modun 23 thcs

Số trang: 10 | Loại file: DOC | Lượt xem: 8577 | Lượt tải: 1
PHÒNG GD&ĐT THỊ XÃ GIA NGHĨA TRƯỜNG THCS NG.

Đang xem: Modun 23 thcs

BỈNH KHIÊM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CỦA CÁ NHÂN NĂM HỌC 2015 – 2016 NỘI DUNG 3: MODULE 23 Họ và tên giáo viên: Nguyễn Đức Quyền Chức vụ: Giáo viên Chuyên môn : Sinh Đơn vị: Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, Gia Nghĩa, Đak Nông. Câu hỏi: Qua công tác Bồi dưỡng thường xuyên năm học 2015-2016, ở nội dung bồi dưỡng 3(có các mô đun 23,24, 28,29) thầy cô tâm đắc với mô đun nào nhất. Thầy cô trình bày mô đun đó. BÀI LÀM Căn cứ vào tình hình thực tế vào các nhiệm vụ mà giáo viên trong tổ đảm nhận, bản thân xây dựng kế hoạch triển khai chương trình bồi dưỡng thường xuyên (BDTX) giáo viên THCS năm học 2015 – 2016; qua một năm thực hiện bản thân quan tâm đến Mô đun THCS 23: Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh . Sau khi kết thúc việc học tập module này: Nắm được các bước cơ bản để xây dựng đề kiểm tra; nắm được kĩ thuật kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS. Thực hiện được việc biên soạn đề kiểm tra cho môn học cụ thể. Sử dụng được các kĩ thuật kiểm tra, đánh giá trong dạy học để đánh giá kết quả học tập của học sinh và nâng cao hiệu quả dạy học. Có thái độ tích cực trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực sử dụng các kĩ thuật kiểm tra, đánh giá phù hợp với đổi tượng và môn học cụ thể. Đối với nội dung của mô đun, qua quá trình thực hiện, bản thân nhận thấy: Nội dung 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. 1. Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo. Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập thông tin, xử lí thông tin và diễn giải hiện trạng, nguyên nhân, hiệu quả, chất lượng giáo dục theo 2 khía cạnh khác nhau: kết quả học tập đạt được của học sinh so với kết quả học tập của học sinh khác và kết quả học tập đạt được của học sinh so với mục tiêu giáo dục đã đặt ra. Kiểm tra là một tiến trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều đã được hoạch định, đồng thời sửa chữa những sai lầm để đảm bảo việc đạt được mục tiêu theo như kế hoạch hoặc các quyết định đã được đề ra. 1 Đo lường là một quá trình đánh giá định lượng một đại lượng cần đo để có kết quả bằng số so với đơn vị đo. Hoặc có thể định nghĩa rằng đo lường là hành động cụ thể thực hiện bằng công cụ đo lường để tìm trị số của một đại lượng chưa biết biểu thị bằng đơn vị đo lường Như vậy kiểm tra là quá trình thu thập thông tin làm cơ sở cho đánh giá. Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập xử lý thông tin về trình độ, khả năng người học thực hiện. Đo lường kết quả học tập là quá trình đối chiếu các thông tin thu được với tiêu chuẩn hoặc tiêu chí. Việc đo lường mang tính phức tạp, có một số đặc trưng như định tính và định lượng, trực tiếp và gián tiếp. 2. Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá: Công khai hoá nhận định về năng lực và kết quả học tập của mọi học sinh và tập thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ của mình; khuyến khích, động viên việc học tập. Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học. 3.Ý nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đối với cán bộ quản lí. Đối với học sinh: việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên, cung cấp kịp thời những thông tin giúp người học điều chỉnh hoạt động học. Đối với giáo viên: Kiểm tra, đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông tin giúp người dạy điều chỉnh hoạt động dạy. Đối với cán bộ quản lí nhà trường: kiểm tra, đánh giá cung cấp cho lãnh đạo những thông tin về thực trạng dạy và học trong nhà trường để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. 4. Vai trò của kiểm trar đánh giá: Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chú trọng đến dạy cái gì mà cần quan tâm đến dạy học như thế nào. Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao chất luợng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ từ đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học. Kiểm tra, đánh giá có vai trò rất to lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy học; là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lí giáo dục. Nếu kiểm tra, đánh giá sai sẽ dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo, tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi mới kiểm tra, đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành Giáo dục và toàn xã hội ngày nay. Kiểm tra, đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập Như vậy, kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học và có thể nói kiểm tra đánh giá là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học. Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học; Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình, giúp phát triển năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất 2 nhiều. Quá trình đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự tin. Nếu chúng ta chỉ tập trung đánh giá kết quả như một sản phẩm cuối cùng của quá trình dạy và học, thì học sinh chỉ tập trung vào những gì giáo viên ôn và tập trung vào những trọng tâm giáo viên nhấn mạnh, thậm chí những dạng bài tập cho trước; HS chỉ việc thay số trong bài toán mẫu, bắt trước câu văn mẫu, để đạt được điểm số tối đa theo mong muốn của thầy, cô giáo. Và như vậy, kiểm tra đánh giá đã không còn theo đúng nghĩa của nó. Bởi khi xây dựng chương trình, người ta cần xác định rõ mục tiêu của kiểm tra đánh giá là gì? Kiểm tra đánh giá xem học sinh có đạt mục tiêu học tập, giáo dục, có đạt được kết quả mong đợi theo chuẩn? Và sử dụng kết quả kiểm tra đó để làm gì? Làm thế nào để giáo viên cải tiến nâng cao chất lượng quá trình dạy và học nếu không có đánh giá phản hồi từ học sinh? Đánh giá kết quả học tập của học sinh là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đã đề ra sau một giai đoạn học tập. Nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục: – Thể hiện kết quả của quá trình GD và đào tạo: kết quả từng giai đoạn, từng học kỳ, từng năm học. – Tạo cơ sở cho những quyết định của giáo viên và nhà trường: giúp giáo viên trong việc đánh giá xếp loại năng lực học sinh, kịp thời có những quyết định khen thưởng – kỷ luật hợp lý. – Giúp bản thân HS thấy được kết quả học tập của mình, đồng thời thúc đẩy họ học tập tiến bộ hơn. Để đánh giá được kết quả học tập, người giáo viên cần phải thu thập thông tin, đối chiếu, so sánh và đi đến kết luận phù hợp. Muốn quá trình thu thập thông tin có hiệu quả, giáo viên cần phải quan sát học sinh, đặt câu hỏi cho học sinh trả lời, cho đề học sinh làm bài. Để có thể đi đến kết luận chính xác, giáo viên cần phải đối chiếu câu trả lời hay bài làm của học sinh với các đáp án, thang điểm hợp lý. Vậy đánh giá kết quả học tập của học sinh là đưa ra những nhận định, những phán xét về mức độ thực hiện mục tiêu giảng dạy đã đề ra của học sinh. Từ đó đưa ra các giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, đưa ra các khuyến nghị góp phần thay đổi các chính sách giáo dục. 5. Các chức năng của đánh giá kết quả học tập: Chức năng xác nhận: Xác định mức độ của người học, làm căn cứ cho các quyết định phù hợp. Cung cấp những số liệu để thừa nhận hay bác bỏ sự hoàn thành hay chưa hoàn thành của khóa học Chức năng định hướng: Xác định điểm mạnh và điểm yếu của học sinh, giúp giáo viên đưa ra các quyết định có liên quan đến các kế hoạch, nội dung, phương pháp, sắp xếp nhóm học tập, bồi dưỡng năng khiếu…. Chức năng hỗ trợ: Quá trình dạy học là 1 tiến trình dài. Học sinh thường khó bảo toàn, toàn bộ kiến thức.Vì vậy, kiểm tra đánh giá góp phần điều chỉnh, hỗ trợ, giúp cho quá trình học tập có hiệu quả. Trong nhà trường THCS hiện nay, việc tiến hành đánh giá kết quả học tập của học sinh diễn ra một cách đồng bộ, nhịp nhàng và thường xuyên, đảm bảo thể hiện đầy đủ các chức năng ở các loại hình kiểm tra : – Kiểm tra miệng ở đầu mỗi tiết học 3 – Kiểm tra 15 phút – Kiểm tra 1 tiết ở cuối chương, hoặc cuối 1 giai đoạn – Kiểm tra giữa học kỳ – Kiểm tra học kỳ 6. Các yêu cầu đối với kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS. Đảm bảo sự phù hợp của phương pháp kiểm tra đánh giá với các mục tiêu đã xác định. Đảm bảo tính giá trị, những thông tin thu được phải là những bằng chứng để đi đến những kết luận phù hợp. Đảm bảo tính tin cậy: phản ánh đúng kết quả học tập của người học. Đảm bảo tính công bằng: tạo điều kiện cho tất cả học sinh có cơ hội như nhau. 7. Thực trạng của kiểm tra đánh giá học sinh trong trường phổ thông hiện nay. Việc kiểm tra đánh giá hiện nay là chưa xác định rõ đánh giá: đánh giá để làm gì, tại sao phải đánh giá, đánh giá nhằm thúc đẩy, hình thành khả năng gi ở học sinh?… Đánh giá trước hết phải vì sự tiến bộ của học sinh, đánh giá không làm học sinh lo sợ, bị thương tổn, mất tự tin. Đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình dạy học, giúp học sinh liên tục được phản hồi để biết mình mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ở điểm nào để cả giáo viên và học sinh cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học. Đánh giá phải tạo ra sự phát triển, phải nâng cao năng lực của người học, tức là giúp các em hình thành khả năng tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau… để phát triển năng lực tự học. Hiện nay chủ yếu mới chỉ tập trung vào đánh giá kết quả học tập, để xếp loại học sinh…Giáo viên cũng gặp rất nhiều khó khăn khi phải đánh giá các hoạt động giáo dục , không biết đánh giá các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đánh giá đạo đức, giá trị sống, kỹ năng sống như thế nào…. Nếu đánh giá chỉ là kiểm tra sự học thuộc bài, làm lại theo các kiểu, dạng bài mẫu thầy đã cho… sẽ triệt tiêu sự phát triển, sự nỗ lực vươn lên ở người học. Trong đánh giá học sinh hiện tại là đánh giá chấm điểm mà không có sự phản hồi cho học sinh. Gíao viên chấm bài kiểm tra, thường chỉ cho điểm hoặc chỉ phê chứ chưa giải thích được rõ cho học sinh biết tại sao sai, sai như thế nào. Một số giáo viên chấm bài có sự phản hồi nhưng phản hồi không đủ, phản hồi tiêu cực, không mang tính xây dựng làm cho người học chán nản… Khi phản hồi của giáo viên đối với bài làm của HS mang sắc thái xúc cảm âm tính, tiêu cực, có thể làm học sinh xấu hổ, mất tự tin. Bên cạnh đó, nếu giáo viên có phản hồi chung (chữa bài kiểm tra trên lớp) lại thường đưa ra lời giải đúng theo cách tư duy “áp đặt” của giáo viên , mà không giúp phân tích mổ sẻ những cách tư duy chưa phù hợp của học sinh dẫn đến sự sai sót. điều này làm cho quá trình dạy học bị bóp méo chỉ để phục vụ mục đích thi cử, nên mới xảy ra hiện tượng mọi học sinh “muốn điểm cao phải đi học thêm” nhưng thi xong không còn nhớ được nội dung chính là gì.. Một thực trạng hiện nay, giáo viên sử dụng hầu như rất hạn chế các hình thức đánh giá mới, hiện đại, phần lớn những đánh giá giáo viên đang sử dụng có tính truyền thống: dựa vào viết luận, làm các bàì tập như kiểm tra 15 phút, 1 tiết… , và thông qua một số câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận mà chính giáo viên cũng không rõ mình định đánh giá kỹ năng hay năng lực gì ở học sinh. Khi giáo viên 4 chưa đa dạng hóa các kiểu đánh giá sẽ làm cho hoạt động học tập trở nên nhàm chán, sẽ khó phát triển các năng lực bậc cao ở người học (như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo…). Trong khi đó, yêu cầu của đổi mới kiểm tra đánh giá là phải áp dụng đa dạng các hình thức đánh giá: đánh giá bằng trắc nghiệm, bằng kiểm tra viết kiểu tự luận, vấn đáp… đánh giá thông qua sản phẩm, qua hồ sơ học sinh, qua thuyết trình/trình bày, thông qua tương tác nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm…, đánh giá bằng các tình huống bài tập, các hình thức tiểu luận, …, thì giáo viên chưa làm được vì chưa được đào tạo. 8. Những khó khăn hay bất cập trong kiểm tra đánh giá học sinh hiện nay nên hiểu thế nào để tìm cách khắc phục Thực tế việc triển khai ứng dụng đổi mới kiểm tra đánh giá ở trường phổ thông còn gặp rất nhiều khó khăn. Bởi từ trước đến nay giáo viên thường kiểm tra đánh giá dựa trên những kinh nghiệm, soạn câu hỏi kiểm tra miệng, hay bài kiểm tra 15 phút, bài thi 1 tiết hoặc học kỳ phần lớn dựa trên kinh nghiệm. Giáo viên thường ra đề kiểm tra, đề thi dựa trên theo kinh nghiệm, thói quen mà ít khi để ý đến cơ sở khoa học, tính quy chuẩn của việc thiết kế đề thi hay đề kiểm tra. Các đề thi, kiểm tra chủ yếu là nhằm đánh giá việc nhớ, hiểu kiến thức, kỹ năng thực hành, mà ít chú ý đánh giá khả năng học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn đời sống, ít chú ý đến việc đánh giá năng lực người học theo chuẩn mong đợi. Giáo viên chọn kiểu câu hỏi, cách thức ra đề thi đánh giá học sinh chủ yếu do tham khảo những đề mẫu, mà ít khi để ý đến mục tiêu đo lường, đánh giá, ít khi suy nghĩ về cơ sở khoa học của việc ra đề thi hay đề kiểm tra là nhằm kiểm tra kiến thức, kỹ năng gì, đặc biệt là kiểm tra năng lực gì trong đó, họ không định hình rõ ràng. Chính vậy mà giáo viên sưu tầm một số đề cảm thấy “hay” trong sách giáo khoa hay sách tham khảo, để soạn đề cho mình. Còn các kiến thức được tập huấn về thiết kế đề thi như thế nào cho khoa học nhiều lúc còn mới lạ, giáo viên không đủ thời gian để làm những cái đó, mặt khác giáo viên cũng không được các cấp quản lý hỗ trợ về thời gian, kinh phí, cũng như bồi dưỡng cho giáo viên các kỹ thuật để xây dựng các đề kiểm tra, đề thi theo một quy trình, dựa trên cơ sở khoa học đo lường và đánh giá. Điểm nữa là, sau mỗi bài kiểm tra, kỳ thi, giáo viên thường chỉ quan tâm đến điểm số của học sinh để lên bảng điểm, xếp loại, đánh giá, chứ không nghĩ rằng cần phân tích đánh giá chất lượng các đề kiểm tra, thi để rút kinh nghiệm giúp phát hiện những thiếu sót gì ở học sinh, để điều chỉnh hoạt động dạy và học. Nhiều giáo viên chỉ quan tâm, kiểm tra đánh giá để có điểm, thực hiện yêu cầu theo quy chế mà quên rằng kiểm tra đánh giá còn có nhiều chức năng khác. 9. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS Muốn nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS, đánh giá phải tạo ra động lực để đối tượng được đánh giá vươn lên. Do vậy, đánh giá phải linh hoạt, mềm dẻo có tác dụng khích lệ, động viên. Tiêu chí đánh giá cũng như kết quả đánh giá phải được công bố công khai và kịp thời cho học sinh. Nội dung 2: Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong nhà trường hiện nay thường được tiến hành với các hình thức: – Phương pháp Kiểm tra viết dạng tự luận. 5 – Phương pháp Kiểm tra trắc nghiệm khách quan. – Phương pháp Kiểm tra vấn đáp. – Phương pháp quan sát. 1. Bài kiểm tra tự luận a/ Khái niệm: Bài kiểm tra dạng tự luận truyền thống là bài thi trong đó, học sinh tự do viết câu trả lời ra giấy về một vấn đề cho trước. Dựa vào những câu trả lời được viết ra , giáo viên cần cho điểm hoặc xác định các mức độ kết quả bài thi. Kiểm tra viết dạng tự luận là phương pháp dùng bài kiểm tra viết dạng tụ luận để đo lường mức độ mà cá nhân đạt được ở một lĩnh vục cụ thể. Một bài kiểm tra viết dạng tụ luận thường cỏ ít câu hỏi, mỗi câu hỏi phải viết nhiều câu để trả lời và cần phải có nhiều thời gian để trả lời mỗi câu hỏi. Câu trả lời thể hiện ờ hai dạng: Câu có sự trả lời mở rộng: Là loại câu có phạm vi rộng và khái quát, học sinh tự do biểu đạt tư tưởng và kiến thức; Câu tự luận trả lời có giới hạn: Các câu hỏi được diễn đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi đuợc nêu rõ để người trả lời biết được độ dài ước chùng của câu trả lời. Bài kiểm tra với loại câu này thường có nhiều câu hỏi hơn bài có câu tự luận trả lời mở rộng. – Một số ưu điểm và hạn chế của bài kiểm tra tự luận: + Ưu điểm Có khả năng đo lường được các mục tiêu đã xác định trước. Khả năng độc lập suy nghĩ, phát huy tính sáng tạo trí tuệ và cảm xúc của học sinh. Đánh giá được kiến thức và thái độ của học sinh. + Hạn chế Nội dung bài thi khó bao quát tòan bộ chương trình, chỉ tập trung vào một số ít phần chính. Khó xác định các tiêu chí đánh giá. Bài thi khó chấm và chấm lâu. Khó đảm bảo tính khách quan trong khâu chấm bài, mang tính chủ quan của người chấm. b/ Một số gợi ý khi sử dụng phương pháp – Xác định rõ ràng mục tiêu đánh giá – Câu hỏi phải phù hợp với nội dung và mục tiêu học tập. – Sắp xếp các câu theo trình tự từ dễ đến khó. – Quy định thời gian và điểm cho mỗi câu hỏi – Chấm bài phải chấm theo đáp án. Khi tiến hành phương pháp kiểm tra viết dạng tự luận, người giáo viên thường cho ít câu hỏi, mỗi câu hỏi cần nhiều thời gian để trả lời, cho phép một sự tự do tương đối để trả lời các vấn đề đã đặt ra. Phương pháp này có thể đánh giá được mức độ hiểu sâu, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng giải thích hoặc tổng hợp các sự kiện. Tuy nhiên, một bài kiểm tra viết dạng tự luận thường có ít câu hỏi, do đó khó có thể đánh giá tổng thể một lượng kiến thức cần đánh giá. Hơn nữa, khi làm bài viết tự luận, học sinh thường chỉ tập trung vào một số chủ đề, thể loại, các mối quan hệ, cách tổng hợp sắp xếp thông tin. Việc chấm điểm một bài tự luận thường gặp 1 số khó khăn và tốn thời gian. Theo tôi, để giảm các hạn chế nói trên, trong kiểm tra đánh giá, giáo viên nên kết hợp các phương pháp khác với nhau. Có như thế thì kết quả kiểm tra đánh giá học sinh mới mang tính chính xác, khách quan, hiệu quả và toàn diện. 6 2. Kiểm tra vấn đáp a/ Khái niệm: Kiểm tra miệng là phương pháp đánh giá rất phổ biến trong dạy học. Trong đó GV đưa ra các câu hỏi ngắn để học sinh trả lời. học sinh có thể được chuẩn bị, hoặc không được chuẩn bị trước câu hỏi. Căn cứ vào câu trả lời, GV có thể đo lường và đánh giá các kết quả đạt được ở học sinh. + Điểm mạnh – Tính linh hoạt, cơ động. – Có thể kiểm tra trí nhớ, tư duy hay các phẩm chất tâm lý khác. – Có thể tiến hành trong và ngoài lớp học. – Dùng để đánh giá học sinh trước, trong và kết thúc khóa học. – Giá trị chẩn đóan các câu hỏi miệng khá cao, vì GV có điều kiện trao đổi với từng HS và kích thích tư duy của họ. + Hạn chế. – Phương pháp đánh giá mang đậm chất chủ quan của GV (cách đặt câu hỏi, nhận xét và đánh giá tức thời). – Khó so sánh giữa các học sinh. – Tốn nhiều thời gian trong quá trình kiểm tra. – Nhiều học sinh ngại tiếp xúc, ngại nói trước mặt GV, ảnh hưởng đến kết quả bài thi. b/ Một số gợi ý khi sử dụng phương pháp đánh giá bằng vấn đáp. – Xác định rõ ràng mục đích của bài kiểm tra vấn đáp. + Nhằm mục đích gì. + Đánh giá nhanh kiến thức của học sinh trong giờ học hay bài thi hết môn, cuối khóa. – Câu hỏi nên được soạn trước để học sinh có thời gian chuẩn bị, nhất là đối với bài thi cuối khóa. – Dung lượng câu hỏi không quá dài; Nội dung phải phù hợp với mục tiêu đánh giá; Không đề cập nhiều nội dung trong một câu hỏi; Hạn chế câu hỏi có tính chất học thuộc. Khuyến khích các câu hỏi suy luận và kích thích tư duy của HS. – Câu hỏi rõ ràng, nhất quán, ngôn ngữ chính xác – Thái độ hỏi thi của GV có ảnh hưởng rất lớn đến câu trả lời của học sinh. Không nên có thái độ nóng nảy trong lúc hỏi thi. Có những câu hỏi phụ để gợi mở. Kiểm tra vấn đáp là 1 phương pháp được sử dụng phổ biến trong kiểm tra, đánh giá kết quả của học sinh hiện nay. Phương pháp này giúp giáo viên thu được tín hiệu từ mọi đối tượng học sinh một cách nhanh chóng. giúp cả giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh các hoạt động. Phương pháp này thật sự cần thiết, có thể kích thích học sinh học bài mỗi ngày,giúp học sinh tự kiểm tra tri thức thông qua câu trả lời của mình hoặc của bạn. Phương pháp này có thể được sử dụng ở mọi thời điểm trong tiết học, cũng như ở mỗi cuối học kỳ hoặc cuối năm khi học sinh cần trình bày, diễn đạt bằng ngôn ngữ nói. Tuy nhiên, kiểm tra vấn đáp còn gặp 1 số hạn chế, đòi hỏi người giáo viên phải nêu câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, phải khéo léo trong dẫn dắt học sinh đi đến trả lời. Kiểm tra vấn đáp đôi khi tốn nhiều thời gian, ảnh hưởng không ít đến việc thực hiện kế hoạch của giáo viên và học sinh. Kết quả kiểm tra vấn đáp đôi khi còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người hỏi vá tâm trạng hay sự bình tĩnh của người trả lời. 7 3. Bài kiểm tra trắc nghiệm a/ Khái niệm: Phương pháp đánh giá bằng bài thi trắc nghiệm là phương pháp sử dụng bài trắc nghiệm làm công cụ để đánh giá kết quả học tập của HS. Một bài trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu được trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản, hay một từ hoặc một cụm từ. b/ Ưu điểm – hạn chế của Trắc nghiệm + Ưu điểm – Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của học sinh là 1 phương pháp hiệu quả, có khả năng đo được nhận thức của học sinh theo mục tiêu: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá. Ngoài ra còn đo được các mục tiêu cảm xúc và tâm vận của học sinh. – Tính khách quan cao. Điểm số có độ tin cậy cao. – Tính bao quát về nội dung lẫn đối tượng cao . – Tiết kiệm thời gian (làm nhanh, dễ chấm, chấm nhanh…) + Hạn chế – Khó đánh giá chiều sâu trong nhận thức của học sinh, đặc biệt là sức sáng tạo của HS. – Việc soạn thảo bài trắc nghiệm khó, đòi hỏi người soạn phải có kĩ thuật, kinh nghiệm. – Việc soạn thảo hình thành bài TN tốn nhiều thời gian, qua nhiều công đoạn phức tạp. c/ Các loại câu hỏi trắc nghiệm Câu hỏi lựa chọn: Câu hỏi lựa chọn là loại câu hỏi, trong đó có phần gốc và phần trả lời. Phần gốc là một câu dẫn, tạo cơ sở cho sự lựa chọn. Phần trả lời là các phương án cho sẵn, trong đó có một phương án đúng nhất theo nội dung của phần dẫn, còn các phương án khác có tác dụng gây nhiễu. Trong một câu hỏi, tốt nhất là nên có từ 4-5 phương án lựa chọn. Câu hỏi đúng – sai: Câu hỏi đúng – sai là loại câu khẳng định hoặc phủ định về một vấn đề nào đó. học sinh phải đọc, suy nghĩ và nhận định lời khẳng định hoặc phủ định đó là đúng hay sai. Câu hỏi đúng sai phù hợp để hỏi những sự kiện, thuật ngữ và các kiến thức có quan hệ nhân quả. Dễ khuyến khích người trả lời phỏng đoán, không phù hợp khi dùng đo các kiến thức có tính suy luận cao, vì vậy không nên dùng nhiều trong các bài trắc nghiệm. Loại câu điền vào chỗ trống: loại câu này đòi hỏi trả lời bằng một hay một cụm từ cho một câu hỏi trực tiếp hay một câu nhận định chưa đầy đủ. Câu hỏi ghép đôi: Câu ghép đôi là câu hỏi có hai phần: phần dẫn và phần trả lời. Phần dẫn thường ở bên trái, là các câu, các mệnh đề nêu thuật ngữ, nội dung, định nghĩa…Phần trả lời là phần bên phải, cũng bao gồm các câu, mệnh đề…mà nếu được ghép đúng vào mệnh đề dẫn ở bên trái sẽ trở thành một phương án đúng, một ý hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của hs là ghép mệnh đề có trong phần trả lời vào mệnh đề tương ứng ở phần dẫn. 4. Phương pháp quan sát: Vấn đề đặt ra trong quan sát: Khi nào thì quan sát? Ai quan sát? Quan sát như thế nào? Những suy luận nào được rút ra khi thu được những thông tin khi quan sát. 8 Phương pháp quan sát Quan sát khi nào thì hiệu quả nhất: Quan sát học sinh trong tình huống giả định: khi học sinh thảo luận nhóm về một vấn đề mà GV đưa ra. Quan sát học sinh trong tình huống tự nhiên: những mẩu chuyện tình cờ, tình huống diễn ra tự nhiên + Ưu điểm đối với quan sát – Thuận lợi để đánh giá thái độ, cung cấp cho GV những thông tin bổ sung có giá trị mà những thông tin này khó đo được bằng các phương pháp khác Quan sát thường xuyên có thể cung cấp một sự kiểm tra liên tục về sự tiến bộ của học sinh. – GV có thể sửa lỗi kịp thời cho học sinh. + Hạn chế: Kết quả quan sát phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan của người quan sát. Những yếu tố chi phối ảnh hưởng đến sai sót khi quan sát: ấn tượng ban đầu của GV về học sinh, GV không quan tâm tới ảnh hưởng của mình tới học sinh, GV không quan tâm tới việc lí giải các hành vi của học sinh hoặc lí giải không đúng. + Yêu cầu đối với phương pháp quan sát – Xác định trước những sự kiện cần quan sát nhưng cũng cần chú ý đến những sự kiện bất thường. – Quan sát và ghi chép đầy đủ về sự kiện đặt trong một tình huống cụ thể để sự kiện trở nên có ý nghĩa hơn. – Sự kiện xảy ra cần phải được ghi chép lại càng sớm càng tốt. Mỗi bản ghi chỉ nên tập trung vào 1 sự kiện. – Quan sát cần lựa chọn: nếu quan sát một tập thể thì cũng tập chung vào một vài cá nhân: học sinh cá biệt, học sinh chậm chạp, học sinh có những biệu hiện lạ. Phương pháp thực hành quan sát có nhiều thuận lợi trong đánh giá thái độ hoặc kỹ năng của học sinh. Phương pháp này hướng các em đi vào các hoạt động, tạo cơ hội cho các em thể hiện những điều đã học theo những cách khác nhau, qua đó thể hiện được tính sáng tạo của học sinh.Thông qua các hoạt động quan sát, đánh giá thực hành, giáo viên có thể nắm bắt 1 số thông tin có giá trị. Tuy nhiên phương pháp này chỉ thu được những biểu hiện trực tiếp, bề ngoài. Kết quả quan sát còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người quan sát, số lượng quan sát không nhiều. Giáo viên thường mất nhiều thời gian đầu tư cho các bài tập hay và xây dựng các tiêu chí đánh giá.Học sinh mất nhiều thời gian để hoàn thành nhiệm vụ. 5. Đánh giá đầy đủ các mục tiêu học tập cần có sự lựa chọn và phối hợp các phương pháp đánh giá Mỗi phương pháp kiểm tra đánh giá đều có ưu điểm và hạn chế nhất định. Không có một phương pháp nào là tối ưu hay hạn chế nhất.Do đó, người giáo viên cần phải lựa chọn và phối hợp các phương pháp cho phù hợp với mục tiêu đánh giá. Để kết quả kiểm tra đánh giá đảm bảo tính khách quan, có giá trị, đáng tin cậy, giáo viên nên sử dụng phương pháp kiểm tra trắc nghiệm khách quan. Phương pháp này thường có nhiều câu hỏi, xoay quanh nhiều vấn đề, do vậy chúng ta có thể đánh giá được tổng thể lượng kiến thức cần đánh giá. 9 Kiểm tra viết tự luận là phương pháp có thể đánh giá được mức độ hiểu sâu, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng suy luận, giải thích hoặc tổng hợp các sự kiện. Qua đó, thể hiện được khả năng trình bày, diễn đạt hay tính sáng tạo của học sinh. Phương pháp kiểm tra vấn đáp giúp giáo viên thu được tín hiệu từ mọi đối tượng học sinh một cách nhanh chóng, giúp cả giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh các hoạt động. Phương pháp này thật sự cần thiết, có thể kích thích học sinh học bài mỗi ngày, có thể sử dụng mọi thời điểm trong tiết học, cũng như ở mỗi cuối học kỳ hoặc cuối năm khi học sinh cần trình bày, diễn đạt bằng ngôn ngữ nói. Phương pháp quan sát có nhiều thuận lợi trong đánh giá thái độ hoặc kỹ năng của học sinh. Phương pháp này hướng các em đi vào các hoạt động, tạo cơ hội cho các em thể hiện những điều đã học theo những cách khác nhau, qua đó thể hiện được tính sáng tạo của học sinh. Nói tóm lại, để việc đánh giá giá kết quả học tập của học sinh đảm bảo tính khách quan và hiệu quả, giáo viên cần phải lựa chọn, phối hợp nhiều phương pháp cho phù hợp với mục tiêu đánh giá là điều tất yếu. Gia Nghĩa, ngày 25 tháng 05 năm 2016 Người viết bài 10

Viết một bình luận