module 3 thcs

Đang xem: Module 3 thcs

Bạn đang xem tài liệu “Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module 3 – THCS “Giáo dục học sinh trung học cơ sở cá biệt””, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN MODULE 3 – THCS “GIÁO DỤC HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ CÁ BIỆT” ……………….. A.NỘI DUNG Hoat động 1: Tìm hiểu về học sinh cá biệt ở lứa tuổi trung học cơ sở 1. Những yếu tố tích cực và tiêu cực tác động đến học sinh, bạn bè và môi trường sống – Ảnh hưởng của nhóm bạn – Ảnh hưởng của gia đình: – Ảnh hưởng của môi trường sống, các quan hệ xã hội khác 2. Những khó khăn về từng phương diện của học sinh Những khó khăn về học tập, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình, tâm lí cá nhân, khả năng tự nhận thức được bản thân, không định hướng được những giá trị đích thực, thiếu hoặc mất niềm tin vào khả năng và giá trị của bản thân, sự lôi kéo, áp lực của nhóm bạn tự phát, những thói quen tiêu cực… 3. Những nhu cầu, sở thích, mong muốn, điểm mạnh của từng học sinh cá biệt HS nói chung và HS cá biệt nói riêng đều có thể có đầy đủ hoặc một số năng lực, vì vậy nguửi GV cần tìm hiểu và sác định đuợc để tạo điều kiện và hỗ trợ các em phát triển chứng. – Năng lực giao tiếp ngôn ngữ – Năng lực tư duy logic và toán học – Năng lực tưởng tượng – Năng lực âm nhạc – Năng lực nội tâm – Năng lực quan hệ tương tác, quan hệ xã hội – Năng lực thể thao vận động – Năng lực tìm hiểu thiên nhiên 4. Niềm tin, quan niệm của học sinh về các giá trị trong cuộc sống Niềm tin và quan niệm về giá trị trong cuộc sống của mỗi cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách ứng xử của người đó đối với những người xung quanh và những hoạt động khác, vì vậy GV cần tìm hiểu xem HS cá biệt đó có những niềm tin nào? Coi điều gì là quan trọng đối với bản thân và cuộc sổng?… Khả năng nhận thức, nhu cầu, động cơ học tập, cách thức HS suy xét 5. Khả năng nhận thức, nhu cầu, động cơ học tập, cách thức HS suy xét 6. Tính cách với những đặc điểm cơ bản, trong đó có coi trọng khám phá 7. Hành vi, thói quen chưa tốt và những nguyên nhân làm cho HS có hành vi lệch lạc để có kế hoạch hỗ trợ HS cá biệt thay đổi thói quen Hoạt động 2: Phương pháp thu thập thông tin về học sinh cá biệt 1. Tổ chức cho học sinh biết về những điều có ý nghĩa đối với bản thân và cuộc sống theo quan niệm các em Bước 1: Phát cho mỗi GV tờ giấy yêu cầu đặt mình vào vị trí là HS, suy nghĩ để trả lời các câu hỏi Bước 2. Tổ chức cho HS xung phong chia sẻ với mọi người trong lớp Bước 3. Kết luận – Thông qua tổ chức cho HS thực hành kĩ năng tự nhận thức bản thân, GV có thể nắm được những thông tin cơ bản về cá tính của tửng HS để giúp GV tiếp cận cá nhân phù hợp. – Quá trình suy ngẫm để trả lời câu hỏi trên đã giúp HS nhận ra những điểm mạnh cần phát huy, những điểm yếu cần khắc phục… – Kết quả tự nhận thức của HS nên lưu vào hồ sơ cá nhân để GV theo dõi, tạo điều kiện hỗ trợ giúp đỡ các em tiến bộ. 2. Sắm vai trò chuyện với học sinh cá biệt ngoài giờ học Bước 1: Chia lớp thành các nhóm từ 5 đến 8 người. Mỗi nhóm đọc những thông tin cơ bản và phân công hai người sắm vai: một là HS cá biệt và một là GV. Bước 2: Thực hành trò chuyện với HS cá biệt 3. Các phương pháp thu thập thông tin khác về học sinh cá biệt a) Quan sát trong quả trình cùng tham gia vào các hoạt động với HS – Trước khi quan sát, GV cần xác định mục tiêu và các tiêu chí quan sát. – Trong quá trình quan sát, cần phát hiện và ghi nhận khách quan những thái độ, hành vi của HS cá biệt đối với công việc, đối với những người xung quanh. – Sau khi quan sát cần phân tích những hiện tượng thu thập được trong quá trình quan sát b) Tìm hiểu về HS thông qua nhóm bạn thân c) Tìm hiểu về HS thông qua gia đình d) Tìm hiểu về HS thông qua cán bộ lớp, tổ e) Tìm hiểu về HS thông qua các bạn ngồi xung quanh trong lớp học g) Tìm hiểu về HS thông qua GV khác và cán bộ Đoàn h) Tìm hiểu về HS thông qua hàng xóm Khi trò chuyện, phỏng vấn gia đình, bạn thân, cán bộ lớp, tổ, ngồi xung quanh trong lớp học… GV cần: Đặt câu hỏi đơn giản, cụ thể, có thể dùng các câu hỏi trục tiếp, hoặc gián tiếp sao cho phù hợp, nhưng phải liên quan đến mục đích tìm hiểu. Hạn chế dùng những câu hỏi mà người được hỏi chỉ cần trả lời có hay không. Sử dụng nguyên tắc lắng nghe tích cực không chỉ để thu thập đầy đủ thông tin chính xác, thể hiện thái độ tôn trọng người nói, mà còn để kịp thời phát hiện ra ý cần phải tiếp tục hỏi sâu hơn nhằm khai thác thông tin toàn diện hơn. Kết hợp các hình thức giao tiếp: Giao tiếp không chỉ bằng IM mà còn thông qua ngôn ngữ không lời, đặc biệt là ánh mắt thân thiện, chân thành, khích lệ; tóm tắt và phản hồi lại ý kiến nghe được để đảm bảo rằng mình đã nghe và cảm nhận chính xác những điều mà họ đã trao đổi… Hoạt động 3: Hướng phối hợp xử lí, lưu trữ, khai thác thông tin về từng học sinh cá biệt 1) Cách thức xử lý: phân tích các thông tin thu được theo hướng kết hợp, đối chiếu, so sánh thông tin thu được từ các nguồn khác nhau, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá để giữ lại những thông tin được kiểm chứng từ nhiều nguồn, sau đó tổng hợp, khái quát hoá để có thể có những nhận định cơ bản về HS đó. 2) Cách lưu giữ kết quả đánh giá để lập hồ sơ từng HS cá biệt 3) Hướng khai thác thông tin về HS Hoạt động 4: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt 1) Chưa có mục đích học tập rõ ràng, chưa nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân HS chưa nhận thức được: Học để làm gì? vì cái gì mà học? hoặc chưa biết hài hòa giữa quyền và bổn phận trách nhiệm của mọi con người trong cuộc sống, do được giáo dục chưa đầy đủ hoặc chưa đúng cách, hoặc bản thân thiếu tự giác chấp nhận những bổn phận, trách nhiệm của mình bên cạnh việc được hưởng thụ các quyền lợi trong gia đình, nhà trường và xã hội. Vì vậy, các em đến trường, đi học như là ý muốn của gia đình, cha mẹ, mà không nhận thức được đi học là cơ hội để thành công và hạnh phúc sau này, cho nên các em này thiếu tự giác, thậm chí thiếu trách nhiệm với việc học tập và tu dưỡng. 2) Một số em có niềm tin sai về giá trị của con người và cuộc sống HS quan niệm chưa hợp lí về giá trị của con người và cuộc sống. Các em này không tin rằng sự học sẽ đem lại cho con người giá trị và cuộc sống có chất lượng 3) Chán nản Nhiều HS cảm thấy chán nản về năng lực của mình, mất dần hứng thú, động cơ học tập, hoạt động. HS tin rằng mình không thể “khá” lên đuợc, đánh giá thấp về bản thân mình, không vượt qua được khó khăn, kém tự tin. Phương pháp học tập không hiệu quả cũng có thể là nguyên nhân gây chán nản và mất động cơ học tập. 4) Rối loạn hành vi xã hội của học sinh cá biệt Dửng dưng trước tình cảm của người xung quanh. Coi thường các chuẩn mực cũng như các nghĩa vụ xã hội. Hung tợn, có thể dùng vũ lực. Không cỏ khả năng cảm nhận tội lỗi và không thể rút ra những bài học có ích từ kinh nghiệm sống Biện hộ cho những hành động đi ngược lại chuẩn mực xã hội của mình. Đối với việc hạn chế các hành vi bạo lực ở HS, ngoài việc dạy tri thức thì sự quan tâm của GV đến đời sống tinh thần của HS, hiểu đặc điểm tâm lí và tôn trọng cá tính của các em là rất quan trọng. Nhiều HS do bị điểm kém, cô giáo mắng ngay trên lớp khiến các em thấy xấu hổ với bạn bè, bị tổn thuơng nghiêm trọng. Nhiều thầy cô dùng hình thức trừng phạt HS như là biện pháp giáo dục nhằm mục đích để HS vâng lời. Các nhà giáo dục học và tâm lí học thế giới đã đúc kết: lứa tuổi THCS là tư duy hai bước: ghi nhận và phân tích đúng sai, các em đã phát triển tốt hơn về tư duy suy luận, cá tính bộc lộ rõ hơn, cùng với xu hướng tự khẳng định mình ngày càng nõ nét. Do đó, lúc này quá trình giáo dục thành công chính là làm sao để các em tự giáo dục, tự nhận thức và rút ra bài học cho bản thân, vì vậy trước hết cần để HS phải tự chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình. Hoạt động 5: Tìm hiểu cách thức giáo dục học sinh cá biệt 1.Giáo viên cần phải tiếp cận cá nhân và xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện với học sinh cá biệt Thể hiện sự hiểu biết, thông cảm và chấp nhận. Tập trung vào điểm mạnh của trẻ. Tìm điểm tích cực và nhìn nhận tình huống theo cách khác tích cực hơn. Tập trung vào những điểm cố gắng, tiến bộ của trẻ. HS cần cảm thấy được khích lệ để có tự tin và có động cơ hoạt động. GVCN tiếp cận tích cực thì sẽ khơi dậy được nhu cầu muốn khẳng định khả năng và giá trị của bản thân, muốn hoàn thiện nhân cách. Muốn thay đổi hành vi của HS một cách hiệu quả, GV cần có sự hợp tác của HS, do đó GV cần chủ động tiếp xúc với HS để nắm bắt về điều kiện và hoàn cảnh, tâm tư, sức khỏe… của HS; động viên, an ủi giúp cho các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc ốm đau, bệnh tật cố gắng yên tâm học tập và biết vượt khó, vươn lên. 2. Giúp học sinh biẽt nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân – Nhận thức được những giá trị đối với bản thân – Tự tin về gía trị và những điểm mạnh của mình để làm điểm tựa cho những hành vi và ứng xử một cách tích cực 3.Giúp học sinh nhận thức được hậu qủa của những hành vi tiêu cực và tất yếu phải thay đổi thói quen, hành vi cũ – GV kết hợp với tập thể lớp giúp HS dần nhận thức được những hành động, cản trở sụ phát triển chung. – GV và tập thể HS cần hỗ trợ các em trong quá trình thay đổi hành vi. Đây là quá trình khó khăn đòi hỏi sự kiên trì của HS cá biệt và sự khuyến khích, hỗ trợ của GV, gia đình, bạn bè. 4. Giáo viên cần phải quan tâm hổ trợ các em vượt qua những khó khăn và đáp ứng nhu cầu chính đáng của học sinh cá biệt Tổ chức cho lớp quan tâm, giúp đỡ HS cá biệt khi gặp khó khăn; phụ đạo bồi dưỡng thêm để các em có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản, vận dụng phưong pháp tự học bộ môn. Để đáp úng nhu cầu cho HS, GV cần lưu ý: – Thái độ hành vi của GV để HS thấy được an toàn – Thái độ hành vi của GV để HS thấy được yêu thương – Thái độ, hành vi của GV để HS thấy được hiểu, thông cảm – Thái độ hành vi của GV để HS thấy được tôn trọng -Thái độ hành vi của GV để HS thấy có giá trị 4. Động viên, khích lệ, tạo động lực cho học sinh cá biệt tạo động lực học tập và hoàn thiện nhân cách cho học sinh – Trong từng giờ học người GV cần chú ý khai thác những trải nghiệm của HS trong quá trình kiến tạo tri thức mới, tạo nên sự hấp dẫn của nội dung tri thúc, quá trình học lập và những phương pháp tìm ra tri thúc, quan tâm truyền cảm hứng, sự đam mê kích thích hứng thú học hành cho HS. – Cần làm cho HS hiểu rõ bổn phận và trách nhiệm của mình trước gia đình và xã hội để tự giác học tập – Giáo dục mục đích học tập đứng đắn, học để nâng cao hiểu biết, có phuơng pháp làm việc khoa học, có chất lượng cuộc sống sau này – Cần tôn trọng các em làm cho các em thấy rằng mình có nhiều điểm mạnh, có giá trị cần phải nổ lực khai thác, phát huy những điểm mạnh đồng thời khắc phục những điểm yếu và thói quen chua tốt – Giúp HS nhận thấy mình có giá trị, có khả năng, mọi người yêu quý, tôn trọng và tin tưởng mình sẽ thay đổi. – Việc cổ vũ hay thưởng cho HS khi có những hành động tốt, có sự thay đổi theo chiều hướng tốt được xem là củng cố tích cực. 5. Tránh sử dụng củng cố tiêu cực GV cảm thấy căng thẳng và bất lực khi có những HS hư, gây rối trong lớp. Nếu người lớn trừng phạt thì không những không mang lại hiệu quả mà còn hại cho HS, làm HS lo âu và hạn chế tiến trình học tập và phát triển của bản thân.. Muốn thay đổi hành vi của HS một cách hiệu quả, người lớn cần có sự hợp tác của HS. HS cần cảm thấy được khích lệ để có tự tin và động cơ hoạt động. 6. Sử dụng hệ quả tự nhiên và hệ quả logic Mục đích chủ yếu của việc sử dụng hệ quả tự nhiên và hệ quả logic dạy cho HS có ý thức trách nhiệm về các hành vi của chính minh, khích lệ HS đưa ra những quyết định có trách nhiệm, do đó cách làm này có thể thay thế cho trừng phạt 7. Lập kế hoạch phát triển cá nhân, khơi dậy hoài bão và ý thức tự giáo dục của học sinh Kế hoạch giáo dục cá nhân sẽ đưa đến tiếp cận đúng đắn, phù hợp trong việc đánh giá kết quả giáo dục, dạy học HS nói chung và những HS đặc biệt nói riêng.Tuy nhiên, xây dựng bản kế hoạch giáo dục cá nhân là việc làm mới và không ít khó khăn. Để tiến hành giáo dục HS có hiệu quả cần phải xây dựng và thực hiện một cách nghiêm túc, theo các mục tiêu và kế hoạch đã định.

Xem thêm: điếu văn cụ bà

Xem thêm: Bài Thu Hoạch Giáo Viên Hạng 2 Mới Nhất 2021, Bài Thu Hoạch Nâng Hạng Giáo Viên Tiểu Học Hạng 2

8. Áp dụng biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực đối với cả tập thể lớp và học sinh cá biệt – Tước bỏ hoạt động yêu thích cho đến khi khắc phục được lỗi – Tạm dừng việc học tập để HS tự kiểm điểm bản thân với mục đích để giúp Hs thoát ra khỏi trạng thái căng thẳng không thể kiềm chế bản thân và tạo điều kiện cho HS bình tĩnh trở lại. – Yêu cầu viết báo cáo hàng ngày với mục đích là để HS nhận biết được những lỗi thường xuyên mắc phải và tạo cho các em cơ hội điều chỉnh. 9. Thiết lập mối quan hệ thân thiện, gần gũi, chặt chẽ giữa GV với cha mẹ HS thường xuyên Làm tốt công tác tư vấn kịp thời về PPGD HS cho cha mẹ HS, vận động cha mẹ HS cùng tham gia các hoạt động chung của lớp, của trường để cha mẹ HS hiểu thêm về các hoạt động học tập của con em khi ở trường từ đó phối hợp quản lí giáo dục HS hiệu quả. Hoạt động 6: Phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cá biệt a) Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách -Nếu HS cá biệt thực hiện hành vi không mong đợi nào đó thì GV chỉ đánh giá hành vi đó, mà không quy kết hành vi đó thành nét nhân cách của HS. -Đánh giá đứng không chỉ giúp các em nhìn nhận đứng bản thân với những điểm mạnh cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục, mà còn tạo động lực cho HS nổ lực rèn luyện tu dưỡng b) Đánh giá sự tiến bộ của chính học sinh cá biệt theo quá trình -Đánh giá sự tiến bộ của HS so với chính bản thân trong mối quan hệ với khả năng, sự nổ lực của các em. Đồng thời, cần xác nhận mức độ cụ thể đạt được kết quả giáo dục của từng em và điều chỉnh quá trình giáo dục để nâng cao hiệu quả. c) Đánh giá cuối cùng: Khi các em thực sự đã tiến bộ B. PHẦN VẬN DỤNG Câu 1: Những nguyên nhân dẫn đến HS cá biệt có những hành vi lệch lạc ở trường THCS Từ thực tiễn của nhà trường, hiện nay HS cá biệt, chưa ngoan không phải là phổ biến nhưng ở trường nào cũng chịu ảnh hưởng bởi đối tượng học sinh này đối với phong trào chung của lớp, chúng gây ảnh hưởng thường xuyên đến kết quả thi đua của bạn bè toàn lớp. Nhìn chung những biểu hiện của các em là chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội. Bên cạnh còn có nhiều nguyên nhân khác gây ra: *Nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt: – Các em đi học do gia đình ép buộc. – Do tác động của xã hội, bị bè bạn không tốt lôi kéo. Sự kích động của phim ảnh, các trò trơi bạo lực từ game. – Chưa có sự quan tâm của cha mẹ đến việc học của con cái. Do gia đình khá giả, chỉ biết cung cấp tiền cho con mà không quan tâm đến kết quả học tập của con mình, dẫn đến tính ỷ lại. – Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải làm thêm giúp gia đình nên thường xuyên bỏ học, học lực sa sút. – Do cho mẹ ly hôn, dẫn đến buồn chán. – Do lớp học có quá nhiều học sinh yếu, kém Bên cạnh cũng có thể một số nguyên nhân xuất phát từ giáo viên như: *Đối với giáo viên bộ môn: – Do học yếu kém nên giáo viên bộ môn phân biệt trong cư xử. – Thường xuyên gọi trả bài. – Cho nhiều điểm kém. So sánh giữa học sinh này với học sinh khác. – Hăm dọa sẽ ở lại lớp làm cho học sinh mất đi niềm tin dẫn đến bi oan, chán chường, không muốn học những môn đó *Đối với giáo viên chủ nhiệm: -Trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt còn sử dụng tùy tiện các phương pháp không phù hợp và chưa khoa học. – Xử lý học sinh trong lớp không công bằng, không đến nơi, đến chốn. – Không xây dựng được quy định riêng cho lớp. – Chỉ nhắc nhỡ mà không có biện pháp cưỡng chế. – Học sinh vi phạm lỗi nhẹ cũng mời phụ huynh. Chưa kết hợp với phụ huynh, chưa thông báo kịp thời với phụ huynh. – Có thái độ kỳ thị đối với học sinh yếu, kém (cá biệt). Phạt học sinh vi phạm quá nặng. – Không thường xuyên theo dõi lớp mà chỉ giao cho lớp trưởng quản lý. – Bầu Ban cán sự lớp không đủ năng lực. Chỉ nói mà không thực hiện *Đối với học sinh cá biệt thường có các biểu hiện sau: – Bỏ học, cúp tiết, thường đi học trễ. Đi học về nhà không đúng giờ. – Không đồng phục, phù hiệu. Thường nói dối. Đầu tóc, tác phong. Mê chơi game, lôi kéo, rủ rê bè bạn – Mất trật tự trong giờ học. Không chú ý nghe thầy cô giảng dạy. – Thiếu văn hóa (nói tục, chửi thề), đùa giỡn, chọc ghẹo người khác quá mức. – Sách vỡ không đầy đủ, thường xuyên không chép bài. Không giữ vệ sinh trường lớp Câu 2: Hãy nêu vai trò của GVCN đối với công tác tổ chức lớp và những giải pháp cụ thể để giáo dục HS cá biệt Trong công tác chủ nhiệm, nếu làm đúng vai trò trách nhiệm thì người thầy phải bỏ ra nhiều thời gian, rất vất cả trong việc theo dõi, quản lý lớp. Do đó người giáo viên muốn làm tốt công tác của mình trước hết phải làm tốt công tác tổ chức lớp, thực hiện một số công việc sau: 1. Tổ chức *Xếp chỗ ngồi: GVCN phải xem trước học bạ của từng học sinh trong năm học trước để nắm được học lực, hạnh kiểm của từng học sinh. Khi sắp chỗ ngồi nên chia đều những học sinh có học lực khá, giỏi ngồi xen lẫn với những học sinh có học lực trung bình. *Bầu Ban cán sự (BCS) lớp: Khi GVCN đã nắm được học lực, hạnh kiểm của học sinh sẽ lựa chọn những học sinh có đủ phẩm chất đạo đức để bầu làm lớp trưởng, các lớp phó và các tổ trưởng, tổ phó. *GVCN xây dựng nội quy lớp: Ngoài việc GVCN phổ biến cho học sinh biết về Nội quy nhà trường bắt buộc học sinh phải thực hiện bên cạnh GVCN cần xây dựng Nội quy riêng cho lớp để các em thực hiện. *GVCN khảo sát học sinh: GVCN tiến hành khảo sát để nắm được những thông tin có liên quan đến hoàn cảnh, đời sống gia đình của các em. Qua đó giúp GVCN biết được hoàn cảnh từng đối tượng học sinh, trong số đó dễ dàng nhận ra được những học sinh sẽ rơi vào trường hợp học sinh cá biệt để kịp thời ngăn chặn, uốn nắn, biết được những học sinh nào có hoàn cảnh khó khăn dẫn đến nguy cơ bỏ học cao để báo lên Hội khuyến học nhà trường kịp thời giúp đỡ. 2. Tiếp xúc với cha mẹ học sinh Trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm GVCN phải cố gắng nắm được số điện thoại liên lạc của gia đình, đây là điều kiện thuận lợi giúp GVCN trao đổi gián tiếp với cha mẹ học sinh khi cần thiết. Ngoài ra GVCN cần phải tiếp xúc riêng để trao đổi thông tin với cha mẹ của những học sinh cá biệt. Mối quan hệ có tác động hai chiều này nhằm hạn chế bớt mặc cảm, tự ti ở các em, giúp các em giảm bớt tâm lý lo sợ khi tiếp xúc với GVCN. 3. Tìm hiểu mối quan hệ bè bạn của học sinh GVCN tìm hiểu thông qua lớp trưởng, các học sinh khác trong lớp, thông qua phiếu khảo sát. GVCN có thể giáo dục các em bằng cách nêu gương, điểm hình giúp các em tự nhận thấy những khuyết điểm của mình để từng bước sửa chữa. GVCN nên gặp riêng từng học sinh để trao đổi, giải thích cho các em hiểu những sai trái của mình để các em có hướng khắc phục, không nên làm các em cảm thấy mặc cảm trước lớp. 4. Tạo sự gần gũi, quan tâm với học sinh Tạo mối quan hệ gần gũi là thể hiện sự quan tâm đối với các em, nhưng người thầy vẫn luôn giữ chuẩn mực, nghiêm khắc. Tiếp xúc tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em, nhằm để động viên, khích lệ tạo cho các em có được chỗ dựa tinh thần vững chắc. 5. Công tác phối hợp. GVCN cần phải biết phối hợp kịp thời, linh hoạt với các bộ phận trong nhà trường: Tổ tự quản, giáo viên bộ môn để có hướng bồi dưỡng, rèn luyện thêm cho các em về kiến thức. 6. Giao nhiệm vụ cho học sinh: GVCN nên tạo cho các em một cơ hội để các em thấy được vai trò của mình trong tập thể, đồng thời phát huy tính làm chủ của các em và nhận thấy rằng mình không bị lạc lỏng, không bị bỏ rơi. Như tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, tham gia các trò chơi dân gian, các hoạt động thể thao, tham gia làm báo tường, cắm trại nhân các ngày lễ hội của trường tổ chứcKhi hoàn thành nhiệm vụ GVCN phải đánh giá kết quả bằng cách nêu gương trước tập thể lớp 7. Rèn luyện học sinh tính trung thực Phải rèn luyện cho học sinh tính trung thực, tự lập, vượt qua mọi khó khăn thử thách, không nên ỷ lại. 8. Sinh hoạt chủ nhiệm Trong buổi sinh hoạt cuối tuần, GVCN đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn các em từng bước tiến hành. Sau đó GVCN sẽ là người kết luận cuối cùng. Đối với những trường hợp vi phạm cho các em tự báo cáo về mình dựa theo nội quy của lớp. Sau đó lớp trưởng nhận xét xem còn ai chưa báo cáo, hoặc

Viết một bình luận