modun 14 thpt

MODULE 14 : Xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp.
Trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong
từng kế hoạch hoạt động đề đảm bảo sự thống nhất, hài hoà, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm
đạt mục tiêu dạy học tốt nhất. Dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà từ đó các nội dung, hoạt
động dạy kiến thức, kĩ năng, thái độ đuợc tích hợp với nhau trong từng một nội dung và hoạt động
dạy học đề hình thành và phát triển năng lực thực hiện hoạt động cho ngưởi học; tạo ra mối liên kết
giữa các môn học và tri thức, giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo và tính tích cực học tập.
1. Nội dung 1 : DẠY HỌC TÍCH HỢP
a. Hoạt động 1: Dạy học tích hợp là gì?
Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tực phân hoá sâu, song song với tích hợp liên
môn, liên ngành càng rộng, chính vì thế việc giảng dạy các môn khoa học trong nhà trưởng phải
phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, không thể giảng dạy các khoa học như là các lĩnh vực
tri thức liêng rẽ. Mặt khác, khỏi lượng tri thức khoa học đang gia tăng nhanh chóng mà thời gian
học tập trong nhà trưởng lại có giới hạn, do đó phải chuyển từ dạy các môn học liêng rẽ sang dạy các
môn học tích hợp.
Nếu trong nhà trưởng phổ thông, học sinh quen tiếp cận các khái niệm một cách rởi rạc, học
sinh có nguy cơ sau này tiếp tực suy luận theo kiểu khép kín. Những chương trình nghiên cứu quốc
tế đã cho thấy hiện tưởng “mù chữ chức năng”, đó là trưởng hợp những ngưởi đã lĩnh hội được kiến
thức trưởng tiểu học nhưng không có khả năng sử dựng các kiến thức đó vào cuộc sống hằng ngày:
Họ có thể đọc được một văn bản, nhưng không thể hiểu ý nghĩa của nó; có thể biết làm tính cộng,
nhưng khi có một vấn đề của cuộc sống hằng ngày đặt ra cho họ thì họ không biết phải làm tính
cộng hay tính trừ… Điều này đặt ra một đòi hỏi: cần phải dạy học trong sự tích hợp đề đào tạo
những con ngưởi đáp ứng được yêu cầu luôn luôn biến động của thực tiễn.
Mặt khác, với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học và kĩ thuật, nguồn thông tin hàng
ngày đổi mới và gia tăng, mọi kiến thức được học trong nhà trưởng có thể trở nên cũ đi, trong đó
học sinh lại có thể tiếp thu các nguồn thông tin qua nhiều kênh khác nhau ngoài nhà trưởng (đài,
báo, đặc biệt là internet). Đề việc học ở nhà trưởng vẫn tiếp tực là có ý nghĩa đổi với học sinh, việc
dạy học cần đuợc đổi mới, không chỉ là dạy kiến thức mà cần phải dạy các kĩ năng, không chỉ là học
kiến thức khoa học của một môn mà cần dạy trong sự tích hợp với nhiều môn học khác nhau… Hiện
nay, nhiều môn học đã được đưa vào nhà trưởng phổ thông, các môn học đó đã có xu hướng phải
liên kết với nhau. Điều này thể hiện quá trình mục tiêu giáo dực toàn diện học sinh (HS). Tuy nhiên
với quỹ thời gian và kinh phí có hạn, không thể đưa nhiều môn học hơn nữa vào nhà trưởng cho dù
những tri thức này rất cần thiết, vì vậy, việc dạy học tích hợp (DHTH) các môn học, các nội dung
giáo dực trong nhà trưởng là giải pháp quan trọng.
Phương thức tích hợp các môn học hay DHTH đã được vận dựng tương đổi phổ biến ở nhiều
nước trên thế giới. Ở Việt Nam, đã có nhiều môn học, cấp học quan tâm vận dựng tư tưởng sư phạm
tích hợp và quá trình dạy học đề nâng cao chất lượng giáo dực HS (như các môn Sinh học, Địa lí,
Ngữ văn… đưa các nội dung giáo dực vào môn học…).
DHTH chủ trọng tới chương trình, kế hoạch đề nâng cao năng lực, tập trung vào năng lực
chứ không đơn thuần chỉ là kiến thức. Thực hiện một năng lực là biết sử dựng các nội dung và các kĩ
năng trong một tình huống có ý nghĩa. Thay vì việc dạy một sổ lớn kiến thức cho HS, ngưởi GV
trước hết hãy xem xét xem học sinh có thể vận dựng các kiến thức đó vào tình huống thực tế hay
không, chẳng hạn như: thay vì nhắc lại những lởi mẫu nói lễ phép trong dạy học đạo đức, hãy xem
xết học sinh có khả năng lựa chọn một mẫu lởi nói lễ phép trong tình huống cho trước và biết sử
dựng mẫu đó một cách đúng đắn; hoặc thay vì học một lượng kiến thức liên quan đến môi trường
(trong môn Sinh học, Địa lí…), học sinh có khả năng hành động đề bảo vệ môi trưởng xung quanh
mình…
DHTH đuợc hiểu là quá trình dạy học sao cho trong đó toàn bộ các hoạt động học tập góp
phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm
phục vụ các quá trình học tập tiếp theo và chuẩn bị cho HS bước vào cuộc sống lao động. Mục tiêu
cơ bản của tư tưởng sư phạm tích hợp là nâng cao chất lượng giáo dực HS phỏi hợp với các mục tiêu
giáo dực toàn diện của nhà trưởng.

b. Hoạt động 2. Đặc trưng của dạy học tích hợp .
DHTH hướng tới việc tổ chủc các hoạt động học tập, trong đó HS học cách sử dựng phỏi hợp
các kiến thức và kĩ năng trong những tình huống có ý nghĩa gần với cuộc sống. Trong quá trình học
tập như vậy, các kiến thức của HS từ các môn học khác nhau đuợc huy động và phỏi hợp với nhau,
tạo thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ lí luận và thực tiến được đề cập
trong các môn học đó.
DHTH có các đặc trưng chủ yếu sau: làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa, bằng cách gắn
quá trình học tập với cuộc sống hằng ngày, không làm tách biệt thế giới nhà trường với thế giới cuộc
sống; làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt; sử dựng kiến thức của nhiều môn học và
không chỉ dừng lại ở nội dung các môn học.
Từ góc độ giáo dực, DHTH phát triển các năng lực, đặc biệt là trí tưởng tưởng khoa học và
năng lực duy trì của HS vì nó luôn tạo ra các tình huống đề HS vận dựng kiến thức trong các tình
huống gần với cuộc sống. Nó cũng làm giảm sự trùng lặp các nội dung dạy học giữa các môn học,
góp phần giảm tải nội dung học tập.
2. Nội dung 2 : LẬP KẾ HOẠCH DẠY HỌC
a. Hoạt động 1. Kế hoạch dạy học là gì?
Một đặc điểm rất cơ bản của giáo dực nhà trường là đuợc tiến hành có mục đích, có kế
hoạch, dưới sự chỉ đạo của giáo viên. Muốn dạy học đạt hiệu quả cao thì nhất thiết phải có sự chuẩn
bị của ngưởi thầy giáo. Một trong những khâu chuẩn bị quan trọng là lập kế hoạch cho chuỗi bài
mình sẽ dạy, cho từng bài dạy, trong đó dự kiến được một cách khá chắc chắn tiết học sẽ bất đầu ra
sao, diễn biến và kết quả thế nào.
Như vậy, kế hoạch dạy học là bản chương trình công tác do giáo viên soạn thảo ra bao gồm toàn bộ
công việc của thầy và trò trong suốt năm học, trong một học kì, đối với từng chương hoặc một tiết
học trên lớp.
Ta có thể chia kế hoạch dạy học của giáo viên thành hai loại: Kế hoạch năm học và kế hoạch bài học
(còn gọi là giáo án hay bài soạn).
b. Hoạt động 2. Cách lập kế hoạch năm học
Kế hoạch giảng dạy cho năm học, một chương, một học kì là những nét lớn khái quát có nội
dung rất quan trọng, giúp cho giáo viên xác định phương hướng phấn đấu nâng cao chất lượng dạy
học. Trong kế hoạch năm học của giáo viên bộ môn, sau phần mục tiêu của môn học trong toàn bộ
năm học là từng chương với những dự kiến sau đây cho mỗi chương:
– Xác định mục tiêu.
– Dự kiến kế hoạch thời gian để đảm bảo hoàn thành chương trình một cách đầy đủ và có chất lương
(ghi rõ ngày bất đầu và ngày kết thức).
– Lệt kê tài liệu, sách tham khảo, phương tiện dạy học có sẵn hay cần tự tạo.
– Đề xuất những vấn đề cần trao đổi và tự bồi dương liên quan đến nội dung và phương pháp dạy
học.
– Xác định yêu cầu và biện pháp điều tra, theo dõi học sinh đề nắm vững đặc điểm, khả n ăng, trình
độ và sự tiến bộ của họ qua từng thời kì.
Kế hoạch năm học không nên viết quá chi tiết vụn vặt nhưng phải dự kiến đủ những công
việc định làm trong thời gian giảng dạy. Việc lập kế hoạch năm học thường là khó đối với giáo viên
mới, có thể lập kế hoạch từng chương để công việc được cụ thể hơn. Kế hoạch lập ra là để phấn đấu
thực hiện, vì thế giáo viên cần giữ một bản để theo dõi công việc thực hiện của mình. Muốn kế hoạch
có chất lượng giáo viên cần chuẩn bị:
– Nghiên cứu kĩ chương trình mình sẽ dạy, sách giáo khoa và tài liệu có liên quan, trước hết để nắm
được tư tưởng chủ đạo, tinh thần nhất quán đối với môn học, thấy được các điểm đổi mới trong
sách. Đây là vấn đề rất quan trọng vì sách giáo khoa ấn định kiến thức thống nhất cho cả nước. Nếu
có điều kiện nghiên cứu cả chương trình lớp dưới và lớp trên thì có thể tranh thủ tận dụng kiến thức
cũ để học sinh không phải học lại hoặc hạn chế vấn đề thuộc lớp trên.
– Nghiên cứu tình hình thiết bị, tài liệu của trường và của bản thân mình. Công việc này rất quan
trọng đối với giáo viên Vật lí, Hóa học… bởi vì thí nghiệm có tính quyết định sự thành công của bài
dạy. Thấy đuợc tình hình trang thiết bị, giáo viên mới có kế hoạch mua sắm bổ sung, có kế hoạch
tìm hiểu, lắp ráp, sử dụng hay chuẩn bị các mẫu đó dùng dạy học do giáo viên tự làm hay cho học

sinh làm.
– Nghiên cứu tình hình lớp học sinh được phân công dạy về các mặt
– Nghiên cứu bản phân phỏi các bài dạy của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề chủ động về thời gian trong
suốt quá trình dạy.
c. Hoạt động 3. Cấu trúc của kế hoạch bài học
Giáo án, bài soạn của giáo viên là kế hoạch dạy một bài nào đó, là bản dự kiến công việc của
thầy và trò trong cả tiết học theo mục đích và yêu cầu đã định sẵn. Giáo án thể hiện rõ tinh thần
trách nhiệm, trình độ kiến thức và khả năng sư phạm của thầy giáo, quyết định phần lớn kết quả
của tiết lên lớp. Tất nhiên kết quả của giờ học còn phụ thuộc vào kĩ năng giảng dạy của thầy và sự
lĩnh hội, phát triển của học sinh, nhưng quá trình nghiên cứu và chuẩn bị, tinh thần trách nhiệm của
thầy trong việc soạn bài góp phần khá quyết định vào hiệu quả của bài dạy.
Chính vì thế soạn bài không phải là một bản tóm tắt chi tiết nội dung của sách giáo khoa hay
là một bản tóm tắt sơ lược có đầy đủ các mục nội dung mục đích. Nó phải thể hiện một cách sinh
động mọi liên hệ hữu cơ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp và điều kiện dạy học. Để xây dựng
một bài soạn, người thầy giáo cần phải lĩnh hội mục tiêu và nội dung dạy học quy định trong chương
trình và đuợc cụ thể hoá trong sách giáo khoa, nghiên cứu phương pháp dạy học dựa vào sách giáo
khoa và sách giáo viên, vận dựng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lớp học. Một bài soạn tốt là
một bài soạn nêu rõ đuợc dự kiến mọi công việc của thầy và trò ở trên lớp, thể hiện nõ tinh thần
trách nhiệm, nhiệt tình, sáng tạo của thầy trong việc cải tiến phương pháp, nội dung sao cho học
sinh nhiệt tình chủ động, tích cực tiếp thu kiến thức.
1/Các kiểu bài soạn
Có nhiều cách phân loại bài soạn. Cách phân loại dưới đây dựa vào mục tiêu chính của bài soạn, bao
gồm:
– Bài nghiên cứu kiến thức mới;
– Bài luyện tập, củng cổ kiến thức;
– Bài thực hành thí nghiệm;
– Bài ôn tập, hệ thống hoá kiến thức;
– Bài kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng.
Đương nhiên là mỗi bài lên lớp đều phải thực hiện nhiều mục tiêu dạy học, chúng hỗ trợ lẫn
nhau làm cho quá trình dạy học đạt kết quả cao và toàn diện. Bài lên lớp chỉ thực hiện một mục tiêu
duy nhất thường là rất buồn tẻ, kém hiệu quả. Trong mọi kiểu bài học trên đây, đều phải thực hiện
nhiều mục tiêu dạy học để phục vụ một mục tiêu chính của bài. Các hoạt động của học sinh không
phải là trải đều cho các mục tiêu bộ phận mà phải tập trung hỗ trợ cho việc thực hiện mục tiêu
chính, ta gọi là làm rõ trọng tâm của bài.
2/ Các bước xây dựng bài soạn
– Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong
chương trình.
– Nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu liên quan để: Hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của
bài học. Xác định những kiến thức, kĩ năng thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS. Xác
định trình tự lôgic của bài học.
– Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS: xác định những kiến thức, kĩ năng
mà học sinh đã có và cần có. Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các
phương án giải quyết.
– Lựa chọn PPDH: Phương tiện, TBDH, HTTCDH và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS
học tập tích cực, chủ động sáng tạo phát triển năng lực tự học.
– Xây dựng kế hoạch bài học: xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động,
thời gian và yêu cầu cần đạt được cho từng hoạt động dạy của GV và hoạt động học tập của HS.
3/ Cấu trúc của một kế hoạch bài học
Cấu trúc của bài lên lớp sẽ gồm một chuỗi những hoạt động của giáo viên và học sinh, được
sắp xếp theo một trình tự hợp lí đảm bảo cho học sinh hoạt động có hiệu quả nhằm chiếm lĩnh kiến
thức, phát triển năng lực và hình thành thái độ, đạo đức. Mỗi bài học có một mục đích chung, được
phân chia thành những mục tiêu bộ phận. Mỗi mục tiêu bộ phận ứng với một nội dung cụ thể, phải
sử dụng những phuơng tiện dạy học nhất định, áp dụng những phương pháp hoạt động phỏi hợp với

từng đối tượng học sinh. Trong khi thực hiện, mọi hành động phải luôn luôn đảm bảo sự thống nhất
giữa mục tiêu bộ phận, nội dung và phuơng pháp, đồng thời đảm bảo thực hiện được mục đích, nội
dung và phương pháp chung mỗi bài, được xem như một thể thống nhất.
Với mỗi mục đích, mỗi nội dung dạy học, ứng với mỗi đối tượng trong những điều kiện cơ sở
vật chất, phương tiện dạy học xác định, bài lên lớp phải có cấu trúc riêng thích hợp thì mới có hiệu
quả. Tuy khó có thể đề ra một cấu trúc chung, nhưng vì học sinh hoạt động trong một tập thể lớp
xác định, phải thực hiện những mục đích chung trong một thời gian sác định nên vẫn có thể nêu ra
một sổ hoạt động điển hình phải thực hiện trong mỗi bài. Những hoạt động đó là những yếu tổ cấu
trúc của bài học.
Bài soạn giảng thường có cấu trúc như sau:
* Mục tiêu bài học : Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ. Các mục tiêu được biểu
đạt bằng động từ cụ thể có thể lượng hoá được. Mục tiêu bài học cần được cụ thể hoá đề người thầy
giáo có một định hướng rõ ràng, chính xác khi dạy học bài này. Một cách cụ thể hoá tốt nhất là cố
gắng hoạt động hoá mục tiêu, tức là chỉ ra những hoạt động tương thích với nội dung và mục tiêu
bài học mà khả năng tiến hành các hoạt động đó của học sinh biểu thị mức độ đạt mục tiêu này. Liên
quan đến mục tiêu của tiết học, ta cần lưu ý:
Thứ nhất, đây là những yêu cầu mà học sinh cần đạt được sau khi chủ không phải là trong
khi học tập một bài. ví dự như yéu cầu học sinh phát biểu được một định nghĩa, chứng minh một
định lí có nghĩa là học sinh phải làm đuợc những việc này sau khi học xong tiết học chứ không phải
là đòi hỏi họ tự làm được các việc trong quá trình lĩnh hội bài học.
Thứ hai, các mục tiêu là căn cứ để thầy giáo định hướng bài học và “hình dung” đuợc kết quả dạy
học bài đó chủ không phải là đòi hỏi họ tiết nào cũng phải kiểm tra đề kết luận chính xác học sinh có
đạt được từng mục tiêu đề ra hay không. Trên thực tế, thầy giáo không thể có đủ thì giờ đề làm như
vậy.
Mục tiêu kiến thức: gồm 6 múc độ
– Nhận biết: Nhận biết TT, ghi nhớ, tái hiện thông tin.
– Thông hiểu: Giải thích được, chứng minh được.
– Vận dụng: Vận dụng nhận biết TT đề giải quyết vấn đề đặt ra.
– Phân tích: chia TT ra thành các phần TT nhỏ và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa
chúng.
– Tổng hợp: Thiết kế lại TT từ các nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đ ó tạo lập nên một hình
mẫu mới.
– Đánh giá: Thảo luận về giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức.
Mục tiêu kĩ năng: gồm hai mức độ; làm đuợc, biết làm và thông thạo (thành thạo).
Mục tiêu thái độ : Tạo sự hình thành thói quen, tính cách, nhân cách nhằm phát triển con người toàn
diện theo mục tiêu GD.
* Chuẩn bị của GV và HS
– Giáo viên chuẩn bị các TBDH (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hữá chất…) các phương tiện và tài liệu
dạy học cần thiết.
– GV hướng dẫn HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đó dtừng học tập
cần thiết).

Đang xem: Modun 14 thpt

Xem thêm: Download Mẫu Cv Xin Việc Ngành Xây Dựng Xin Việc Chuẩn Nhất 2019

Xem thêm: Mẫu 604 Bhxh – Thông Tin V&#258N B&#7842N

* Tố chức các hoạt động dạy học : Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy học cụ thể. có
thể phân chia các hoạt động theo trình tự kế hoạch bài học như sau:
– Hoạt động nhằm kiểm tra, hệ thống, ôn lại bài cũ, chuyển tiếp sang bài mới.
– Hoạt động nhằm hướng dẫn, diễn giải, khám phá, phát hiện tình huống, đặt và nêu vấn đề.
– Hoạt động nhằm đề HS tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử nghiệm, quy nạp, suy diễn để tìm ra
kết quả, giải quyết vấn đề.
– Hoạt động nhằm rút ra kết luận, tổng hợp, hệ thống kết quả, hệ thống hoạt động và đưa ra kết luận
giải quyết vấn đề.
– Hoạt động nhằm tiếp tục khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng để vận dụng vào giải bài tập và áp
dụng vào cuộc sống.
* Hướng dẫn ôn tập và củng cố : Xác định những việc HS cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học để
củng cổ, khác sâu, mở rộng bài cũ hoặc đề chuẩn bị cho việc học bài mới.

3. Nội dung 3 : CÁC YÊU CẦU CỦA KẾ HOẠCH DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
a. Hoạt động 1. Các yêu cầu cơ bản đối với một kế hoạch bài học
– Cấu trúc bài soạn phải bao quát đuợc tổng thể các phuơng pháp dạy học đa dạng và nhiều ch iều,
tạo điều kiện vận dụng phỏi hợp những phuơng pháp dạy học, mềm dẻo về mức độ chi tiết đề có thể
thích ứng đuợc với cả những giáo viên đã dày dặn kinh nghiệm lẫn những giáo viên trẻ mới ra
trường hay giáo sinh thực tập sư phạm. Đồng thời làm nổi bật hoạt động của học sinh như là thành
phần cốt yếu.
– Bài soạn phải nêu đuợc các mục tiêu của tiết học. Giáo viên cần phải xác định chính xác trọng tâm
kiến thức kĩ năng của bài dạy, trên cơ sở đó có phương pháp dạy phỏi hợp. Thông qua phương pháp
dạy, cách hỏi, rèn kĩ năng mà thầy giáo có thể rèn luyện bồi dưỡng phát triển tư duy, phát triển trí
thông minh của học sinh. Mục đích yêu cầu sẽ chỉ đạo toàn bộ nội dung kế hoạch thực tiến bài dạy
và chính nội dung bài dạy quy định mục đích yêu cầu. chính vì vậy việc xác định mục đích yêu cầu là
vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi sự dày công, ý thức trách nhiệm cao của giáo viên lúc soạn bài.
– Bài soạn phải nêu được kết cấu và tiến trình của tiết học, bài soạn phải làm nổi bật các vấn đề sau:
Sự phát triển logic từ giai đoạn này đến giai đoạn khác, từ phần kiến thức này đến phần kiến thức
khác. Giảng dạy phỏi hợp với quy luật nhận thức, dẫn giải, suy luận từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp một cách có hệ thống. Làm rõ sự phát triển tất yếu từ kiến thức này đến kiến thức khác.
Cụ thể là đảm bảo mối liên hệ logic giữa các phần, bảo đảm bài dạy là một hệ toàn vẹn, mỗi phần là
một phân hệ, các phân hệ gắn bó chãt chẽ tạo nên một hệ toàn vẹn.
– Bài soạn phải xác định được nội dung, phương pháp làm việc của thầy và trò trong cả tiết học: Đây
là vấn đề hết sức quan trọng đối với một tiết học. Từ chỗ giáo viên nắm vững nội dung kiến thức,
vận dụng thành thạo kiến thức đến cho truyền thụ cho được kiến thức đó đến học sinh, để họ nắm
bắt và vận dụng được đòi hỏi ở ngưởi thầy sự động não, sự dày công thực sự. Muốn như vậy thầy
giáo phải lựa chọn được phuơng pháp thích hợp ứng với từng giờ giảng và trong bài soạn phải nêu
được một cách cụ thể công việc của thầy và trò trong tiết học cụ thể. Xác định đồ dùng dạy học và
phương pháp sử dụng chúng.
b. Hoạt động 2. Nguyên tắc dạy học theo hướng tích hợp
Tích hợp là sự kết hợp có hệ thống các kiến thức có liên quan (hay còn gọi là kiến thức cần
tích hợp) và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gấn bó chặt chẽ với nhau dựa trên
những mối liên hệ về lí luận và thực tiễn đuợc đưa vào bài học. Như vậy, cần phải căn cứ vào nội
dung bài học để lựa chọn kiến thức tích hợp có liên quan.
– Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học
– Khai thác nội dung cần tích hợp một cách có chọn lọc, có tính hệ thống, đặc trưng.
– Đảm bảo tính vừa sức
4. Nội dung 4: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP CỦA KẾ HOẠCH DẠY HỌC TÍCH HỢP
a. Hoạt động 1. Những mục tiêu cơ bản của kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp
Kế hoạch dạy học tích hợp nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, có thể xác định bốn mục tiêu lớn
sau:
– Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa hơn bằng cách đặt các quá trình học tập và nhận thức trong
hoàn cánh có ý nghĩa đổi với HS. Chính vì vậy, việc học tập không tách rời cuộc sống hằng ngày mà
thưởng xuyên được liên hệ và kết nối trong mối quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp
trong thực tiễn, những tình huống có ý nghĩa với HS. Nói một cách khác việc học ở nhà trư ờng hòa
nhập vào đời sống thường ngày của học sinh.
– Phân biệt cái cốt yếu với cái thứ yếu. Không thể dạy học một cách dàn trải, đồng đều, các quá trình
học tập ngang bằng với nhau. Bên cạnh những điều hữu ích, những kiến thức và năng lực cơ bản có
những thứ được dạy chỉ là “lí thuyết”, không thật hữu ích. Trong khi đó, giờ học trên lớp là có hạn,
nhiều kiến thức và năng lực cơ bản không đủ thời gian cần thiết.
– Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống. DHTH chủ trọng tới việc thực hành, sử dựng kiến thức
mà HS đã lĩnh hội đuợc, thay vì chỉ học tập lí thuyết mọi loại kiến thức. Mục tiêu của DHTH là
hướng tới việc giáo dục HS thành con ngưởi chủ động, sáng tạo, có năng lực làm việc trong xã hội
cũng như làm chủ cuộc sống của bản thân sau này.
– Lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học. Một trong bốn mục tiêu của DHTH là nhằm thiết lập
mối quan hệ giữa những khái niệm khác nhau của từng một môn học cũng như của những môn học

khác nhau. Điều này sẽ giúp cho HS có năng lực giải quyết các thách thức bất ngờ gặp trong cuộc
sống, đòi hỏi người đối mặt phải biết huy động những năng lực đã có không chỉ ở một khía cạnh mà
nhiều lĩnh vực khác nhau đề giải quyết..
b. Hoạt động 2. Các quan điểm trong nội dung dạy học tích hợp
Có bốn quan điểm khác nhau trong việc liên kết, tích hợp các môn học:
– Quan điểm trong “Nội bộ môn học”. Theo quan điểm này chỉ tập trung chủ yếu vào nội dung của
môn học. Quan điểm này nhằm duy trì các môn học liêng rẽ.
– Quan điểm “đa môn”. Quan điểm này theo định hướng những tình huống, những “đề tài”, nội
dung kiến thức nào đó được xem xét, nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau nghĩa là theo
những môn học khác nhau. Quan điểm này, những môn học tiếp tục tiếp cận một cách liêng rẽ và
chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài. Như vậy, các môn học chưa
thực sự được tích hợp.
– Quan điểm “liên môn”, trong đó chúng ta đề xuất những tình huống chỉ có thể được tiếp cận một
cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học. Ở đây chứng ta nhấn mạnh đến sự liên kết giữa các
môn học, làm cho chứng tích hợp với nhau đề giải quyết một tình huống cho trước. Các quá trình
học tập sẽ không được đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với nhau xung quanh những vấn đề
phải giải quyết.
– Quan điểm “xuyên môn”, trong đó chúng ta chủ yếu phát triển những kĩ năng mà học sinh có thể
sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống, chẳng hạn, nêu một giả thiết, đọc
thông tin, thông báo thông tin, giải một bài toán… Những kĩ năng này ch úng ta gọi là những kĩ năng
xuyên môn, có thể lĩnh hội được những kĩ năng này trong từng môn học hoặc nhân dịp có những
hoạt động chung cho nhiều môn học.
c. Hoạt động 3. Phương pháp dạy học tích hợp
Phương thức tích hợp đưa ra 2 dạng tích hợp cơ bản, mỗi một dạng lại đưa ra 2 cách thức tích hợp,
được thể hiện như sau:
– Dạng tích hợp thứ nhất : định hướng vẫn là đa môn và liên môn, tuy nhiên vẫn chưa phải là xuyên
môn bởi vì các đơn nguyên tích hợp chưa dựa trên sự phát triển các kĩ năng xuyên môn
– Dạng tích hợp thứ hai: Phỏi hợp các quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau. Dạng tích
hợp này nhằm hợp nhất hai hay nhiều môn học thành một môn học duy nhất. Điều này đòi hỏi phải
nghiên cứu xây dựng chương trình và tài liệu học tập phỏi hợp.
5. Nội dung 5 : THỰC HÀNH DẠY HỌC TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC BÀO TỒN THIÊN
NHIÊN VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC THÔNG QUA CÁC MÔN HỌC Ờ TRƯỜNG THPT
a. Hoạt động 1. Các cơ sở pháp lí của việc tích hợp giáo dục bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học
vào dạy học ở trường THPT.
Việt Nam đã tham gia Công ước về đa dạng sinh học (ĐDSH) (1994), trong đó, Điều 13 – Giáo
dục và nhận thức đại chúng nêu rõ: đẩy mạnh và nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng của bảo toàn
ĐDSH, cũng như tuyên truyền và bảo toàn ĐDSH thông qua thông tin đại chúng và đưa các chủ đề
này vào chương trình giáo dục, hợp tác một cách thích hợp với các quốc gia và tổ chức quốc tế khác
trong việc phát triển các chương trình giáo dực và tuyên truyền nâng cao nhận thức công chúng bảo
toàn và sử dụng lâu bền ĐDSH.
Ngày ĐDSH quốc tế (22/05/2001) nhằm tăng cường hiểu biết của người dân và cảnh báo về
các vấn đề liên quan đến lĩnh vực này. Đề án “đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo
dục quốc dân” đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 17/10/2001 (Quyết định 1363 /QĐTTg). Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004, của Bộ Chính trị về “bảo vệ môi trường trong thời
kì đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”. Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến
năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đuợc phê duyệt ngày 02/12/2003 (Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ số 256/2003/QĐ-TTg) xác định bảo tồn thiên nhiên (BTTN) và ĐDSH là một trong các
nhiệm vụ cơ bản của chiến lược. Luật Bảo vệ môi trường (2005) của Việt Nam cũng có những điều
quy định về BTTN (Điều 29) và về Bảo vệ ĐDSH (Điều30).
Ngày 31/05/2007, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến
năm 2010 và định hướng đến năm 2030”. Những mục tiêu cụ thể đến năm 2010 gồm: củng cổ, hoàn
thiện và phát triển hệ thống rừng đặc dựng (góp phần đạt tỉ lệ che phú rừng 42 – 43%); phục hồi
50% diện tích rừng đầu nguồn đã bị suy thoái; bảo vệ có hiệu quả các loài động vật, thực vật quý

hiếm, nguy cấp có nguy cơ tuyệt chủng; nâng tổng diện tích các khu bảo tồn đất ngập nước và biển
có tầm quan trọng quốc tế và quốc gia lên trên 1,2 triệu ha; phục hồi được 200.000 ha rừng ngập
mặn… Đến năm 2020, nước ta sẽ hoàn chỉnh hệ thống các khu BTTN (trên cạn, đất ngập mặn và
biển); phục hồi được 50% hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, nhạy cảm đã bị phá hủy. Điều này hi vọng
góp phần bảo tồn ĐDSH Việt Nam.
Luật ĐDSH được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 nêu nõ mục tiêu: khắc phục tình trạng
suy thoái ĐDSH, bảo tồn vùng sinh thái có tính ĐDSH cao, bảo vệ các loài qúy hiếm, bị đe doạ, loài
hoang dã, bảo đảm tính bền vững về di truyền nhằm cân bằng sinh thái ở mức ổn định phục vụ mục
tiêu phát triển bền vũng đất nước.
b. Hoạt động 2. Định hướng lựa chọn các nội dung cơ bản về giáo dục bảo tồn thiên nhiên và đa dạng
sinh học đưa vào các môn học ở trường THPT.
Không nhất thiết phải xây dựng các bài học riêng về các nội dung giáo dục BTTN và ĐDSH
đề đưa vào các môn học ò trưởng THCS. Điều này được thực hiện bằng con đưởng DHTH. Để thực
hiện DHTH các nội dung BTTN và ĐDSH vào các môn học thì đòi hỏi đầu tiên đối với GV là phải
nắm một cách hệ thống các nội dung này. Sau đó, trên cơ sở phân tích đặc điểm nội dung của môn
học và từng bài học, GV sẽ tiến hành lựa chọn các nội dung thích hợp, đáp ứng các nguyên tắc về lựa
chọn nội dung đã nêu lên ở trên, từ đó mới xây dựng các phương án DHTH các nội dung này.
Với ý nghĩa như vậy, dưới đây sẽ nêu lên định hướng các nội dung cơ bản của giáo dực BTTN
vàĐDSH, được tích hợp khi dạy học các môn học ở trường THPT:
Một số kiến thức chung: Khái niệm về BTTN; Khái niệm về ĐDSH; Khái niệm về Bảo tồn
ĐDSH; Vai trò của ĐDSH đổi với môi trường và cuộc sống con ngưởi.
Tình hình BTTN và ĐDSH trên thế giới và ở Việt Nam.
Nguyên nhân và hậu quả của suy giảm ĐDSH: Nguyên nhân của suy giảm ĐDSH: nguyên
nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp; Hậu quả của suy giảm ĐDSH: môi trưởng bị ô nhĩếm, nhiều
loài bị mất đi…
Mật số biện pháp BTTN và ĐDSH: Xây dựng các khu BTTN; Bảo tồn tại cho các loài (bảo
tồn nguyên vị); Bảo tồn chuyển vị các loài; Bảo tồn bên ngoài các khu bảo vệ; Bảo vệ các hệ sinh thái
quan trọng; Xây dựng hệ thống pháp luật và tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường.
c. Hoạt động 3. Phương thức tích hợp các nội dung giáo dục bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học
vào các môn học ở trường THPT.
Do đặc điểm cấu trúc chương trình và sách giáo khoa các môn học ở trưởng THPT hiện nay
hướng đến tính hệ thống chặt chẽ của nội dung, tính khoa học bộ môn tương đối sâu, nên việc đưa
các nội dung giáo dục BTTN và ĐDSH vào các môn học cũng phải thực hiện bằng con đường
DHTH, tương tự như việc đưa các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các môn học. Tuy vậy,
khi thực hiện tích hợp các nội dung giáo dục BTTN và ĐDSH vào các môn học, GV cũng cần phối
hợp với các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Các nội dung này trong nhiều trường hợp có mối
liên hệ hữu cơ với nhau, liên kết với nhau. Sự lưu ý này làm cho bài học có hiệu quả cao hơn, tranh
được sự trùng lặp và quá tải đổi với HS.
Các nội dung giáo dục BTTN và ĐDSH, cũng như nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, có thể đuợc
tích hợp vào các môn học ở các mức độ khác nhau, cụ thể:
– Tích hợp toàn phần: Tích hợp toàn phần đuợc thực hiện khi hầu hết các kiến thức của bài học cũng
chính là các kiến thức về giáo dực BTTN và ĐDSH. Khi đó mục tiêu của bài học cũng chính là mục
tiêu giáo dục của BTTN và ĐDSH.
– Tích hợp bộ phận: Tích hợp bộ phận được thực hiện khi một phần kiến thức của bài học có nội
dung về giáo dục BTTN và ĐDSH.
– Tích thức liên hệ: Khi một số nội dung của môn học có liên quan tới vấn đề giáo dục BTTN
và ĐDSH song không nêu rõ trong nội dung của bài học. Trong trường hợp này GV phải khai thác
kiến thức môn học và liên hệ chứng với các nội dung về BTTN và ĐDSH. Đây là trường hợp thường
xảy ra.
.

Viết một bình luận