1)Sơ Đồ Phát Triển Chương Trình Giáo Dục, Đánh Giá Cải Tiến

*

Hình 1: Bốn cuộc cách mạng công nghiệp  Bối cảnh đó đang đặt ra cho các nhà giáo dục những thách thức chưa từng có: cung cấp những công dân toàn cầu, sáng tạo và khởi nghiệp, có hoài bão vươn lên trong một thế giới khi “ impossible is nothing”.

Đang xem: Phát triển chương trình giáo dục

Cuộc cách mạng lần thứ 4 đã và đang đặt ra những thách thức cho nền giáo dục Việt Nam. d) Toàn cầu hoáCùng với sự xuất hiện của Internet và sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ thì xu thế và các quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra là một hệ quả tất yếu.Toàn cầu hoá là dòng chảy xuyên biên giới của thông tin, tri thức, ý tưởng, công nghệ, là sự luân chuyển tự do giữa các quốc gia về hàng hoá, dịch vụ, nguồn vốn, kể cả vốn con người. Dòng chảy đó dẫn đến các tiến trình hội nhập tất yếu về kinh tế, văn hoá, giáo dục… giữa các quốc gia, tạo ra một thế giới phẳng dần; trong đó các quốc gia, dân tộc xích lại gần nhau, hợp tác, cạnh tranh để cùng tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh đó, các hệ thống giáo dục được quốc tế hoá, yếu tố địa giáo dục bị thu hẹp; con người được học, được giáo dục không phải chỉ để biết, để làm mà còn để chung sống trong một mái nhà chung là Trái Đất.d) Đấu tranh xác lập những giá trị văn hoá cốt lõiVề cơ bản, các giá trị cốt lõi của nhân loại, như hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn đang được gìn giữ và tôn trọng, nhưng những vấn đề như xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo… vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp và chưa có hồi kết.Mặt khác, sự phát triển của xã hội tiêu dùng với sự trợ giúp của CNTT &TT đã làm cuộc sống của con người ngày càng phụ thuộc vào những sản phẩm do chính mình tạo ra và trượt theo những giá trị thực dụng, tầm thường.Trong bối cảnh đó, con người đang dần ý thức được mối nguy hại tiềm tàng về sự xói mòn các giá trị văn hoá cốt lõi được sàng lọc và tích tụ qua các thời đại và hướng giáo dục đến việc củng cố, phát triển trong thế hệ trẻ những giá trị này, làm cơ sở cho việc xây dựng một ngôi nhà chung cho cả thế giới.1.1.2. Sự tác động của các xu thế thời đại tới sự phát triển của giáo dục thế giớiCũng theo các tác giả trên, những xu thế này có tác động to lớn tới sự phát triển của giáo dục. Đó là:a) Sự thay đổi vai trò của giáo dụcGiáo dục với tư cách là một lĩnh vực gắn liền với lịch sử phát triển của nhân loại với vai trò nguyên thuỷ của nó là “xã hội hoá cá nhân, phát triển con người, giữ gìn và phát triển văn hoá”.Trong xã hội công nghiệp, giáo dục có vai trò mới là “động lực phát triển kinh tế – xã hội thông qua đào tạo nguồn nhân lực”; mô hình phát triển kinh tế được mở rộng thành mô hình phát triển con người, trong đó con người không chỉ là phương tiện mà chủ yếu và trước hết là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế.Như vậy giáo dục có thêm vai trò mới là phát triển con người và là chìa khoá để giải quyết các vấn đề xã hội; tức là giáo dục không chỉ tạo ra vốn con người mà còn tạo ra vốn xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, cũng như góp phần giải quyết thành công những vấn đề của toàn nhân loại, như bảo vệ môi trường, ngăn chặn các hiểm hoạ bệnh tật, chiến tranh…Và cũng chính vì những nguyên nhân đó, trong hầu hết các quốc gia, giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển bền vững.Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang đặt ra cho giáo dục Việt Nam nhiều thách thức. Chúng ta cần đổi mới tư duy về vai trò của giáo dục trong cuộc cách mạng công nghiệp 4Nói đến cuộc cách mạng công nghiệp thứ 4 là người ta cứ nghĩ đến là cuộc cách mạng dành cho các ngành khoa học kĩ thuật với những công nghệ mới tạo ra nhiều sản phẩm máy móc đa dạng, hiện đại rất có giá trị sử dụng cao, thậm chí có thể thay thế con người trong nhiều lĩnh vực hoạt động. Đó là các loại hệ thống tự động : Máy cảm ứng từ, cửa tự đóng, báo động khi có nguy hiểm, xe ô tô tự lái, máy bay không người lái và nhiều loại phương tiện tự lái khác. Hay công nghệ Robot đã đã thay thế con người trong đời sống hàng ngày làm các công việc nhà, thay cho nhân viên bảo vệ, thay thế công nhân lắp ráp sản xuất ô tô; trong nhiều công đoạn của các dây chuyền sản xuất thuốc chữa bệnh… Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh nối mạng Internet, mọi người dân đều có thể theo dõi các buổi chất vấn của Quốc hội với các thành viên Chính phủ cũng như theo dõi những biến chuyển từng giờ trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ diễn ra vào ngày 8-11vừa qua…Cũng có thể dùng những phương tiện đó để gửi tiền, gọi taxi Uber (với giá rẻ), hay đặt vé máy bay, mua một sản phẩm ưng ý giao bán trên mạng; thực hiện thanh toán qua mạng; kết nối bạn bè trên Facebook, nghe nhạc hay xem phim đều có thể được thực hiện từ xa. Cũng chính trong bối cảnh đó CMCN4 đã đặt giáo dục, khoa học công nghệ vào một vị trí hoàn toàn khác. Giáo dục không chỉ là dịch vụ công, hay một loại hình phúc lợi xã hội, mà đã trở thành động lực phát triển xã hội, và thông qua việc cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục, đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, làm ra các sản phẩmhàm lượng chất xám cao, giá trị cao. Vì vậy cần có nhận thức đúng về vai trò rất mới của giáo dục để có các chính sách phù hợp.b) Một bộ phận của giáo dục cùng với khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếpKhi thế giới chuyển sang nền kinh tế trí thức với đặc trưng là các sản phẩm có giá trị được quy định bởi hàm lượng chất xám và độ tiêu hao nguyên liệu thì thông tin trở thành năng lượng cho sản xuất, và trí thức được xem là tư liệu sản xuất. Điều đó làm cho khoa học, với tư cách là cỗ máy sản sinh trí thức, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.Mặt khác, nếu khoa học được coi là cỗ máy vận hành nền kinh tế trí thức, th́ giáo dục chính là nguồn cung cấp nhiên liệu cho cỗ máy đó. Như vậy không chỉ khoa học, mà giáo dục (đặc biệt là giáo dục đại học) cũng đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp (Phạm Đỗ Nhật Tiến 2008).Nếu một bộ phận của giáo dục trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì vị trí của giáo dục cũng có sự chuyển dịch căn bản từ “thượng tầng kiến trúc sang hạ tầng kinh tế”.Để hội nhập với thế giới văn minh đang tiến bước mạnh mẽ vào kỷ nguyên cách mạng công nghiệp thứ 4, điều quan trọng trước hết là phải đổi mới đúng hướng hiện đại hóa của nền giáo dục. Phải tạo ra nguồn lực tài năng, có trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật cao, sắc sảo có khả năngthích ứng nhanh, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, biết vận dụng CNTT để trao đổi tri thức, biết kế thừa tri thức khổng lồ- nguồn liệu mở, biết tạo kiến thức mới nhằm đem lại năng suất, chất lượng vào quá trình đào tạo.Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là sẽ là cách mạng công nghệ số, chính vì vậy nguồn nhân lực CNTT có kỹ năng cao là rất cần thiết trong quá trình phát triển chung của đất nước”.  Giờ đây, trường học không còn là nơi độc quyền trong việc tạo ra tri thức mới và chuyển giao tri thức qua các thế hệ. Hoạt động nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học ứng dụng đã và đang tiếp tục chuyển dịch sang khu vực doanh nghiệp với ngân quỹ dành cho nó ngày càng lớn. Đối với việc đào tạo, trường học cũng không còn là nguồn cung cấp kiến thức duy nhất hay chủ yếu như xưa nữa. Kiến thức và thông tin tăng với cấp số nhân, và có thể tiếp cận rất dễ dàng, khiến câu hỏi cốt lõi ngày nay trên thị trường lao động không phải là “bạn đã biết được những gì?” mà là “ bạn có khả năng học hỏi được điều gì?” và đặc biệt là “ bạn có khả năng thay đổi suy nghĩ và quan điểm của bạn để học một cách tiếp cận hoàn toàn mới hay không?”. Năng lực chọn lọc, đánh giá, sử dụng thông tin, năng lực tự học trở thành điều kiện sống còn trong nền kinh tế tri thức. c) Giáo dục phát triển theo hướng mở, gắn liền với đời sống xã hộiTrong xã hội trí thức, lí luận mang bản chất công nghệ, được hình thành từ công nghệ và trong sự phát triển của công nghệ, đan xen và cùng phát triển. Để phục vụ cho xu thế đó, giáo dục cũng phải phát triển theo hướng mở, lấy những vấn đề trong cuộc sống làm bối cảnh dạy học để đào tạo những người có năng lực sử dụng được kiến thức, kĩ năng vào giải quyết thành công những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống thực. 1.2. Bối cảnh trong nước 1.2.1. Xu thế về dân cư– Cơ hội dân số vàng (cứ 2 người trong độ tuổi lao động thì chỉ có 1 người phụ thuộc). Tuy nhiên có tới 86% số người từ 15 tuổi trở lên chưa qua đào tạo.- Giảm sinh, tuổi thọ nâng cao, xu thế già hoá, tỉ lệ HS đến trường giảm.Theo ước tính, năm 2015 số giáo viên Tiểu học của năm 2015 sẽ ít hơn năm 2014 khoảng 14.700 người, tức giảm với tỉ lệ 0,4% năm. Ngay trong giai đoạn dân số vàng, Việt Nam cũng bước vào giai đoạn dân số già hoá trong vòng 25 năm và sau đó là dân số già. Một vấn đề đặt ra là bên cạnh 4 giai đoạn truyền thống, gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ cập, giáo dục đào tạo sau phổ cập, đào tạo tiếp tục sau khi rời ghế nhà trường, cần đưa thêm giai đoạn thứ năm là học tập sau khi về hưu.1.2.2. Xu thế kinh tếa) Hội nhập kinh tế dẫn tới hội nhập giáo dụcViệc Việt Nam gia nhập WTO (trong đó có GATS), APEC, TPP và trở thành thành viên cộng đồng ASEAN vào năm 2015… đang đặt ra cho giáo dục những thách thức và cơ hội mới. Giáo dục Việt Nam được tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến, có cơ hội để học tập và hội nhập bình đẳng. Mặt khác đây cũng là thách thức không nhỏ, đòi hỏi các nhà quản lí giáo dục nâng cao sức cạnh tranh với các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài. Ngoài việc các nhà đầu tư được tiếp cận thị trường giáo dục trong các lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và giáo dục người lớn, họ còn có thể mở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông cho HS Việt Nam. Tất cả những vấn đề nêu trên buộc chúng ta phải có những chính sách phù hợp để giáo dục Việt Nam có thể vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa chủ động trên lộ trình hội nhập quốc tế.b) Sự xuất hiện của kinh tế trí thứcĐại hội X và XI của Đảng ta đã khẳng định chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế trí thức. Để xây dựng nền kinh tế trí thức thì đại chúng hoá giáo dục đại học là điều kiện tiên quyết; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, lấy rèn luyện phẩm chất, năng lực là cốt lõi, là điều kiện bắt buộc.c) Đổi mới mô hình tăng trưởngChuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, chủ yếu dựa và tận dụng nhân công giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên, sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kĩ thuật và công nghệ, tăng năng suất lao động. Sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đòi hỏi sự chuyển đổi tương ứng của mô hình phát triển giáo dục. Trong Thông báo 242-TB/TW, Bộ Chính trị đã nhấn mạnh: “Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoáđất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện và mạnh mẽ”.d) Tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCNNền kinh tế thị trường hoàn chỉnh đang được hoàn thiện trong tất cả các lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực được xem là “nhạy cảm” như tài chính, ngân hàng, viễn thông, giáo dục và đào tạo. Các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường như giá trị, cạnh tranh, cung cầu… đang được vận hành dưới sự điều chỉnh của các bộ luật tương ứng, giúp Việt Nam hoàn thiện nền kinh tế thị trường đầy đủ và được quốc tế thừa nhận.Mặt khác định hướng XHCN cũng dần được khẳng định rõ nét hơn. Đó là một xã hội trong đó “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” (Văn kiện Đại hội XI)1.2.3. Xu thế về công nghệ a) Cách mạng CNTT &TTCách mạng CNTT &TT đang có những tiến bộ nhảy vọt, tác động mạnh mẽ và sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Giáo dục không nằm ngoài sự tác động này và cũng đang có những bước chuyển đầu tiên trong quá trình tin học hoá việc dạy, học và quản lí nhà trường. Cuộc cách mạng này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản trong giáo dục, từ việc thiết kế chương trình, tổ chức quá trình dạy học, vai trò của thầy, của trò… Những khái niệm mới liên quan đến cuộc cách mạng CNTT &TT như nhà trường điện tử, thư viện điện tử, E.learning v.v. đang dần đi vào cuộc sống của giáo dục.b) Học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tậpBước chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế trí thức, cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của kho tàng kiến thức nhân loại và những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng CNTT &TT đã dẫn tới một nhu cầu tất yếu là phải học tập suốt đời, và đương nhiên nền giáo dục truyền thống cũng phải chuyển sang một giai đoạn mới là giáo dục suốt đời cùng với sự hình thành xã hội học tập.Khái niệm học tập suốt đời đã được khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khoá VII): “Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân”.Quyết định số 112/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” đã đưa ra những chỉ tiêu cụ thể, các nhiệm vụ chủ yếu và các giải pháp xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam.1.2.4. Xu thế về hội nhập quốc tếa) Hình thành thị trường giáo dụcTrong quá trình hội nhập quốc tế về giáo dục, song song với việc hội nhập truyền thống, coi giáo dục là lợi ích công, hợp tác để phát triển giáo dục vì mục đích không lợi nhuận, có một bộ phận của giáo dục được xem là loại dịch vụ khả mại, và việc đầu tư phát triển được thực hiện theo cơ chế vì lợi nhuận (việc Việt Nam tham gia GATS đã khẳng định xu thế này). Hội đồng Anh nhận định Việt Nam là thị trường cạnh tranh của nhiều tập đoàn giáo dục đến từ Hoa Kì, Anh, Úc, Pháp, Đức, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Bỉ, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, Malaysia…Hiện chưa có nghiên cứu nào về thị trường này, tuy nhiên nó đã hình thành và tồn tại và có khả năng phát triển trong tương lai nếu được quan tâm đầy đủ và đúng mức.b) Xây dựng không gian giáo dục chungBên cạnh việc tham gia GATS, Việt Nam tham gia “Thông cáo Brisban” về hợp tác giáo dục của 52 nước APEC, tham gia Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục ASEM. Đây là một khu vực rộng lớn, có sự khác biệt lớn giữa các nước về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá nên chưa thể nói tới một không gian giáo dục chung. Tuy nhiên Việt Nam đang hướng tới “không gian giáo dục đại học ASEAN” vào năm 2015 khi cộng đồng ASEAN chính thức được thành lập.1.2.5. Xu thế về chính trị, xã hộia) Vai trò quyết định của chính phủ trong đầu tư cho giáo dục với tư cách là một lợi ích côngMặc dù giáo dục được xã hội hoá và một bộ phận được thị trường hoá, chính phủ vẫn đóng vai trò là nhà cung cấp phần lớn ngân sách cho giáo dục, bảo đảm giáo dục về cơ bản vẫn là một lợi ích công.Ngay trong các nước phát triển, mặc dù chính phủ cổ vũ cho tự do thương mại hoá giáo dục thì ngân sách chi cho giáo dục vẫn tăng cả về số tuyệt đối cũng như tính theo đầu người học.Ở Việt Nam, Luật Giáo dục quy định “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục”, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục chiếm tới 20% chi ngân sách.Tuy vậy trong xu thế chung của thế giới về nguyên tắc “chia sẻ chi phí” trong giáo dục, nhất là giáo dục đại học và dạy nghề, Việt Nam cũng đang có những bước đầu tiên trong việc thực hiện nguyên tắc này.b) Xác lập mô hình quản lí công mới, đổi mới cách quản lí nhà nước về giáo dụcCùng với việc từ bỏ độc quyền trong cung ứng giáo dục, một mô h́nh quản lí nhà nước mới về giáo dục cũng đang hình thành. Đó là việc phân quyền mạnh hơn cho các cơ sở giáo dục, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, nhà nước tập trung vào quản lí vĩ mô như hoạch định phương hướng phát triển, đa dạng hoá các thành phần cung ứng giáo dục, tăng cường quản lí chất lượng giáo dục, minh bạch hoá các hoạt động giáo dục…c) Xã hội hoá giáo dụcXã hội hoá giáo dục với phương châm “huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lí của nhà nước” (Nghị quyết TW 4, khoá VII) là xu thế tất yếu của giáo dục trong bối cảnh mới.

Xem thêm: Giáo Án Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thpt, Giáo Án Kỹ Năng Sống

1.3. Những yêu cầu mới đối với giáo dụcĐể đáp ứng những thay đổi to lớn và nhanh chóng trong kỉ nguyên quá độ lên nền kinh tế tri thức, kỉ nguyên thông tin, triết lí giáo dục trong thế kỉ XXI cũng có những thay đổi mạnh mẽ, hướng tới “một xã hội học tập”, “học thường xuyên, suốt đời” dựa trên 4 trụ cột “học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người”. Giáo dục không còn chủ yếu là đào tạo kiến thức và kĩ năng mà chủ yếu là rèn luyện năng lực – năng lực nhận thức, năng lực hành động, năng lực giao tiếp và truyền thông, năng lực quản lí và lãnh đạo. Bản Tuyên ngôn toàn cầu về giáo dục đại học của Liên Hợp Quốc khẳng định: thế kỉ XXI “có một nhu cầu chưa từng thấy về sự đa dạng, phong phú trong giáo dục đại học cũng như những nhận thức ngày càng cao về tầm quan trọng sống còn của giáo dục đại học đối với sự phát triển kinh tế và văn hoá của xã hội”. Giáo dục nói chung, trong đó có giáo dục đại học và chuyên nghiệp, của thế giới đang phát triển nhanh chóng theo những xu hướng rõ rệt: đại chúng hoá, thị trường hoá, đa dạng hoá và quốc tế hoá cùng những quan niệm mới, yêu cầu mới về vấn đề có tính sống còn đối với bất kì mô hình cải cách giáo dục nào – đó là chất lượng giáo dục. Vì thế, ngày nay, hơn bao giờ hết, tất cả các quốc gia đang đứng trước những thách thức to lớn là lựa chọn các giải pháp phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học – nơi cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng những đổi thay to lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, giáo dục nói chung, giáo dục đại học và chất lượng của nó nói riêng, càng trở lên quan trọng hơn. Ở đây, giáo dục đại học phải được xem là chìa khoá mở cửa vào tương lai, việc không quan tâm đến giáo dục đại học và chất lượng của nó đồng nghĩa với việc tự tước bỏ một phương tiện cốt yếu nhất để phát triển quốc gia. Chính vì vậy, các quốc gia đang hết sức quan tâm đến mục tiêu, mô hình, quy mô, chất lượng của giáo dục.Những đổi mới trong giáo dục được thể hiện ở những điểm sau:a) Đổi mới tư duy về giáo dụcĐi vào nền kinh tế tri thức, người ta nói đến yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy nói chung, đổi mới tư duy về giáo dục nói riêng để tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội về sự phát triển giáo dục trong bối cảnh mới.b) Đổi mới trong mục tiêu, nội dung phương pháp và kiểm tra đánh giá trong giáo dụcCách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ trong những năm qua làm tăng vọt khối lượng tri thức của nhân loại, giáo dục không thể thực hiện được chức năng truyền thống của nó là truyền đạt lại khối kiến thức khổng lồ ấy. Do vậy, nội dung các môn học trong tương lai không phải là liệt kê hết những kiến thức cần truyền đạt, mà chỉ là những kiến thức cơ bản, nền tảng, chủ yếu rèn luyện cho người học kĩ năng tư duy, kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng biểu đạt, kĩ năng khai thác, xử lí thông tin và áp dụng, sử dụng có ích các thông tin đó và trên cơ sở đó, biến thông tin thành tri thức.Mục tiêu, nội dung giáo dục được đổi mới tất yếu dẫn đến sự đổi mới phương pháp giáo dục. Phương pháp dạy – học mới đòi hỏi thầy và trò cùng nhau khám phá kiến thức, tìm tòi cái mới với sự hỗ trợ của các phương tiện giáo dục hiện đại, đặc biệt là của CNTT.c) Giáo dục suốt đời và phổ cập CNTTTrong thời đại thông tin, lượng thông tin tăng và biến đổi cực kì nhanh chóng; do vậy, quan điểm giáo dục suốt đời là quan điểm chủ đạo của nền giáo dục phục vụ sự phát triển nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức đòi hỏi mỗi người phải luôn bổ sung tri thức mới với sự hỗ trợ của CNTT. Để thực hiện nhiệm vụ này, yêu cầu về phổ cập CNTT và biết ngoại ngữ là điều cần thực hiện càng sớm càng tốt.d) Học tập không tập trung, học tập từ xaSự phát triển của Internet sẽ giúp thoả mãn nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời, qua đó phát triển các phương thức đào tạo phi truyền thống như đào tạo phi tập trung, đào tạo từ xa.1.4. Đặc trưng của giáo dục nói chung và giáo dục các bậc học nói riêng trong bối cảnh mới1.4.1. Đặc trưng của giáo dục nói chunga) Phổ cập hoá giáo dục phổ thôngPhổ cập giáo dục tiểu học được nhắc tới từ năm 1990 (Tuyên bố Jomtien), và được nâng lên thành phổ cập giáo dục THCS năm 2000 (Tuyên bố Dakar). Việc mở rộng phạm vi phổ cập tới THPT tỏ ra còn xa vời với nhiều nước đang phát triển. Tuy nhiên do vai trò ngày càng tăng của nguồn nhân lực có trình độ THPT trong phát triển kinh tế-xã hội nên việc phổ cập THPT đang là xu thế chung của cả các nước đang phát triển.b) Đại chúng hoá giáo dục đại họcHội nghị quốc tế năm 1998 về giáo dục đại học cho thế kỉ XXI đã ra tuyên bố kêu gọi các chính phủ đẩy mạnh cải cách giáo dục đại học nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho nền kinh tế trí thức đang hình thành và phát triển thành xu thế chủ đạo của kinh tế trong kỉ nguyên thông tin. Để thực hiện được sứ mệnh đó, giáo dục đại học không thể chỉ là giáo dục tinh hoa (tỉ lệ thô nhập học đại học dưới 15%), mà phải chuyển sang nền giáo dục đại học đại chúng (30-45%), thậm chí giáo dục đại học phổ cập (trên 50%).c) Xây dựng xã hội học tâpĐể có thể sống, làm việc trong kỉ nguyên thông tin, kinh tế trí thức, trong bối cảnh khoa học công nghệ có những bước tiến to lớn và nhanh chóng thì việc học tập suốt đời là nguyện vọng, nhu cầu của mọi người. Để đáp ứng nhu cầu đó, xã hội phải tạo mọi điều kiện để bất kì ai, bất kì lúc nào cũng được và có thể học, không những để cập nhật kiến thức mà còn để con người có khả năng đáp ứng với những thay đổi trong công việc hằng ngày. Vì vậy xây dựng một xã hội học tập là một xu thế tất yếu, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong tư duy về giáo dục; thay thế việc học một lần trong trường bằng việc học suốt đời ngoài trường, trong công việc và trong xã hội.d) Đa dạng hoá giáo dụcThế kỉ XXI đang chứng kiến một nhu cầu học rất đa dạng, phong phú của mọi tầng lớp dân cư, ở mọi cấp học, bậc học. Để đáp ứng nhu cầu đó, giáo dục đang thực thi những biện pháp mềm dẻo, linh hoạt.Trong giáo dục phổ thông xuất hiện các lớp ghép, các điểm trường, các lớp ngoài giờ…Trong giáo dục đại học xuất hiện các loại cơ sở đào tạo đặc biệt phong phú: các đại học chuyên ngành, đại học mở, đại học cộng đồng,… Bên cạnh các cơ sở giáo dục đại học công lập, xuất hiện các đại học tư thục thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội khác nhau, các cơ sở giáo dục đại học có yếu tố nước ngoài.Các hình thức tổ chức đào tạo cũng rất đa dạng. Ngoài hình thức đào tạo chính quy, xuất hiện hình thức vừa làm vừa học, chuyên tu, từ xa, E-learning….Phương thức tổ chức đào tạo cũng có nhiều thay đổi, mềm dẻo, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của từng người học (học chế tín chỉ). e) Nâng cao chất lượng giáo dụcXã hội hoá giáo dục, đa dạng hoá các loại hình giáo dục trong bối cảnh xã hội có nhu cầu ngày càng lớn đối với nguồn nhân lực đặt ra cho giáo dục một yêu cầu mang tính sống còn là chất lượng giáo dục. Đây là cơ sở để cung cấp nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng một cách bền vững.g) Dân chủ hoá giáo dụcGiáo dục được xem là sự nghiệp của toàn dân. Mặc dù nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo, song các tầng lớp nhân dân vẫn có thể tham gia kể cả trong việc hoạch định chính sách và thực thi các chính sách trong giáo dục. Việc tổ chức các hoạt động giáo dục và đào tạo cũng dần quan tâm hơn tới nhu cầu của các tầng lớp dân cư, thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt, đáp ứng nguyện vọng của các nhóm dân cư khác nhau.h) Quốc tế hoá giáo dụcHội nhập kinh tế quốc tế dẫn tới một xu thế mới trong giáo dục, có tên gọi Giáo dục xuyên biên giới. Đó là sự dịch chuyển xuyên biên giới của 4 nhân tố cơ bản của giáo dục: người học, nhà giáo, CTGD và nhà cung ứng dịch vụ giáo dục… Song song với việc hợp tác về giáo dục phi thương mại, đã và đang hình thành sự dịch chuyển dịch vụ giáo dục theo cơ chế thương mại. Hai bộ phận này tuy đối lập nhau, song bổ sung nhau và cùng tồn tại.1.4.2 Đặc trưng của giáo dục phổ thônga) Đổi mới mô hình trường phổ thông, chuyển từ nhà trường kiến thức sang nhà trường kĩ năng, nhà trường năng lực và nhân văn. Trong đó:- Mục tiêu giáo dục phổ thông là phát triển nhân cách, giá trị và năng lực đa dạng ở HS, bao gồm: phát triển các giá trị cá nhân; hình thành và phát triển các năng lực xã hội, ý thức trách nhiệm và hành vi công dân, ý thức trách nhiệm và hành vi dân tộc, quốc tế; phát triển lương tri, lương tâm con người; phát triển các năng lực cá nhân, năng lực thể chất; …- Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức dạy học – giáo dục, phương pháp dạy học – giáo dục, các hình thức kiêm tra đánh giá trong dạy học và giáo dục.- Thay đổi vị thế của HS: HS phải là chủ thể trong quá trình rèn luyện phẩm chất, năng lực của chính bản thân mình (không ai học hộ được ai). Mối quan hệ giữa HS, đối tượng học (môn học, bài học), GV cũng được thay đổi theo hướng HS được trực tiếp thao tác trên đối tượng học dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của GV. GV sẽ đóng vai trò người hướng dẫn, tư vấn, đánh giá.b) Giáo dục phổ thông là nền tảng của giáo dục suốt đời.c) Giáo dục phổ thông phục vụ cho yêu cầu phát triển bền vững.d) Giáo dục phổ thông xây dựng và phát triển nhân cách con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển của đát nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.e) Giáo dục phổ thông hiện đại hoá cùng với sự phát triển của CNTT và truyền thông.g) Giáo dục phổ thông chuyển dần từ chuẩn hoá sang cá biệt hoá.h) Giáo dục phổ thông được xã hội hoá trên nguyên tắc đảm bảo GDPT là lợi ích công.(Theo Phan Trọng Ngọ và cộng sự, Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đổi mới đào tạo GV đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông thời kì công nghiệp hoá – hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ, Mã số: 2011-17 – CT 01).

Xem thêm: Bài Luận Mẫu Xét Tuyển Đại Học, Cách Viết Bài Luận Để Được Ưu Tiên Xét Tuyển

1.4.3. Đặc trưng của giáo dục đại học và dạy nghềa) Đại hội IX của Đảng xác định mục tiêu tổng quát trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá”.Đảng, Nhà nước ta coi phát triển giáo dục và khoa học công nghệ là “quốc sách hàng đầu”, và giáo dục đại học được xem là “quốc sách kép” vì nó thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ “đào tạo và nghiên cứu khoa học”.Mục tiêu phát triển giáo dục đại học đến năm 2020 trong Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là: “Đến năm 2020, giáo dục đại học phải có bước tiến cơ bản về chất lượng và quy mô đáp ứng nhu cầu nhân lực cả về chất lượng và số lượng cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao tiềm năng trí tuệ, tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, nâng một số trường đại học lên đẳng cấp quốc tế, góp phần quan trọng vào việc nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền kinh tế đất nước”.Với mục đích đó, giáo dục đại học Việt Nam phải đảm bảo sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực có đầy đủ kiến thức, kĩ năng, năng lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế-xã hội, khoa học công nghệ, củng cố an ninh, quốc phòng.b) Nghị quyết của Chính phủ về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 nêu rõ quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục đại học Việt Nam là: “Gắn kết chặt chẽ đổi mới giáo dục đại học với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nhu cầu nhân lực chất lượng cao của đất nước và xu thế phát triển của khoa học và công nghệ”.- Hiện đại hoá hệ thống giáo dục đại học trên cơ sở kế thừa những thành quả giáo dục đào tạo của đất nước, phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhanh chóng tiếp cận xu thế phát triển giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới.- Đổi mới giáo dục đại học phải đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả và đồng bộ, lựa chọn khâu đột phá, lĩnh vực ưu tiên và cơ sở trọng điểm để tập trung nguồn lực tạo bước chuyển biến rõ rệt.- Trên cơ sở đổi mới tư duy và cơ chế quản lí giáo dục đại học, kết hợp hợp lí và hiệu quả giữa việc phân định chức năng, nhiệm vụ quản lí nhà nước và việc đảm bảo quyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở giáo dục đại học .- Đổi mới giáo dục đại học là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí của Nhà nước.

Viết một bình luận