó phản ánh được dạng logic, trừu tượng và khái quát
những thuộc tính, những cấu trúc, những mối liên hệ bản chất, những quy luật của tự
nhiên, xã hội và tư duy; đồng thời khoa học còn bao gồm hệ thống tri thức về những
biện pháp tác động có kế hoạch đến thế giới xung quanh, đến sự nhận thức và làm biến
đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích của con người.
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học
thuyết mới về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có
thể thay thế dần những cái cũ không còn phù hợp. Thí dụ: Quan niệm thực vật là vật
thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận.
Như vậy, khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự
vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ thống tri thức
này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
– Tri thức kinh nghiệm:
Là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan
hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình này
giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan
hệ giữa những con người trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không
ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm
chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối
quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển
đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình
thành tri thức khoa học.
– Tri thức khoa học:

1
Là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH,
các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không
giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập
được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã
hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ
môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…
1.1.2 Quy luật hình thành và phát triển của khoa học
Khoa học được hình thành không phải là ngẫu nhiên mà do những điều kiện
nhất định:
– Do sự phát kiến ra các tiên đề (một tri thức khoa học mặc nhiên được thừa
nhận không cần phải chứng minh). Ví dụ: Từ tiên đề Ơclit đã hình thành nên hình học
phẳng (hình học Ơclit), tiên đề của David Hibert, tiên đề Albert Einstein.
– Do sự phân lập các bộ môn khoa học: Từ một bộ môn khoa học đang tồn tại
tách ra thành một hoặc một số bộ môn khoa học mới có đối tượng nghiên cứu hẹp hơn.
Ví dụ: Từ toán học hình thành các bộ môn khoa học như số học, đại số học, hình học,
lượng giác bản chất của quá trình này là do sự phát triển của khoa học dẫn đến phân
lập đối tượng nghiên cứu và hình thành nên những bộ môn khoa học mới.
– Do sự tích hợp các khoa học: Do sự phát triển của khoa học, phương pháp
luận riêng của một bộ môn khoa học không đủ giải quyết vấn đề, cần có sự kết hợp
giữa các bộ môn khoa học, từ đó hình thành nên bộ môn khoa học mới: Ví dụ toán-lý,
hoá – sinh, toán – kinh tế.
1.1.3 Cơ sở để phân biệt một khoa học
– Có một đối tượng nghiên cứu;
– Có một hệ thống lý thuyết;
– Có hệ thống phương pháp luận;
– Có mục đích ứng dụng;
– Có một lịch sử nghiên cứu.
1.1.4 Phân loại khoa học
Khoa học có nhiều loại khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu người ta có

nhiều cách phân loại.
– Theo phương pháp hình thành:
+ Khoa học tiền nghiệm (được hình thành trên cơ sở tiên đề hay hệ tiên đề:
Hình học ).
+ Khoa học hậu nghiệm: Được hình thành trên cơ sở quan sát thực nghiệm:
Khoa học xã hội, kỹ thuật trồng trọt, kỹ thật chăn nuôi.
2
– Theo đối tượng nghiên cứu của khoa học:
+ Khoa học tự nhiên và khoa học trừu tượng;
+ Khoa học kỹ thuật và công nghệ;
+ Khoa học nông nghiệp;
+ Khoa học sức khỏe;
+ Khoa học xã hội và nhân văn;
+ Triết học,…
– Theo cơ cấu kiến trúc:
+ Khoa học cơ bản;
+ Khoa học cơ sở;
+ Khoa học chuyên môn.
– UNESCO phân ra 5 nhóm khoa học
+ Khoa học tự nhiên và khoa học chính xác;
+ Khoa học kỹ thuật và công nghệ;
+ Khoa học về sức khỏe và y học;
+ Khoa học nông nghiệp;
+ Khoa học xã hội nhân văn.
1.2 Nghiên cứu khoa học
1.2.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nhu cầu tìm hiểu thế giới xung
quanh ngày càng tăng lên và tưởng chừng như không bao giờ ngừng.
Con người từ đâu đến và con người sẽ đi đến đâu? Đâu là giới hạn của vũ trụ?
Có nền văn minh nào ngoài Trái đất của chúng ta? Thời gian là vô thủy vô chung, hay

là có điểm khởi đầu và có điểm tận cùng?
Những câu hỏi như thế là vô cùng vô tận. trả lời mỗi câu hỏi ấy là những công
trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc.
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử
nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức… đạt được từ các thí nghiệm
nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự
nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá
trị hơn.
Như vậy, nghiên cứu khoa học là quá trình hành động nhằm hình thành các
hiểu biết giúp nhận thức và cải tạo thế giới khách quan.
3
Con người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnh
vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ
lúc ngồi trên ghế nhà trường.
1.2.2 Mục đích của nghiên cứu khoa học
– Nhận thức thế giới khách quan:
+ Phát hiện các thuộc tính, bản chất của sự vật, hiên tượng, các mối quan hệ
cũng như mối liên hệ của chúng.
+ Phát hiện quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
– Cải tạo và biến đổi thế giới khách quan mang lại lợi ích cho con người: Khám
phá ra con đường, cách thức vận dụng các tri thức khoa học vào thực tiễn sản xuất và
đời sống.
Chú ý mối quan hệ giữa nhận thức và cải tạo thế giới khách quan:
+ Nếu không nhận thức đúng thì không thể có hành động đúng.
+ Nếu chỉ dừng ở nhận thức mà không hành động thì kết quả của nghiên cứu
khoa học rất hạn chế, thiếu tác dụng thiết thực.
1.2.3 Chức năng của nghiên cứu khoa học
Để đạt được các mục đích trên, khoa học có 5 chức năng sau đây.
– Quan sát: là xem xét một cách tỉ mỉ và cặn kẽ về sự vật hiện tượng. Quan sát
là khâu đầu tiên giúp ta thu thập được các sự kiện, từ đó hình thành nên nhận thức.

– Mô tả: là trình bày rõ bằng ngôn ngữ, hình ảnh chung nhất về sự vật và hiện
tượng. Nó giúp cho nhận dạng đúng sự vật, hiện tượng. Mô tả có hai mặt: mô tả định
tính (chỉ rõ đặc trưng về chất) và mô tả định lượng (chỉ rõ đặc trưng về lượng). Ví dụ:
mô tả về sự quay của trái đất, tình hình cơ bản của một địa phương.
– Giải thích: là làm rõ nguồn gốc, các mối quan hệ, quy luật chi phối quá trình
vận động và phát triển.giải thích cho nhận thức đi từ nhận thức hiện tượng bên ngoài
đến bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng.
– Sáng tạo: là đưa ra những cái mới chưa từng có. Đó chính là những đề xuất về
giải pháp để cải tạo, biến đổi thế giới khách quan phục vụ thực tiễn sản xuất và đời
sống.
– Tiên đoán: là nhìn thấy trước sự hình thành, vận động, phát triển, tiêu vong
của sự vật hiện tượng. Tiên đoán phải dựa trên căn cứ khoa học. Thời gian tiên đoán
có thể ngắn hoặc dài.
1.2.4 Phân loại nghiên cứu khoa học
* Phân loại theo chức năng nghiên cứu (kết quả đạt được của nghiên cứu) thì
nghiên cứu khoa học được chia thành 4 loại:
4
– Nghiên cứu mô tả: là những nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về
nhận dạng một sự vật, đánh giá một sự vật (ví dụ mô tả một triều đại trong lịch sử, mô
tả một tệ nạn xã hội,…).
Tìm kiếm/khám phá những câu trả lời cho các câu hỏi ai, cái gì, khi nào, ở đâu
và như thế nào (?).
Nghiên cứu nhằm chỉ ra hay xác định được những vấn đề, nhóm người hay sự
việc.
– Nghiên cứu giải thích: là những nghiên cứu nhằm giải thích nguồn gốc, động
thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự
vật (ví dụ giải thích nguyên nhân dẫn đến môt phong trào xã hội, giải thích bản chất
kinh tế của hiện tượng di dân, lý do dẫn đến sự ra đời một lý thuyết khoa học,…).
Mô tả và giải thích những nguyên nhân của các hiện tượng hay vấn đề.
Nghiên cứu giải thích đặt nền tảng để xây dựng lý thuyết và nó trả lời cho câu

hỏi tại sao, như thế nào (?).
– Nghiên cứu giải pháp: là những nghiên cứu nhằm sáng tạo ra các giải pháp, có
thể là giải pháp công nghệ, giải pháp tổ chức và quản lý (ví dụ tìm kiếm giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh của một sản phẩm, biện pháp đối phó với khủng hoảng
của nền kinh tế,…).
Cung cấp thông tin/dữ liệu thống kê và những kết luận rút ra được từ các thông
tin/dữ liệu.
Kiến thức và kỹ năng thu thập thông tin (Loại thông tin, Nguồn thông tin &
Người cung cấp thông tin).
Kỹ năng diễn dịch và đưa ra kết luận từ những thông tin/dữ liệu thống kê.
– Nghiên cứu dự báo: là những nghiên cứu nằm nhận dạng trạng thái của sự vật
trong tương lai (ví dụ dự báo sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam sau 10 gia nhập
WTO, dự báo thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới vào cuối thế kỷ XXI,…).
Nhằm đưa ra được những sự tiên đoán khi nào và trong trường hợp nào một
hiện tượng/sự kiện nào đó sẽ xảy ra (?).
* Phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc,
động thái của sự vật, tương tác của sự vật cũng như mối liên hệ giữa sự vật này với sự
vật khác.
Nghiên cứu cơ bản nhằm trước hết phát triển khoa học và làm cơ sở cho các
nghiên cứu khoa học khác.
Nhằm trả lời những câu hỏi phức tạp của lý thuyết.
5
– Nghiên cứu ứng dụng: là nghiên cứu khoa học dựa vào các quy luật từ nghiên
cứu cơ bản để xác định nguyên lý và giải pháp trong điều kiện ứng dụng cụ thể. Tuy
nhiên, kết quả của nghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được. Để có thể đưa kết
quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn còn phải tiến hành nghiên cứu triển khai.
Đặt trọng tâm vào việc giải quyết vấn đề.
– Nghiên cứu triển khai: là việc vận dụng các quy luật từ kết quả nghiên cứu
ứng dụng và các nguyên lý thu được từ nghiên cứu triển khai để xây dựng mô hình

trong thực tiễn.
Đối với nghiên cứu triển khai, cần chú ý;
+ Các nguyên lý và các giải pháp của nghiên cứu triển khai vừa phải đảm bảo
tính khoa học, nhưng phải khả thi (khả thi về kỹ thuật và tài chính).
+ Các nguyên lý và các giải pháp của nghiên cứu triển khai vừa phải đảm bảo
sự phát triển trước mắt nhưng phải ổn định và bền vững về lâu dài. Muốn vậy cần
phải kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với xã hội và môi trường.
Ví dụ: nghiên cứu tác động của CNH-HĐH đến việc làm và thu nhập của hộ,
đến sự phân hóa vùng,…
* Phân loại theo phương pháp thu thập và xử lý thông tin
– Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu về hành vi, sự kiện, môi trường xã hội,
phản ứng và các quan hệ kinh tế;
+ Nhằm trả lời câu hỏi thế nào, cái gì, tại sao (?);
+ Đào sâu sự hiểu biết về vấn đề;
+ Số mẫu khảo sát nhỏ;
– Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu sâu một hiện tượng;
+ Nhằm trả lời câu hỏi bao nhiêu (?);
+ Đào sâu sự hiểu biết về nguyên nhân của một sự kiện; Số mẫu khảo sát lớn;
1.2.5 Phương pháp nghiên cứu khoa học
a) Khái niệm
Tổng thể các phương pháp dùng để nhận biết hiện tượng trong nghiên cứu gọi
là phương pháp nghiên cứu khoa học.
Học thuyết về các phương pháp nghiên cứu khoa học gọi là phương pháp luận
nghiên cứu khoa học, đó chính là cơ sở lý luận để xây dựng nên các phương pháp cũng
như hình thành các giải pháp của các giai đoạn trong nghiên cứu.
Cơ sở của phương pháp luận nghiên cứu khoa học là triết học bao gồm chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
6
b) Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học
– Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Là phương pháp nghiên cứu khoa học thuần túy dựa trên sự tính toán, suy luận
và phán đoán để rút ra kết luận khoa học.
Chất liệu dùng cho nghiên cứu theo phương pháp này là khái niệm, định luật,
quy luật, số liệu thu thập trước đó mà hoàn toàn không tiến hành một thực nghiệm nào.
– Phương pháp thực nghiệm:
Là phương pháp nghiên cứu khoa học dựa trên những phương pháp thực
nghiệm theo những mô hình trong đó các yếu tố được theo dõi và khống chế. Phương
pháp này thường được áp dụng trong lĩnh vực kỹ thuật.
– Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm
Đó là phương pháp nghiên cứu dựa trên việc điều tra, quan sát và thu thập tài
liệu, tính toán phân tích và rút ra kết luận khoa học.
– Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu khoa học
+ Phương pháp tiếp cận lịch sử: là phương pháp tiếp cận dựa vào những điều đã
xảy ra trong quá khứ để kiểm chứng quy luật.
+ Phương pháp tiếp cận hệ thống: là phương pháp tiếp cận trên cơ sở xem xét
và hướng vào cùng một mục tiêu. Đây cũng là một cách tiếp cận phổ biến trong thời
gian gần đây.
+ Phương pháp tiếp cận định tính kết hợp với định lượng: Dựa trên quy luật
lượng đổi chất đổi trong triết học. Muốn có kết luận về chất thì phải nghiên cứu sâu về
lượng.
+ Phương pháp tiếp cận xã hội học: Đó là phương pháp tiếp cận dựa trên
phương pháp điều tra xã hội học.
+ Phương pháp tiếp cận tâm lý học: là phương pháp tiếp cận thông qua quan sát
theo dõi và cảm nhận.
+ Phương pháp tiếp cận SWOT: là phương pháp dựa trên cơ sở mặt mạnh, mặt
yếu, cơ hội và thách thức.
Các yếu tố bên ngoài: Cơ hội (Opportinities); thách thức (Threat)
Các yếu tố bên trong: Mặt mạnh (Strength); mặt yếu (weakness)
1.3 Nghiên cứu kinh tế
Nghiên cứu kinh tế là một phương pháp khám phá có tính hệ thống nhằm cung

cấp những thông tin để giải quyết các vấn đề quản lý.
7
1.3.1 Mục tiêu của học phần phương pháp nghiên cứu kinh tế
Học phần này cung cấp cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cần thiết
trong một môi trường đòi hỏi các quyết định nhanh chóng.
1.3.2 Tại sao phải nghiên cứu kinh tế
– Nhà quản lý cần những thông tin tốt hơn
+ Cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn cả ở trong thị trường trong nước và toàn cầu;
+ Các tổ chức đang đáp ứng việc khai thác các dữ liệu và quản lý thông tin/tri
thức nhằm phục vụ tốt hơn quá trình ra quyết định của mình;
– Những công cụ và kỹ thuật được cải tiến đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu
– Sự quá tải về thông tin trong thời đại “bùng nổ” thông tin
1.3.3 Tại sao phải học phương pháp nghiên cứu kinh tế
– Nhà quản trị cần đưa ra các quyết định dựa trên các nghiên cứu;
– Nhà quản trị cần sự hiểu biết và có khả năng đánh giá các nghiên cứu;
– Thực hiện những nghiên cứu được yêu cầu bởi các nhà quản trị cấp cao;
– Thiết lập sự nghiệp của nhà nghiên cứu;
1.3.4 Tiêu chuẩn của một nghiên cứu tốt
Đáp ứng được những tiêu chuẩn của phương pháp nghiên cứu khoa học
– Mục đích, mục tiêu được xác định rõ ràng;
– Quá trình nghiên cứu được chi tiết hóa;
– Thiết kế nghiên cứu được hoạch định cẩn thận;
– Những giới hạn của nghiên cứu được trình bày rõ ràng;
– Đáp ứng tốt các chuẩn mực đạo đức của một nghiên cứu khoa học;
– Các phân tích phù hợp với những nhu cầu của người ra quyết định;
– Các kết quả nghiên cứu được trình bày một cách rõ ràng, không mơ hồ, lập lờ;
– Các kết luận có cơ sở vững chắc, được minh chứng;
– Những kinh nghiệm của nhà nghiên cứu được phản ánh;
1.3.5. Khái quát một số phương pháp nghiên cứu kinh tế chủ yếu
a) Phương pháp thống kê kinh tế

– Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu kinh tế dựa trên cơ sở các phương
pháp của thống kê. Cho đến nay được coi là phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu
kinh tế.
8
Do các hiện tượng kinh tế xã hội là những hiện tượng xảy ra ở nhiều nơi, nhiều
lúc trong nhiều điều kiện khác nhau, bởi vậy nó rất phong phú và đa dạng. Phương
pháp thống kê kinh tế là thích hợp để nghiên cứu các hiện tượng như vậy.
– Nội dung phương pháp:
+ Phương pháp thống kê kinh tế giúp chúng ta thu thập được tài liệu dựa trên cơ
sở quan sát số lớn;
+ Phương pháp này giúp chúng ta xử lý và hệ thống hóa tài liệu (phân tổ thống
kê);
+ Phương pháp này giúp phản ánh và phân tích tài liệu trên rất nhiều khía cạnh;
– Hạn chế của phương pháp: Không phù hợp với bộ phân tiên tiến, lạc hậu hay
bộ phận điển hình.
b) Phương pháp chuyên khảo
– Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu kinh tế đi sâu vào đơn vị điển hình (lạc
hậu hoặc tiên tiến).
– Nghiên cứu bằng phương pháp này có thể rút ra các giải pháp cho từng nhóm
điển hình.
c) Phương phương chuyên gia
– Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu kinh tế dựa trên ý kiến của các chuyên
gia.
– Chuyên gia là những người am hiểu về vấn đề nghiên cứu (nhà Khoa học, nhà
hoạch định chính sách,…)
– Phương pháp này giúp chúng ta nắm được lý luận cơ bản, cho biết được thực
trạng tình hình và giải pháp cơ bản, cho biết các công trình nghiên cứu có liên quan.
– Hình thức áp dụng phương pháp: Có thể trao đổi trực tiếp, có thể sử dụng nhóm
chuyên gia, hội thảo khoa học (mời viết bài, trình bày, thảo luận,…), expert meeting.
d) Phương pháp cân đối

– Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu kinh tế dựa trên cơ sở tính toán cân đối.
– Nội dung của phương pháp:
+ Phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng
đến chúng;
+ Xác định các khâu cơ bản trong các mối liên hệ giữa các hiện tượng từ đó lựa
chọn các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu;
+ Phát hiện các khâu mất cân đối trong sự phát triển của hiện tượng, sự vật;
9
+ Điều chỉnh các yếu tố, lập lại sự cân đối trong sự phát triển của hiện tượng, sự
vật;
+ Áp dụng cân đối mới vào thực tiễn.
e) Phương pháp thực nghiệm
– Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu kinh tế dựa trên các thực nghiệm.
– Ưu thế của phương pháp: cho chúng ta tài liệu có độ chính xác và độ tin cậy cao
từ đó rút ra các kết luận thuyết phục.
– Cách tổ chức bố trí thực nghiệm theo nhiệm vụ đặt ra
+ Tiến hành thu thập tài liệu về kết quả thực nghiệm;
+ Tổng hợp và phân tích để rút ra kết luận khoa học;
+ Áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn;
f) Phương pháp toán kinh tế
– Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu kinh tế dựa trên các phương pháp toán
học. Phương pháp này được áp dụng rộng rãi vì toán học ngày càng phát triển.
– Ưu thế của phương pháp này: Cho chúng ta kết quả một cách nhanh chóng và
chính xác. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ có kết quả dựa trên lý luận về kinh tế.
– Phạm vi áp dụng: Phương pháp này được áp dụng ở nhiều mức độ khác nhau. Có
thể áp dụng với các tính toán đơn giản hoặc sử dụng các hàm sản xuất trong nghiên
cứu kinh tế; mô hình toán học trong nghiên cứu kinh tế.
Ví dụ: Hàm Cobb-douglas mô tả mối quan hệ phụ thuộc của sản lượng (Q) vào các
yếu tố đầu vào sản xuất : Vốn (K), lao động (L); Q = AK
α

L
β
.
1.3.6. Quá trình nghiên cứu kinh tế
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu
Có 2 loại vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu về tình trạng thực tế nào đó và nghiên
cứu mối quan hệ giữa các biến số.
Nếu lĩnh vực nghiên cứu rộng thì cần thu hẹp vấn đề nghiên cứu thông qua trao đổi
với bạn bè, đồng nghiệp và các chuyên gia.
Tại bước nghiên cứu này, người thực hiện cần phải tìm hiểu cơ sở lý thuyết từ đó
xác định vấn đề nghiên cứu rõ ràng hơn. Bên cạnh đó cũng cần tìm hiểu sơ bộ về dữ
liệu cần thiết để nghiên cứu, mối quan hệ cần phân tích và loại kỹ thuật cần phân tích
để xem xét vấn đề nghiên cứu có khả thi không.
Bước 2: Tìm hiểu cơ sở lý thuyết
10
Tóm tắt các lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu qua
đó chọn các khái niệm, lý thuyết thật sự liên quan đến vấn đề nghiên cứu để trình bày.
Chú ý cách đọc và ghi chú tóm tắt tài liệu từ các nguồn khác nhau.
Bước 3: Phát triển giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu là 1 giả định của chúng ta, được xây dựng trên cơ sở vấn đề
nghiên cứu và cơ sở lý thuyết để qua đó kiểm định tính hợp lý và kết quả thực nghiệm
của nó. Giả thuyết nghiên cứu là tiêu điểm của vấn đề nghiên cứu.
Các cách để xác định giả thuyết nghiên cứu bao gồm thảo luận trao đổi với đồng
nghiệp, bạn bè, các chuyên gia nghiên cứu; kiểm tra dữ liệu và tài liệu có sẵn liên
quan; xem lại các nghiên cứu tương tự trước đây trong cùng lĩnh vực; quan sát phán
đoán của người nghiên cứu và ý kiến của các cá nhân/đơn vị liên quan.
Bước 4: Xây dựng đề cương nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu trình bày các bước mà người nghiên cứu phải đạt được, bao
gồm trình bày vấn đề, cơ sở lý thuyết và giả thuyết và trình bày các bước tiếp theo để
giải quyết vấn đề.

Bước 5: Thu thập dữ liệu bao gồm dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp
Bước 6: Phân tích dữ liệu và kiểm định giả thiết
Các loại giả thiết (Chi square test, t-test, F-test)
Tùy theo dữ liệu và giả thuyết nghiên cứu mà lựa chọn kỹ thuật phân tích cho phù
hợp. Cùng với đó là quá trình kiểm định đòi hỏi người nghiên cứu phải có kỹ năng về
xử lý số liệu, thống kê và kinh tế lượng.
Bước 7: Giải thích kết quả và viết báo cáo cuối cùng
Báo cáo cuối cùng phải trình bày nổi bật các nội dung: vấn đề nghiên cứu, khái
niệm và lý thuyết, khung phân tích, phương pháp nghiên cứu, kết quả phân tích và giải
thích số liệu, kết luận và đề xuất nghiên cứu.
Báo cáo nên viết theo cách thức ngắn gọn, xúc tích với văn phong đơn giản, tránh
diễn tả mơ hồ (dường như, có thể,…). Các bảng biểu và đồ thị nên được sử dụng chỉ
khi để diễn tả thông tin cho rõ ràng hơn, dễ hiểu và sinh động hơn. Những hạn chế
nghiên cứu cần được đề cập và những hạn chế khác xảy ra trong quá trình nghiên cứu
cũng cần được trình bày.
11
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
Câu 1: Phân biệt nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng? Làm thế nào để đưa
các kết quả từ nghiên cứu ứng dụng vào triển khai áp dụng trong thực tế hoạt động
sản xuất?
Câu 2: Phân biệt nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng? Làm thế nào để
lượng hóa ảnh hưởng của các biến số chất lượng (biến định tính) đến một vấn đề
kinh tế cụ thể nào đó?
Câu 3: Trình bày các tiêu chuẩn của một nghiên cứu tốt?
Câu 4: Trình bày khái quát quá trình nghiên cứu?
12
1 CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KINH TẾ
2.1 Khái niệm đề cương nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu là 1 bản kế hoạch chỉ rõ những vấn đề cơ bản cần được

giải quyết thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu.
Đề cương nghiên cứu là một kế hoạch được viết ra nhằm hướng dẫn, định
hướng thực hiện một nghiên cứu.
Yêu cầu cơ bản của một đề cương nghiên cứu:
– Trình bày câu hỏi nghiên cứu và tầm quan trọng của nó;
– Thảo luận về những nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
– Chỉ ra những thông tin cần thiết để trả lời câu hỏi nghiên cứu;
2.2 Lý do viết đề cương nghiên cứu
– Nhận được sự chấp thuận của người tài trợ nghiên cứu;
– Cho phép nhà nghiên cứu hoạch định và đánh giá các bước của quá trình
nghiên cứu;
– Là một chỉ dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu;
– Cơ sở cho hoạch định nguồn lực cần thiết cho nghiên cứu (thời gian và ngân
sách);
2.3 Nội dung của đề cương nghiên cứu
– Chủ đề nghiên cứu;
– Ý nghĩa và tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu;
– Mục tiêu nghiên cứu;
– Đối tượng, phạm vi nghiên cứu;
– Giả thuyết nghiên cứu;
– Phương pháp nghiên cứu/Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu;
– Nội dung nghiên cứu;
– Kế hoạch nghiên cứu;
– Dự toán kinh phí nghiên cứu;
13
Nghiên cứu khoa học là 1 quá trình phức tạp, nó bao gồm nhiều giai đoạn với
nhiều công việc cụ thể khác nhau. Quá trình nghiên cứu khoa học bao gồm các giai
đoạn như sau:
2.3.1 Xác định đề tài nghiên cứu
Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học do một người hoặc một

nhóm người thực hiện. Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn
mang tính chất nghiên cứu khoa học, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án. Sự
khác biệt giữa các hình thức NCKH này như sau:
* Đề tài: Được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể
chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.
* Dự án: Được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu
quả về kinh tế, xã hội và môi trường. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời
gian và nguồn lực.
* Đề án: Là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc
gửi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một
tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình
thành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án.
* Chương trình: Là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục
đích xác định. Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao. Tiến độ thực hiện đề tài, dự
án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương
trình thì phải đồng bộ nhằm giải quyết thiết thực 1 vấn đề thực tiễn sản xuất và đời
sống đặt ra.
a) Căn cứ để xác định đề tài
– Do yêu cầu thực tiễn (yêu cầu nghiên cứu lý luận hoặc yêu cầu cảu thực tiễn
sản xuất).
– Do năng lực của người nghiên cứu bao gồm trình đó nghiên cứu, trang thiết
bị, khả năng nguồn tài chính, điều kiện triển khai.
b) Khi xác định đề tài nghiên cứu cần chú ý:
– Tên đề tài phải phản ánh đúng nội dung cần nghiên cứu;
– Tên đề tài phải ngắn, gọn nhưng chính xác và dễ hiểu;
– Tên đề tài phải hấp dẫn;
2.3.2 Xây dựng đề cương nghiên cứu
1- Lý do chọn đề tài (Tính cấp thiết của đề tài).
Khi thuyết minh lý do chọn đề tài, người nghiên cứu cần làm rõ 3 nội dung sau:
– Phân tích được lịch sử nghiên cứu.

14
– Làm rõ mức độ nghiên cứu của các đồng nghiệp đi trước để chỉ rõ đề tài sẽ kế
thừa những gì và tiếp tục nghiên cứu ra sao.
– Giải thích lý do chọn đề tài về lý thuyết cũng như thực tiễn về tính cấp thiết
cũng như năng lực nghiên cứu.
2- Trình bày rõ mục tiêu nghiên cứu
Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được
mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lắp lẫn nhau. Vì vậy, cần thiết
để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu.
* Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên
cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó
có thể đo lường hay định lượng. Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay
điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc
gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, nhắm
đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.
* Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người
nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo
lường hay định lượng được. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài
và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả
phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.
Ví dụ 2.1: Phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây.
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm huy động vốn tại Ngân hàng Công thương Việt
Nam”.
Mục đích của đề tài: Để tăng lợi nhuận cho Ngân hàng
Mục tiêu của đề tài:
– Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về huy động vốn;
– Phản ánh và đánh giá thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Công thương
Việt Nam;
– Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân
hàng Công thương Việt Nam.

Xem thêm: đề thi ioe lớp 7 cấp huyện

Lưu ý: Một số tài liệu chia mục tiêu nghiên cứu thành:
Mục tiêu nghiên cứu thường có mục tiêu chung hay mục tiêu tổng quát (mục
tiêu cấp 1) và mục tiêu cụ thể (mục tiêu cấp 2).
Cũng có thể mỗi mục tiêu cấp 2 lại bao gồm những mục tiêu chi tiết hơn (mục
tiêu cấp 3). Như vậy sẽ hình thành nên cây mục tiêu, trong đó mục tiêu cấp dưới là
15
công cụ để thực hiện mục tiêu cấp trên, là luận cứ để chứng minh hoặc bác bỏ giả
thuyết đã đặt ra ở mục tiêu cấp trên.
Thông thường 1 đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế gồm 1 mục tiêu chung
và 3 hay 4 mục tiêu cụ thể (lý luận, phân tích thực trạng, xác định nguyên nhân hoặc
yếu tố ảnh hưởng, nêu lên định hướng và giải pháp).
3- Xác định rõ đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và
làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu thường bao gồm 2 phạm trù: Khách thể nghiên cứu và
đối tượng khảo sát (Ví dụ: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước; Huy động và sử dụng
vốn tín dụng).
Xác định khách thể nghiên cứu là chỉ rõ nghiên cứu cái gì, nội dung nghiên cứu
tập trung vào vấn đề nào. Còn đối tượng khảo sát chính là thực thể mà trên đó ta điều
tra, khảo sát để thu thập tình hình và số liệu.
4- Xác định phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là 1 phần giới hạn của nghiên cứu liên quan đến đối tượng
khảo sát và nội dung nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu bao gồm những giới hạn về nội
dung, về không gian và về thời gian của đối tượng khảo sát.
5- Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu là mô hình giả định, một dự đoán về bản chất của đối
tượng nghiên cứu. Giả thuyết có chức năng tiên đoán bản chất sự kiện, đồng thời là
chức năng chỉ đường để khám phá đối tượng.
Giả thuyết nghiên cứu là một nhận định sơ bộ, một kết luận giả định về bản chất
sự vật, do người nghiên cứu đưa ra để chứng minh hoặc bác bỏ. Song, một giả thuyết

không thể được đặt ra một cách ngẫu hứng. Giả thuyết chỉ có thể tồn tại khi hội tụ đủ
ba tiêu chí sau:
– Giả thuyết phải dựa trên cơ sở quan sát: Phần lớn các giả thuyết được hình
thành dựa trên kết quả quan sát từ các sự kiện riêng biệt. Khả năng quan sát hữu hạn
các sự kiện, cho phép khẳng định bản chất thống kê của giả thuyết. Mọi ý tưởng tuyệt
đối hóa giả thuyết đều là sự sai phạm logic về bản chất quan sát khoa học.
– Giả thuyết không được trái với lý thuyết: Có mấy điểm cần lưu ý khi xem xét
tiêu chí này:
Thứ nhất, cần phân biệt lý thuyết đã được xác nhận tính đúng đắn về khoa học
với những lập luận bị ngộ nhận là lý thuyết đã được xác nhận. Trong trường hợp này,
giả thuyết mới sẽ có giá trị thay thế lý thuyết đang tồn tại.
16
Thứ hai, có những lý thuyết đã được xác nhận tính đúng đắn về khoa học, nhưng
với sự phát triển của nhận thức, lý thuyết đang tồn tại thể hiện tính chưa hoàn thiện
trong nhận thức. Trong trường hợp này, giả thuyết mới sẽ bổ sung vào chỗ trống trong
lý thuyết đang tồn tại.
Thứ ba, hoàn toàn có một khả năng khác, là giả thuyết mới sẽ mang một ý nghĩa
khái quát, còn lý thuyết đang tồn tại sẽ trở thành một trường hợp riêng của một lý
thuyết tổng quát được xây dựng từ giả thuyết mới.
– Giả thuyết phải có thể kiểm chứng: Trước đây, giới nghiên cứu quan niệm chỉ
tồn tại giả thuyết trong các khoa học thực nghiệm và được kiểm chứng bằng thực
nghiệm. Sau này, người ta công nhận cả việc kiểm chứng bằng lý thuyết. Tuy nhiên,
người nghiên cứu cần hiểu rằng, không phải giả thuyết nào cũng có thể được chứng
minh hoặc bị bác bỏ ngay trong thời đại của nó. Trong khoa học xã hội điều này còn
khó khăn hơn nhiều.
6- Lựa chọn phương pháp nghiên cứu
Ở đây cần chỉ rõ những phương pháp nào sẽ sử dụng trong nghiên cứu.có
những phương pháp được sử dụng trong suốt quá trinh nghiên cứu đề tài ở nhiều nội
dung khác nhau. Cũng có phương pháp nghiên cứu chỉ áp dụng để giải quyết 1 vài nội
dung riêng biệt của đề tài. Do đó khi xác định phương pháp nghiên cứu cần chỉ rõ

phương pháp đó được áp dụng để nghiên cứu nội dung nào. Cũng cần chứng tỏ được
phương pháp nghiên cứu được áp dụng là đáng tin cậy, do đó các kết luận rút ra là có
căn cứ khoa học.
7- Xác định nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu được xác định căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu. Việc xác
định chính xác nội dung nghiên cứu không phải là dễ dàng. Nó đòi hỏi người xây dựng
đề cương nghiên cứu phải hiểu biết khá sâu sắc về vấn đề nghiên cứu, đặc biệt là cơ
sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Để xác định được nội dung nghiên cứu, điều quan
trọng là phải nêu lên được khá chinh xác những giả thuyết cần chứng minh hay bác bỏ
trong quá trình nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu được phân chia ra các phần tuỳ theo đề tài nghiên cứu.
Thông thường nội dung nghiên cứu được thiết kế gồm các phần bao quát từ trình bày
cơ sở lý luận và thực tiễn đến phân tích thực trạng tình hình, tìm nguyên nhân rồi tìm
ra định hướng và giải pháp. Mỗi 1 phần lại có nội dung chi tiết phản ánh từng khía
cạnh cụ thể của phần đó.
Dàn ý nội dung dự kiến của công trình nghiên cứu gồm ba phần chính: mở đầu,
nội dung, kết luận và kiến nghị. Trong đó, phần nội dung được chia thành các chương,
mục, tiểu mục (số lượng chương, mục, tiểu mục tuỳ thuộc đặc điểm của đề tài, khối
lượng nội dung, cách trình bày của tác giả…).
17
Chẳng hạn: Một khóa luận tốt nghiệp (luận văn tốt nghiệp đại học) ít
nhất có ba chương:
– Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu;
– Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu;
– Chương 3: Giải pháp đề xuất;
8- Xây dựng kế hoạch tiến độ thực hiện đề tài
Xây dựng tiến độ thực hiện đề tài
Kế hoạch được xây dựng căn cứ vào yêu cầu của cơ quan giao đề tài. Kế hoạch
này phải rất chi tiết, trong đó có mấy bước quan trọng là xây dựng đề cương sơ bộ, xây
dựng đề cương chi tiết, thu thập thông tin, xử lý thông tin, viết báo cáo, nghiệm thu sơ

bộ, nghiệm thu chính thức. Kế hoạch tiến độ thường được xây dựng theo bảng theo
mẫu sau:
TT Tên công
việc
Thời gian tiến
hành
Địa điểm thực
hiện/Người thực hiện
Kết quả dự
kiến
1
2
Lập danh sách thành viên
Danh sách thành viên tham gia đề tài bao gồm:
– Người chủ trì;
– Các cộng tác viên.
Trong số những người tham gia có thể phải xác định người chủ trì từng bộ phận
nếu cần thiết. Bên cạnh đó, cần thiết phải chỉ ra cơ quan công tác, địa chỉ, điện thoại
liên hệ, các thông tin cá nhân và đặc biệt là trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phạm vi
và lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn của các thành viên tham gia đề tài.
9- Dự toán kinh phí nghiên cứu
Dự toán kinh phí bao gồm: chi phí lương, chi phí nghiên cứu, chi phí mua sắm
tài liệu, trang thiết bị. Các loại chi phí này thường được hướng dẫn khá chi tiết bởi các
cơ quan quản lý.
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2
Câu 1: Phân biệt giả thiết và giả thuyết trong nghiên cứu kinh tế?
Câu 2: Trình bày các nội dung chính của một đề cương nghiên cứu?
Câu 3: Viết đề cương nghiên cứu về một vấn đề kinh tế cụ thể mà anh (chị)
quan tâm?
18

CHƯƠNG 3
THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN
3.1 Thu thập tài liệu trong nghiên cứu kinh tế
3.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Tài liệu thứ cấp là các tài liệu đã được công bố.
Đây là nguồn tài liệu đầu tiên được tiếp cận nghiên cứu. Khi chuẩn bị bắt tay
vào nghiên cứu, công việc đầu tiên là phải tìm đọc các sách báo liên quan.
(1) Tác dụng của sách báo
– Cung cấp lý luận cơ bản;
– Cung cấp thông tin về thực trạng tình hình;
– Cung cấp những định hướng và giải pháp cơ bản;
– Cho biết tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực đang quan tâm.
(2) Nguồn tài liệu từ sách báo
– Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến địa phương;
– Các sách lý luận từ sách giáo khoa đến sách chuyên khảo;
Các thông tin được công bố trên các báo và các tạp chí (đặc biệt là tạp chí
chuyên ngành).
– Các công trình khoa học bao gồm các đề tài nghiên cứu thuộc các cấp, các
luận văn, luận án;
– Số liệu thống kê từ các cấp thuộc thống kê Nhà nước và thống kê các ngành,
thống kê địa phương;
– Các báo cáo tại địa phương, các cơ quan, các cơ sở sản xuất;
– Thông tin trên mạng internet.
(3) Cách đọc và ghi chép
Trong thời đại bùng nổ thông tin thì sách báo rất nhiều. Vấn đề đặt ra là làm sao
đọc được nhanh chóng và thu thập được những thông tin cần thiết.
– Cách đọc: Mỗi người trong quá trình đọc sẽ tự tìm ra cho mình phương pháp
đọc sao cho có hiệu quả. Đối với mỗi ấn phẩm, không nên đọc tràn lan mà cần sớm
tìm ra những chỗ cần đọc. Trong quá trình đọc cũng cần rút ra kinh nghiệm sao cho
đọc được nhanh chóng.

-Cách ghi chép :
19
+ Ghi trích đoạn nguyên văn (đối với những tài liệu mà tác giả có đoạn tổng kết
lại).
+ Ghi tóm tắt đối với những tài liệu không được tác giả tổng kết lại.
Trong khi ghi chép cần ghi chú thích về nguồn tài liệu đã sử dụng bao gồm tên
tác giả, năm xuất bản, tên tác phẩm, nhà xuất bản, nơi xuất bản, trang sử dụng. Đây là
vấn đề quan trọng và là yêu cầu bắt buộc đối với người sử dụng tài liệu trong nghiên
cứu khoa học. Điều đó chứng tỏ việc ”Nói có sách, mách có chứng”. Làm như vậy
cũng thể hiện sự nghiêm túc của người nghiên cứu; không mập mờ giữa sáng tạo của
mình với sáng tạo của người khác và nhất là không chiếm dụng thành quả lao động
khoa học của người khác.
(4) Phân loại thông tin thu nhập được
Thông tin thu thập được qua sách báo thường liên quan đến nhiều nội dung
khác nhau thuộc đề tài nghiên cứu. Để thuận lợi cho việc sử dụng cần sớm phân loại.
Thông thường những thông tin thu thập được người ta ghi vào những phiếu riêng biệt
đã được phân loại ngay từ đầu hoặc lưu trữ vào máy tính theo thư mục đã định sẵn.
Việc sớm phân loại thông tin sẽ tránh sự lộn xộn về tài liệu và tạo điều kiện
thuận lợi cho công tác xử lý thông tin về sau.
(5) Tổng hợp tài liệu trong quá trình đọc
Khi tham khảo được một số tài liệu nhất định cần được tổng hợp lại. Quá tổng
hợp chúng ta sẽ biết được các quan điểm của các tác giả khác nhau về lĩnh vực đang
quan tâm. Từ đó có thể phân loại ra các nhóm quan điểm khác nhau, tìm quan điểm
cho là phù hợp nhất hoặc có thể suy nghĩ trên những vấn đề đang xem xét. Làm như
vậy người nghiên cứu đã biến kiến thức sách vở thành kiến thức của mình.
3.1.2 Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện, hiện
tượng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong những hoàn cảnh tự nhiên
khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn
biến của sự kiện, hiện tượng đó.

– Ý nghĩa của phương pháp: Quan sát là phương thức cơ bản để nhận thức sự vật.
Quan sát sử dụng một trong hai trường hợp: phát hiện vấn đề nghiên cứu: đặt giả
thuyết kiểm chứng giả thuyết. Quan sát đem lại cho người nghiên cứu những tài liệu
cụ thể, cảm tính trực quan, song có ý nghĩa khoa học rất lớn, đem lại cho khoa học
những giá trị thực sự.
Chẳng hạn:
20
+ Pavlôv: Nêu rõ khẩu hiệu hành động trong nghiên cứu khoa học “Quan sát,
quan sát và quan sát…” – nhờ có quan sát mà Pavlôv đã xây dựng được học thuyết
“Phản xạ có điều kiện”.
+ Niutơn: Quan sát hiện tượng quả táo rơi, khái quát và xây dựng nên: “Định luật
vạn vật hấp dẫn”.
+ Galilê: Quan sát dao động của chiếc đèn lồng trong nhà thờ từ lúc bắt đầu đến
lúc tắt, đã khái quát và nêu ra định luật chuyển động của con lắc đơn với chu kỳ:
T = 2Π
+ Nhờ quan sát chuyển động Braonơ đã xây dựng nên thuyết phân tử – nguyên tử
(phân tử chuyển động không ngừng và giữa chúng có khoảng cách).
– Các loại quan sát:
+ Theo dấu hiệu về mối liên hệ giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
có thể có các loại quan sát: trực tiếp, gián tiếp, công khai, kín đáo, có tham dự, không
tham dự (chỉ đóng vai trò ghi chép).
+ Theo dấu hiệu không gian, thời gian, thì có các loại quan sát: liên tục, gián
đoạn, theo đề tài tổng hợp, theo chuyên đề.
+ Theo mục đích thì có các loại quan sát:
Quan sát khía cạnh, toàn diện.
Quan sát có bố trí (trong phòng thí nghiệm).
Quan sát phát hiện, kiểm nghiệm .v.v….
+ Hoặc nếu theo mục đích xử lý thông tin thì có: quan sát mô tả, quan sát phân
tích….
– Những yêu cầu của quan sát:

+ Xác định rõ đối tượng quan sát. Quan sát phải được tiến hành trong điều kiện
tự nhiên của hoạt động: người được quan sát không biết mình đang bị quan sát, người
quan sát không nên can thiệp vào hoạt động tự nhiên và thay đổi hành vi của đối tượng
(nếu là con người), người quan sát phải tự mình tham gia vào hoạt động (lao động, học
tập, vui chơi…) cùng với người được quan sát (cùng tham gia) để đảm bảo tính tự
nhiên của hiện tượng, quá trình nghiên cứu.
+ Xác định rõ ràng mục đích, nhiệm vụ quan sát, từ đó phải xây dựng kế hoạch
quan sát trong suốt quá trình nghiên cứu và chương trình của từng buổi quan sát. Điều
quan trọng là xác định quan sát toàn bộ hay chọn lọc, từ đó mới ghi lại tất cả cái gì mắt
thấy tai nghe hay một mặt nào đó. Không có chương trình, kế hoạch thì tài liệu thu
thập được khó tin cậy, không loại trừ được các nhân tố ngẫu nhiên.
21
+ Phải ghi lại kết quả (biên bản) quan sát: ghi lại sự kiện, điều kiện, hoàn cảnh
diễn ra sự kiện. Chỉ có ghi lại mới đảm bảo được tính lâu dài và có hệ thống: nhờ đó
mới thiết lập được mối quan hệ, liên hệ bản chất điển hình của những biểu hiện của
hiện tượng, sự kiện hay tâm lý khác nhau, có thể ghi lại bằng máy ảnh, camera, quay
phim, ghi âm, hay bằng tốc ký, biên bản quan sát,…
– Quan sát những biến dạng:
+ Phương pháp phân tích các sản phẩm hoạt động: Trường hợp nghiên cứu đối
tượng (là người) chỉ thông qua sản phẩm được thực hiện… Thực chất thì chính các
quá trình tâm lý được “vật hóa” trong các sản phẩm hoạt động – đó là đối tượng nghiên
cứu (Ví dụ: nghiên cứu tâm lý trẻ em thông qua bức tranh em vẽ, bài thơ do em làm,
bài tập do em thể hiện……)
+ Phương pháp khái quát hóa các nhận xét độc lập (phương pháp nhận định độc
lập) cũng là dòng họ của quan sát, vì các nhận định độc lập được xây dựng từ quan sát
trong các hiện tượng khác nhau (ví dụ: quan sát trực tiếp học sinh – sinh viên trong giờ
học khi dự giờ để tìm hiểu phong cách, thái độ học tập, hứng thú đối với môn học và
sự tích cực học tập của học sinh). Khái quát nhận xét riêng của từng giáo viên về một
học sinh để nghiên cứu đặc điểm nhân cách của em đó.
– Quan sát có ưu điểm là giữ được tính tự nhiên, khách quan của các sự kiện, hiện

tượng và biểu hiện tâm lý con người, cung cấp số liệu sống động, cụ thể, phong phú,
quan sát được thực hiện khá đơn giản, không tốn kém. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản
của quan sát là: người quan sát đóng vai trò thụ động, phải chờ đợi các hiện tượng diễn
ra, không chủ động làm chúng diễn ra theo ý muốn được, khó khăn trong việc đánh giá
sự tồn tại của những điều kiện nảy sinh các hiện tượng, sự kiện và do đó khó tách các
mối liên hệ nhân quả.
Tóm lại, quan sát là phương pháp nghiên cứu quan trọng, cần phải phối hợp với
các phương pháp khác để đạt tới trình độ nhận thức bản chất bên trong của đối tượng.
3.1.3 Phương pháp điều tra
(1) Sự cần thiết phải điều tra để thu thập số liệu
Nguồn tài liệu từ sách báo tuy rất phong phú nhưng không thể bao quát đẩy đủ
mọi thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu, nhất là các thông tin chi tiết tại địa
bàn nghiên cứu. Vì vậy, cần phải tổ chức điều tra để thu thập số liệu.
(2) Về hình thức tổ chức điều tra:
Có hai hình thức tổ chức thu thập số liệu
– Điều tra theo kiểu báo cáo thống kê định kỳ: Là hình thức tổ chức thu thập tài
liệu được tiến hành trên cơ sở ghi chép thường xuyên theo sổ sách, chứng từ đã được
chuẩn bị sẵn.
22
– Điều tra chuyên môn: Là hình thức tổ chức thu thập số liệu được tiến hành
theo một kế hoạch và phương pháp riêng cho mỗi lần điều tra.
(3) Xây dựng phương án điều tra: Để thu thập số liệu cần phải xây dựng phương án
điều tra. Nội dung dung của phương án điều tra bao gồm :
– Xác định mục đích điều tra;
– Xác định đối tượng điều tra và đơn vị điều tra;
– Xác định nội dung điều tra;
– Xây dựng bảng điều tra và bảng giải thích;
– Xác định phương pháp điều tra;
– Xây dựng kế hoạch tổ chức điều tra;
(4) Xác định phạm vi điều tra: Xét về phạm vi điều tra, có thể chia làm hai loại:

– Điều tra toàn bộ: Là điều tra tiến hành trên tất cả các đơn vị tổng thể. Điều tra
toàn bộ có ưu điểm là cung cấp cho chúng ta số liệu có độ chính xác cao, độ tin cậy
lớn. Tuy nhiên điều tra toàn bộ rất tốn kém và khó đảm bảo tính đầy đủ và kịp thời của
số liệu.
– Điều tra bộ phận: Là điều tra chỉ tiến hành ở một bộ phận tổng thể. Điều tra bộ
phận cung cấp cho chúng ta số liệu tuy có độ chính xác và độ tin cậy kém hơn điều tra
toàn bộ nhưng đỡ tốn kém và nâng cao được tính đầy đủ và kịp thời của số liệu.
Điều quan trọng đối với điều tra bộ phận để thu thập số liệu nghiên cứu khoa
học là phải đảm bảo tính đại biểu của mẫu điều tra. Muốn vậy phải giải quyết hai vấn
đề là xác định số đơn vị mẫu và cách lựa chọn đơn vị mẫu để điều ra.
+Về số đơn vị điều tra (n)
Khoa học thống kê đã xác định công thức tính số đơn vị mẫu đáp ứng yêu cầu
nghiên cứu như sau :
Công thức:
x
t
n
2
22

=
σ

Như vậy trong điều tra chọn mẫu, số đơn vị mẫu (n) phụ thuộc vào :
– Độ tin cậy (t) : Độ tin cậy càng cao (t lớn, tức mức xác suất có ý nghĩa lớn) thì
số đơn vị mẫu càng lớn. Sau đây là một số trị số về mối quan hệ giữa hệ số tin cậy (t)
và độ tin cậy (xác suất p) :
t 1,000 1,640 1,960 2,000 2,580 3,000
p 0,683 0,900 0,950 0,955 0,990 0,997
– Độ chính xác (


) (Khoảng tin cậy): độ chính xác càng cao, tức

càng nhỏ,
thì số đơn vị mẫu càng phải lớn.
23

Tài liệu liên quan

*

Bài giảng Phương pháp nghiên cứu: Chương 4: xử lý dữ liệu – Nguyễn Hùng Phong 81 925 0

*

Bài giảng Phương pháp nghiên cứu: Chương 2: nêu vấn đề và chọn thiết kế nghiên cứu – Nguyễn Hùng Phong 40 967 0

*

Bài giảng Phương pháp nghiên cứu: Chương 5: hàm tương quan đa biến – Nguyễn Hùng Phong 59 576 0

*

Bài giảng PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG TIN HỌC 196 828 1

Xem thêm: Tổng Hợp Tài Liệu Ôn Thi Tiếng Anh A2 Châu Âu (Ket), Tài Liệu Ôn Thi Tiếng Anh A2 Chuẩn Châu Âu

*

Bài giảng: Phương pháp nghiên cứu khoa học 29 606 6

Viết một bình luận