module 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (218.75 KB, 38 trang )

Đang xem: Module 12

MODULE MN 12
TƯ VẤN CHO CÁC BẬC CHA MẸ VỀ
CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ TỪ 3 – 6 TUỔI

BÀI TẬP
Nội dung của module đề cập đến các nội dung:
– Vai trò của gia đình trong việc giáo dục trẻ từ 3- 6 tuổi;
– Mục tiêu tư vấn về chăm sóc, giáo dục mầm non cho các bậc cha mẹ có
con từ 3 – 6 tuổi;
– Nội dung tư vấn về chăm sóc, giáo dục mầm non cho các bậc cha mẹ có
con từ 3 – 6 tuổi;
– Phương pháp, hình thức tư vấn về chăm sóc, giáo dục mầm non cho các
bậc cha mẹ có con từ 3 – 6 tuổi;
– Thực hành tư vấn về chăm sóc, giáo dục mầm non cho các bậc cha mẹ có
con từ 3 – 6 tuổi.
A. MỤC TIÊU
I. MỤC TIÊU CHUNG
Giúp học viên nắm được mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tư
vấn về chăm sóc, giáo dục trẻ cho cha mẹ có con từ 3 – 6 tuổi.
II. MỤC TIÊU CỤ THỂ: Sau khi nghiên cứu module này, giáo viên mầm
non có thể đạt được các mục tiêu sau:
1. Kiến thức: Nắm được nhu cầu của trẻ 3 – 6 tuổi, vai trò của cha mẹ
trong việc giáo dục trẻ từ 3 – 6 tuổi.
2. Kĩ năng: Biết lựa chọn nội dung, vận dụng được phương pháp, hình
thức tư vấn cho cha mẹ có con từ 3 – 6 tuổi phù hợp với từng đời tượng cha mẹ
và Điều kiện thực tế.
3. Thái độ: Rèn tính kiên trì học hỏi để nâng cao hiệu quả tư vấn cho cha
mẹ có con từ 3 – 6 tuổi.
B. NỘI DUNG
NỘI DUNG 1

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ 3 – 6 TUỔI (1 tiết)
Hoạt động: Tìm hiểu khả năng của trẻ và lời khuyên cho cha mẹ
Theo bạn trẻ từ 3 – 6 tuổi có những đặc điểm cơ bản nào cần chú ý để tư
vấn cho cha mẹ
– Mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi):
– Mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi):
Đến cuối năm thứ ba trẻ có thể nói được một số câu phức tạp thể hiện yêu
cầu của mình, vốn từ tăng lên khoảng 1200 – 1300 từ. Trẻ mẫu giáo có thể nghe
và phát âm hầu hết các âm trong hệ thổng âm vị tiếng việt. Lời nói của trẻ trở
nên mạch lạc hơn. vốn từ và các loại từ được mở rộng, phong phú hơn, đặc biệt
từ loại tính từ, trạng từ tăng lên đáng kể. Trẻ 5-6 tuổi có thể tích luỹ được từ
8.000 – 14.000 từ. Cuối lứa tuổi, các loại câu trong lời nói của trẻ cũng có thay
đổi về chất trẻ có thể sử dung một cách chủ động hơn các loại câu đơn đầy đủ và
câu đơn mở rộng các thành phần. Thông qua các trò chơi đóng vai, đóng kịch,
kể chuyện… trẻ có thể phát triển ngôn ngữ. Trình độ vân hóa của bố mẹ, khả

năng ngôn ngữ của những người thường xuyên giao tiếp với trẻ có ảnh hưởng
rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Nhu cầu chơi, giao tiếp với bạn bè, người lớn, môi trường xã hội – tự nhiên
xung quanh ngày càng phát triển mạnh mẽ ở trẻ. Trong quá trình giao tiếp với
môi trường xung quanh, trẻ có thể lĩnh hội được các chuẩn mục hành vi qua hoạt
động chơi, qua sự tham gia tích cực vào đời sống sinh hoạt hàng ngày, theo
những tiêu chuẩn đạo đức được mọi người thừa nhận “nên” hay “không nên”;”
Điều này tốt, Điều kia xấu”. Đặc điểm và sự phát triển tình cảm xã hội của trẻ ở
lứa tuổi này cho thấy, trẻ phát triển tốt nhất thông qua việc tố chức cho trẻ chơi,
trải nghiệm trong các hoàn cảnh khác nhau; Khuyến khích, động viên trẻ (luyện
tập) làm theo và bắt chước các hành vi (mẫu) trong những tình huống thích hợp.
cùng với đó, tình cảm, sự tin cậy, khơi dậy đồng cảm, tôn trọng trẻ của người
lớn… tẩt cả những điều đó sẽ thúc đẩy sự hình thành và phát triển tình cảm, tính

xã hội của trẻ một cách thuận lợi.
Trẻ nhỏ nhận thức qua cảm nhận trực tiếp từ những hành động cảm giác, tri
giác cụ thể với những đồ vật, sự vật và hiện tượng xung quanh. Sự cảm nhận của
trẻ bằng trực giác và mang tính tổng thể. Hoạt động tư duy của trẻ cũng gắn liền
với cảm xúc, ý muốn chủ quan của trẻ và chủ yếu trong giai đoạn này kiểu tư
duy trực quan hành động, tư duy hình ảnh phát triển mạnh. Trẻ hay bắt chước
hành động của người khác, vì vậy những người gần gũi chăm sóc trẻ cần có
những cử chỉ, hành động lời nói làm gương cho trẻ.
Cuối tuổi mẫu giáo, trẻ đã bắt đầu xuất hiện tư duy trực quan sơ đồ, đặt cơ
sở, tiền đề cho sự phát triển tư duy lôgích và tư duy trừu tượng của trẻ sau này.
Trẻ đã bắt đầu học cách tách biệt dấu hiệu bản chất của đối tượng, nhờ đó trẻ
dần dần có cách nhìn, cách định nghĩa về các sự vật, xuất hiện khả năng suy
luận, khái quát độc đáo dựa trên những hiểu biết về các dấu hiệu, các mối liên
hệ của sự vật và hiện tượng mà trẻ có và do vậy những điều đó nhiều khi chưa
chính xác.
Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ cần được chuẩn bị toàn diện và một số kĩ năng
chuyên biệt cho việc đi học lớp 1. Trẻ cần phát triển tính tự lập, sự kiềm chế,
khả năng diễn đạt rõ ràng, một số kĩ năng chuẩn bị cho việc học đọc, học viết
như: làm quen với chữ cái, chữ số, cách cầm bút, tìm và giở sách, cách đọc
sách… đặc biệt là hứng thú đối với việc đến trường.
Các lĩnh vực phát triển của trẻ về thể chất, trí tuệ, nhận thức và tình cảm xã
hội đều có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu bỏ lỡ những cơ hội
phát triển trong giai đoạn đầu đời quan trọng này, thì về sau sẽ rất khó khăn và
tốn kém, tuy không phải là không thể, trong việc giúp trẻ phát huy tiềm năng
của mình.
Câu hỏi
(1) Trẻ 3-6 tuổi có những đặc điểm phát triển nối bật thế nào cha mẹ cần
quan tâm đến?
(2) Những yếu tố nào có tác động trực tiếp đến sự phát triển của trẻ từ 3 – 6
tuổi?

Nội dung 2
VIỆC CHA MẸ CẦN LÀM ĐỂ GIÚP TRẺ 3 – 6 TUỔI PHÁT TRIỂN
TỐT (1 tiết)
Hoạt động: Tìm hiểu khả năng của trẻ và lời khuyên cho cha mẹ
Trẻ 3-4 tuổi
*Trẻ có khả năng
– Đi, leo, trèo và chạy nhảy dễ dàng.
– Làm theo những chỉ dẫn đơn giản.
– Nói được những câu dài 8-10 từ.
– Nói được tên và tuổi của mình.
– Kể tên các màu sắc.
– Hiểu số đếm.
– Sử dụng các đồ vật làm giả các thứ khác để chơi.
– Bắt chước các hành vi, lời nói.
– Tự ăn.
Lời khuyên cho cha mẹ
– Giúp trẻ mặc quần áo , rửa tay và sử dụng nhà vệ sinh.
– Phối hợp nhiều thức ăn khác nhau trong một bữa, ăn nhiều bữa trong
ngày.
– Khuyến khích nhưng không ép buộc trẻ.
– Dạy trẻ tránh những nơi, đồ vật nguy hiểm.
– Trò chuyện với trẻ bình thường, không được dùng cách nói chuyện của
trẻ.
– Đưa ra những quy định đơn giản và giúp trẻ thực hiện.
– Đọc chuyện, hát cho trẻ nghe và dạy trẻ hát, đọc thơ, chơi với trẻ. Những
dấu hiệu cần theo dõi:
– Không chịu ăn, ít ngủ.
– Khó giữ thăng bằng, khi đi lại hay bị ngã.

– Khó điều khiển các đồ vật nhỏ.
– Các chấn thương và những thay đổi hành vi không lí giải được.
– Thiếu sự đáp ứng lại những người khác.
– Không có khả năng nói câu ngắn 3 – 4 từ.
– Không hiểu các câu nói đơn giản.
*Trẻ có khả năng
– Cử động, đi lại, chay nhảy, phối hợp tốt.
– Mặc quần áo không cần giúp đỡ.
– Tự rửa tay.
– Biết chơi cùng trẻ khác.

– Nói đầy đủ câu, sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau.
– Hiểu từ trái nghĩa.
– Trả lời được câu hỏi vì sao.
– Đếm được 10 đồ vật.
– Lời khuyên cho cha mẹ
– Phối hợp nhiều thức ăn khác nhau trong một bữa, ăn nhiều bữa trong
ngày.
– Dạy trẻ tránh những nơi, đồ vật nguy hiểm.
– Khuyến khích trẻ chơi và khám phá tìm tới các đồ vật trong cuộc sống.
– Dạy trẻ tránh những nơi, đồ vật nguy hiểm.
– Khuyến khích trẻ chơi và khám phá tìm tới các đồ vật trong cuộc sống.
– Lắng nghe trẻ nói, trả lời các câu hỏi của trẻ.
– Đọc truyện, kể truyện cho trẻ nghe.
Những dấu hiệu cần theo dõi:
Theo dõi trẻ khi chơi, nếu trẻ tỏ ra sợ hãi, tức giận hay thô bạo… đó có thể
là dấu hiệu thể hiện trẻ có trở ngại về tình cảm hoặc bị lạm dụng.
Câu hỏi
1. Trẻ 3-4 tuổi có khả năng như thế nào? cha mẹ có thể làm gì để giúp trẻ

phát triển tốt? Lấy ví dụ.
2. Trẻ 5 tuổi có khả năng như thế nào? cha mẹ có thể làm gì để giúp trẻ
phát triển tốt? Lấy ví dụ.
3. Cha mẹ cần theo dõi sát sự phát triển của trẻ để làm gì? Lấy ví dụ.
Nội dung 3
MỤC TIÊU TƯ VẤN CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ 3 – 6 TUỔI CHO
CÁC BẬC CHA MẸ (1 tiết)
Hoạt động: Tìm hiểu mục tiêu tư vấn chăm sóc, giáo dục trẻ cho các
bậc cha mẹ có con 3 – 6 tuổi
Chăm sóc, giáo dục trẻ có nghĩa là phải chăm lo tới sức khỏe thể chất (ăn,
ngủ, vệ sinh phòng bệnh, đề phòng tai nạn,…) và chăm sóc đến sức khỏe tinh
thần của trẻ (đáp ứng những nhu cầu tâm lý, xã hội như nhu cầu được chơi, được
yêu thương, được an toàn,…).
Mục tiêu tư vấn về CSGD trẻ 3 – 6 tuổi cho các bậc cha mẹ là nhằm làm
cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là cha mẹ của trẻ từ 3 đến 6 tuổi được
nâng cao kiến thức về khoa học chăm sóc, giáo dục trẻ cùng những kĩ năng áp
dung các kiến thức khoa học đã được tiếp thu vào thực tiễn cuộc sống.
Muốn giúp cho đứa trẻ phát triển tốt, cha mẹ cần đáp ứng những nhu cầu
cơ bản sau: được đáp ứng đầy đủ chất dinh dưỡng, được giao lưu trực tiếp với
người lớn gần gũi, thân thuộc, nhu cầu được chơi, được tự trải nghiệm, được
hoạt động với đồ vật, được tìm hiểu, khám phá và bộc lộ tình cảm, thái độ với
môi trường xung quanh. Do đó, vai trò gia đình đặc biệt quan trọng trong chăm

sóc, giáo dục trẻ nói chung, chăm sóc sức khỏe cho trẻ ở lứa tuổi này nói riêng.
Trong gia đình, bố mẹ và người thân là nhịp cầu kết nối thế giới bên ngoài với
thế giới bên trong của trẻ. Những năm đầu của cuộc sống, đối với trẻ, sự gắn bó
tương tác mẹ con giữ vị trí hết sức quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự
phát triển cơ thể trẻ. Quan hệ gắn bó mẹ con, tình cảm yêu thương của những
người thân trong gia đình tạo cho trẻ cảm giác an toàn về thể chất và tinh thần,

đây chính là một trong những điều kiện thuận lợi để trẻ phát triển.
Tư vấn viên cần giúp các bậc cha mẹ có đủ kiến thức, kĩ năng chăm sóc và
giáo dục trẻ phát triển toàn diện các mặt như sau:
Phát triển về thể chất, tăng trưởng về cân nặng, sự vận động, phối hợp các
cơ quan và hoạt động của các giác quan, ăn uống đầy đủ, chăm sóc sức khỏe, vệ
sinh sạch sẽ, được vận động, vui chơi trong môi trường an toàn, thân thiện là
những nhu cầu cơ bản giúp trẻ lớn lên khỏe mạnh.
Lĩnh vực phát triển nhận thức, bao gồm hiểu biết của trẻ về môi trường tự
nhiên, môi trường xã hội gần gũi xung quanh, về các kiến thức toán học cũng
như sự cảm nhận, hiểu biết về nghệ thuật; khả năng suy luận và sáng tạo giúp trẻ
tham gia vào hoạt động học tập có hiệu quả.
Phát triển ngôn ngữ là sự hiểu biết và khả năng sử dung ngôn ngữ, khả
năng giao tiếp hiệu quả cũng như những kĩ năng làm quen với việc đọc, viết của
trẻ khi trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo.
Phát triển về tình cảm và xã hội
Gia đình, nhà/nhóm trẻ, lớp mẫu giáo là những môi trường đầu tiên, quyết
định không chỉ đáp ứng các nhu cầu cơ bản về dinh dưỡng và chăm sóc, mà còn
khuyến khích sự tìm tòi, khám phá, tự lập, học hỏi liên tục, bộc lộ cảm xúc, tình
cảm của bản thân và với những người sống xung quanh, khả năng hình thành
những mối quan hệ tích cực có ý nghĩa của trẻ với con người và môi trường
sống gần gũi; giúp trẻ hình thành nhân cách.
Nội dung 4
NỘI DUNG TƯ VẤN CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ 3 – 6 TUỔI CHO
CÁC BẬC CHA MẸ (5 tiết)
Hoạt động 1: Tìm hiểu về nội dung kiến thức chăm sóc trẻ 3-6 tuổi cần
đước tư vấn cho các bậc cha mẹ
4.1. Nội dung tư vấn chăm sóc trẻ 3-6 tuổi
4.1.1. Nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoè
a.Đáp ứng những nhu cầu của trẻ
– Cho trẻ ăn uống hợp lí, đủ lượng, đủ chất.

– Bảo đảm giấc ngủ.
– Chăm sóc sức khỏe, vệ sinh, phòng bệnh.
– Chăm sóc tình cảm, tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động, vui chơi.
b. Chăm sóc bữa ăn và giấc ngủ
Chăm sóc ăn uống.

Ăn uống rất cần thiết để trẻ phát triển thể chất và tinh thần. Do đó ngoài
việc đảm bảo cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng, cần chú ý cách chế biến phù hợp từ
lỏng đến đặc dần (mềm đến rắn), vệ sinh sạch sẽ và sắp xếp giở giấc cho các bữa
ăn hợp lí. Bữa tối không nên cho trẻ ăn quá muộn.
*Đảm bảo thức ăn an toàn cho trẻ:
– Chỉ ăn thức ăn đã nấu chín.
– Không để ruồi, bọ đậu vào thức ăn.
– Rửa thức ăn kĩ truớc khi nấu.
– Không ăn thức ăn ôi thiu hoặc quá hạn sử dụng.
*Thức ăn tốt cho trẻ là thức ăn nào?
Thức ăn tốt cho trẻ là thức ăn mềm, sạch, an toàn, dễ tiêu hoá với trẻ. Đó là
những thức ăn sẵn có ở địa phương mà các gia đình, kể cả gia đình nghèo nhất
thường dùng để nuôi trẻ khỏe mạnh. Đó là những thức ăn sau:
– Thức ăn giàu chất bột đường như gạo, ngô, khoai, sắn, mi, mía…
– Thức ăn giàu chất đạm như trứng, thịt (gà, bò, lợn), cá, tôm, cua, đậu,
đỗ…
– Thức ăn giàu chất béo như mỡ, dầu ăn, lạc, vừng, quả dừa…
– Thức ăn giàu vitamin và muối khóang như gấc, cà chua, bí đó, rau ngót
cam, chuối, đu đủ…
*Vì sao phải cho trẻ ăn nhiều loại thức ăn khác nhau trong một bữa?
– Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau nhằm cung cấp đủ năng lượng và các
chất dinh dưỡng cho trẻ phát triển.
Ví dụ: nấu xôi gấc thường cho thêm mỡ vì mỡ giúp cho việc hấp thu

vitamin A có trong gấc. Ăn nhiều thức ăn giàu vitamin A (gấc, đu đú, bí đó, gan,
rau xanh…) sẽ phòng tránh được bệnh khó mắt.
Chú ý cho trẻ ăn dầu mỡ và rau quả để cung cấp đủ năng lượng, giúp cơ
thể phòng chổng bệnh tật (thực tế nhiều bà mẹ kiêng không cho con ăn dầu mỡ
và rau là không đúng).
*Chế độ ăn cho trẻ 3- 6 tuổi:
– Ở tuổi này trẻ có thể ăn cùng với gia đình. Ngoài 3 bữa cơm chính với gia
đình, cho trẻ ăn thêm 2 bữa phụ hoa quả, sữa hoặc bánh.
– Trẻ cần có bát và thìa riêng để có thể ăn dễ dàng và cha mẹ có thể theo
dõi được lượng thức ăn mà trẻ ăn.
– Cho trẻ ăn nhiều loại thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, cá, tôm, cua,
hến, trai, các loại hạt ngũ cốc, trứng, rau, củ, quả chính và sữa.
– Không nên cho trẻ ăn kiêng.
Giáo dục hình thành thói quen vệ sinh trong ăn uống
– Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn.
– Không nói cười ầm ĩ khi ăn, ăn không ngậm, ăn hết suất.
– Biết nhặt cơm rơi bỏ vào nơi quy định.

– Đối với trẻ 3 – 4 tuổi ăn xong biết cất bát, thìa.
– Đối với trẻ 4-5 tuổi ăn xong biết thu dọn bát, thìa, bàn, ghế.
– Sau khi ăn xong biết lau, rửa miệng và uống nước.
Chăm sóc giấc ngủ
Giấc ngủ rất cần thiết đối với trẻ. Trẻ càng lớn số lượng giấc ngủ ít hơn,
nhưng thời gian một giấc ngủ kéo dài hơn. Trẻ từ 3 – 6 tuổi ban ngày chỉ cần ngủ
1 giấc trưa dài từ 2 giờ đến 2 giờ 30 phút. Tránh gây tiếng động ồn ào phá rối
giấc ngủ của trẻ.
Nếu thấy trẻ ngủ ly bì suốt ngày hoặc ngược lại trẻ rất ít ngủ, gầy còm ốm
yếu thì cần đưa trẻ đi kiểm tra sức khỏe.
Cần tập cho trẻ thói quen ngủ vào giữ nhất định, trước khi ngủ không nên

cho trẻ chơi đùa quá nhiều, không mắng phạt trẻ, không cho trẻ xem phim ảnh
gây sợi hãi…
Giáo dục hình thành thôi quen vệ sinh khi đi ngủ
– Đánh răng trước khi đi ngủ bằng nước chín và thuốc đánh răng có chứa
flo.
– Không ăn kẹo, bấmh ngọt, không uống đường trước khi đi ngủ.
– Đi tiểu trước khi đi ngủ.
– Biết giữ gìn chăn, gối, nơi ngủ luôn sạch sẽ….
c. Chăm sóc vệ sinh
Vệ sinh thân thể cho trẻ
– Cha mẹ và những người chăm sóc trẻ cần giữ gìn vệ sinh cho bản thân
mình và cho trẻ hàng ngày. Dạy trẻ và giúp trẻ làm quen với những hành vi tự
chăm sóc vệ sinh cá nhân như: Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi
vệ sinh; chải chiếu, đánh răng; cho trẻ mặc quần áo sạch sẽ, không để trẻ cởi
truồng, không đi chân đất… để đề phòng các bệnh do thiếu vệ sinh gây ra gồm:
ỉa chảy, giun, sán, suy dinh dưỡng; ngộ độc thức ăn; số mũi, ho, sốt do nhiễm
lạnh; sâu răng; mẩn ngứa, ghẻ lở…
– Trẻ cần có khăn mặt riêng, khăn được giặt và luộc hoặc hấp 1-2 lần/ tuần;
Phơi chỗ có ánh nắng mặt trời.
– Về vệ sinh áo quần cho trẻ: Mùa đông: cho trẻ mặc quần áo đủ ấm, giữ
cho đầu, cổ, ngực và chân của trẻ ấm áp, đi giầy, dép và bít tẩt cho trẻ, ngủ nơi
kín gió. Mùa hè: cần thông thoáng nơi ở, mặc quần áo mắt, dễ thấm mồ hôi.
Khuyến khích trẻ tự mặc và cởi quần áo, ban đầu người lớn giúp, sau trẻ tự mặc.
Hình thành thói quen giữ vệ sinh thân thể ở trẻ
– Biết giữ mặt, mũi, tay, chân, quần áo, đầu tóc luôn gọn gàng, sạch sẽ.
– Tập cho trẻ biết tự rửa tay, chân, mặt mũi khi bị bẩn; biết nhận ra đồ dùng
của mình và biết cách sử dụng chúng.
Vệ sinh môi trường xung quanh trẻ

– Nền nhà là nơi trẻ vui chơi, do vậy cần được lát gạch men, hàng ngày
được lau, chùi 3 lần vào những khi nhà bẩn, đảm bảo phòng trẻ không có mùi
hôi khai.
– Thường xuyên vệ sinh nhà của cho sạch sẽ, thông thoáng, tránh cho trẻ
tiếp xúc với với khói bếp, khói thuốc lá, thuốc lào.
– Nguồn nước dùng trong gia đình cần đảm bảo sạch để phòng tránh bệnh
tật, chỉ cho trẻ uống nước sạch đã đun sôi. Giữ nguồn nước ăn sạch sẽ, xa nhà vệ
sinh, xa chuồng gia sức.
– Đồ dùng, đồ chơi của trẻ sạch sẽ, gọn gàng: trẻ cần có khăn mặt riêng,
khăn được giặt và luộc hoặc hấp 1-2 lần/ tuần; Phơi chỗ có ánh nắng mặt trởi.
Thường xuyên giặt phơi chăn, chiếu, màn của trẻ, tránh để ẩm mốc hôi khai. Đồ
dùng như bô, chậu rửa và các dụng cụ vệ sinh của trẻ cần được rửa sạch phơi
khô. Đồ chơi bằng gỗ và nhựa có thể rửa phơi khô hàng ngày, các đồ dùng, đồ
chơi bằng giấy nên thay đổi, không để lâu ngày bụi bặm, ẩm mốc có hại cho sức
khỏe của trẻ.
– Xứ lí, bảo quản phân người, phân gia súc, chất thải hữu cơ (xác súc vật
chết,…) ở xa nhà ở và xa nguồn nước ăn. cần dọn sạch phân và nước tiểu của trẻ
để không ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ và gia đình. Những gia đình có điều
kiện nên sử dụng hố xí thấm dội nước, hố xí bán tự hoại và tự hoại. Những gia
đình khó khăn hơn có thể sử dụng hố xí hai ngăn, hố xí khô; Chú ý với các loại
hố xí này cần phải có nắp đậy, sau mọi lần trẻ đi xong cần rắc tro hoặc đất bột.
– Vệ sinh sân vườn hàng ngày cần được quét sạch, chôn hoặc đốt rác chú ý
phát quang bụi rậm, diệt ruồi muỗi, giấm chuột…
Giáo dục hình thành thói quen, hành vi văn minh bảo vệ môi trường cho trẻ
– Biết giữ gìn vệ sinh chung (không vẽ bẩn lên tường, lên bàn ghế; bỏ rác
vào đứng nơi quy định, khi ngáp biết che miệng; không nhổ bậy…).
– Biết cách sử dụng các công trình vệ sinh, đi tiêu, đi tiểu đứng nơi quy
định; biết xếp dép, guốc, nón, mũ, đồ chơi vào nơi quy định.
– Biết giữ gìn đồ dùng, đồ chơi một cách sạch sẽ, gọn gàng.
Thông qua hoạt động hành ngày, hoặc qua các bài thơ, truyện kể, ca dao,

bài hát, giáo dục trẻ có thói quen giữ nền nhà luôn sạch, không làm bẩn nền nhà,
chơi xong cất dọn đồ chơi gọn gàng, vứt rác, đi vệ sinh đứng nơi quy định…
d. Chăm sóc sức khỏe và an toàn
d. 1. Theo dõi, đánh giá sự phát triển của cân nặng theo lứa tuổi
Đối với trẻ 3-6 tuổi cha mẹ nên cân trẻ hàng quý. Theo dõi cân nặng là biện
pháp tốt để phát hiện tìm các yếu tố ảnh hưởng sự phát triển của trẻ. Nếu kết quả
lần cân sau bằng hoặc thấp hơn lần cân trước chúng tỏ trẻ có điểu gì đó de doạ
đang nguy hiểm đến sự phát triển của trẻ. Bạn cần tìm nguyên nhân và đưa ra
các biện pháp can thiệp.
d.2. Phòng tránh bệnh thường gặp. Theo dõi tiêm chủng
Để đảm bảo sức khỏe cho trẻ, cần thực hiện tốt công tác tiêm chủng và
phòng dịch và biết cách phòng và xử trí ban đầu một số bệnh thường gặp

– Đề nghị nghiên cứu phần này ở Module 11. Đối với trẻ 3 – 6 tuổi, cần chú
trọng hình thành cho trẻ các thói quen tốt để phòng bệnh tích cực.
d.3. Bảo vệ an toàn và phòng tránh một số tai nạn
*Tạo môi trường an toàn cho trẻ
Những đồ vật nguy hiểm như ổ điện, thuốc men, dao, kéo, nước sôi… phải
để ngoài tầm với của trẻ.
Những gia đình trẻ lớn giúp cha mẹ trông em, cần hướng dẫn cho các cháu
biết cách đảm bảo an toàn và phòng tránh tai nạn cho cả anh chị và em bé như:
không chơi gần bếp lửa, gần ao hồ, giếng nước…, không để em bé ngồi một
mình hoặc đặt em trên bàn, ghế, chỗ cao dễ xảy ra tai nạn, không cho em bé chơi
vật nhỏ như hột hạt cúc áo… dễ bị hóc sặc…
Cẩn thận khi cho trẻ ăn: không cho trẻ ăn khi trẻ đang khóc, hoặc đang nô
đùa, không bịt mũi trẻ khi cho trẻ ăn…
Đồ dùng trong gia đình (bàn ghế, tủ, cầu thang,… cần chắc chắn); cha mẹ
thường xuyên kiểm tra để phỏng tránh tai nạn cho trẻ, các dụng cụ chứa nước
phải có nắp đậy…

Mọi lúc mọi nơi người lớn hoặc anh chị lớn hơn cần để mắt tới trẻ, dạy trẻ
nhận biết những nơi nguy hiểm.
Khi tai nạn xảy ra cần bình tĩnh, tìm cách loại bỏ nguyên nhân gây ra tai
nạn, đồng thời tiến hành sơ cứu và đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất.
*Một số tình huống có thể xảy ra tai nạn cho trẻ
– Hầu hết những tai nạn thường gặp có thể phòng tránh được, tuy vậy, tai
nạn thương tích vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ. Những tai nạn
mà trẻ em thường gặp là: ngã, tai nạn giao thông, chết đuối, bị vật sắc nhọn
cắt/đâm, ngộ độc, bỏng.
– Một số những tai nạn của trẻ sẽ trở nên lất nguy hiểm cho tính mạng nếu
không được 30 cứu kịp thời. Nếu biết sơ cứu ban đầu kịp thời thì có thể giúp trẻ
thoát khỏi nguy hiểm. Phần lớn những động tác sơ cứu rất đơn giản và rất dễ
thực hiện, mọi người lớn đều có thể làm được để sơ cứu kịp thời cho trẻ.
Phòng tránh ngã, tai nạn giao thông
Ngã là nguyên nhân thương tích, tàn tật hàng đầu cho trẻ. Trẻ bị ngã sẽ bị
các vết bầm tím, gẫy xương, những tổn thương bên ngoài hoặc bên trong cơ thể,
nếu nặng có thể gây tử vong. Người chăm sóc trẻ cần làm hàng rào xung quanh
hành lang cao hoặc cầu thang, nếu có điều kiện nên làm hàng rào xung quanh ao
, nhà và luôn trông trẻ cẩn thận khi trẻ ở hiên cao, cầu thang, hoặc ở gần ao hay
những nơi nguy hiểm khác.
– Tai nạn giao thông là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây thương
tích và tử vong cho trẻ. Nên có một chỗ vui chơi an toàn cho trẻ trong sân nhà
hoặc trong làng, không cho trẻ chơi ở đường giao thông. Đề phòng trẻ chạy ra
đường mà không ai biết. Dạy trẻ thực hiện các quy tắc an toàn giao thông:
– Không bao giờ cho phép trẻ nhỏ ra đường một mình. Các bậc cha mẹ phải
nắm tay trẻ khi trẻ đi ra đường.

– Đi đâu bằng xe máy, xe đạp, cần nhắc nhở trẻ ngồi an toàn: ngồi cho mỗi
chân một bên; Ngồi đứng chỗ có ghế ngồi và hai tay ôm vào người lái xe, không

đứng trên yên xe, giông xe hoặc trên ghế đèo. Không tự ý lên xuống xe.
– Đi đâu bằng ô tô, cần nhắc nhở trẻ: Không được thò đầu, thò tay ra ngoài;
Không vứt rác từ trên ô tô xuống hai bên đường và xuống sàn nhà, không khạc
nhổ, la hét to; Không làm phiền lái xe (nói chuyện với lái xe khi xe đang chạy,
khỏe, nói chuyện to, cầm tay, níu áo lái xe…).
– Khi đưa con đi chơi trên hè phố/lề đưởng (ở thành phố), 1ề đường (ở nông
thôn), nên hướng dẫn trẻ, chỉ cho trẻ biết những nơi có thể xảy ra nguy hiểm để
trẻ chú ý tránh. Nơi không có vỉa hè thì đi hàng một, mắt hướng về phía phương
tiện giao thông đang đi tới. Khi đi trên đường cùng trẻ, luôn luôn đi đứng nơi
dành cho người đi bộ để trẻ noi theo.
Sơ cứu chấn thương tai nạn giao thông, ngã
Chấn thương phần mềm: Những vết bầm tím và sưng xuất hiện sau một cú
ngã hoặc va chạm khiến cho chảy máu vào các mô duối da, làm sưng và đổi
màu. Các vết bầm thường phai màu dần và biến mắt sau khoảng một tuần.
Cách xử trí: Đấp lên vết bầm trong khoảng nửa tiếng một chiếc khăn nhúng
nước lạnh vắt ráo hoặc bọc đá lạnh vào khăn áp vào vết thương. Nếu trẻ bị đau
nhiều hoặc đau khi cử động tay chân bị bầm tím cần kiểm tra xem trẻ có bong
gân hay gẫy xương không.
Bong gân: Đau ở vùng bị va đập chấn thương (thường gấp ở khớp cổ chân,
cổ tay), nơi bị va đập sưng lên và sau đó bị bầm tím, cử động khớp khó khăn.
Cách xử trí:
– Nhẹ nhàng cởi giầy hoặc tất cho trẻ hay các thứ có thể gây chèn ép cho
chỗ sưng xung quanh vùng bị chái thương.
– Nâng khớp bị chấn thương trong tư thế nào dễ chịu nhất cho trẻ, đắp lên
khớp một khăn nhúng vào nước lạnh đã vắt hết nước đi hoặc một chiếc khăn bọc
đá lạnh để làm bớt sưng và giảm đau.
– Quấn một lớp bông ở xung quanh khớp và quấn băng chắc cố định xung
quanh phần khớp bị bong gân nhưng không quá chặt làm móng tay, móng chân
trở nên trắng bệch hay xanh nhat.
– Đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay sau khi băng bó cho trẻ xong.

Xem thêm: Bài Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Ngạch Chuyên Viên, Kho Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước

Gãy xương và trật khớp
– Cẩn thận băng vết thương và cầm máu nhưng tuyệt đốii tránh di chuyển
chân tay làm xương gãy bị xó lệch và gây đau đớn cho trẻ.
– Kiểm tra xem trẻ có bị choáng hay không. Luôn quan sát các dấu hiệu
nguy hiểm như: choáng (da tải xanh, trẻ mệt lờ đờ hoặc vật vã, người lạnh dâm
dấp mồ hôi, hoặc bất tỉnh.
Cố định vết thương và nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế:
+ Nếu gãy tay, dùng một miếng vải to buộc qua cổ để treo tay của trẻ.

+ Nếu gãy chân, đặt chân trẻ lên thanh gỗ cứng. Dùng vải sạch lót giữa hai
chân trẻ ở phần đầu gối và mắt cá chân, buộc thanh gỗ và hai chân trẻ vào với
nhau.
Phòng tránh chết đuối
Chết đuối là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ nhỏ. Do sức yếu, trẻ rất
dễ bị ngạt thở khi ngã xuống nước, dù rất ít nước trẻ cũng có thể bị chết đuối, do
vậy:
– Không cho trẻ tắm ở sông, suối mà không có người lớn biết bơi đi kèm.
– Nên rào quanh ao, hố nước, hố phân sâu, hố vôi đang tôi để tránh các em
khi chơi đùa bị ngã, rơi xuống hố.
– Trong mùa mưa lũ, cần phải có biển báo những chỗ nước sâu, nguy hiểm
và nhắc nhở trẻ em tuân theo các lời chỉ dẫn.
– Các hố vôi tôi, hố đào đất sau khi đã sử dung cần được lấp kín.
– Làm nắp đậy chắc chắn giếng, bể nước, chum, vại.
– Dạy cho trẻ tập bơi.
Xử lý đuối nước
Nếu một trẻ bị đuối nước gần bờ: Hãy nắm lấy một vật gì đó đưa cho trẻ và
để trẻ nắm lấy và kéo trẻ lên bờ một cách an toàn, hoặc ném một sợi dây thừng
từ bờ để trẻ túm lấy và kéo trẻ vào. Trong trường hợp trẻ ở quá xa bờ và bất
tỉnh:

– Hô hoán, kêu gọi mọi người tới giúp đỡ.
– Ngay lập tác sử dụng thuyền nếu có sẵn để vớt trẻ lên thuyền.
– Nếu bạn biết bơi giỏi, lấy một dây thừng buộc quanh thắt lưng của bạn,
bạn có thể bơi ra chỗ trẻ và có một người cầm đầu dây kia đứng trên bờ.
– Bơi ra chỗ trẻ đang bị đuối nước với sợi dây buộc quanh thắt lưng bạn.
Nếu trẻ còn tỉnh hãy nói với trẻ đang đuối nước một cách vững vàng để giúp trẻ
bình tĩnh. Giữ tay trẻ về phía sau và cố gắng để nâng cằm và mặt của trẻ lên cao
khỏi mặt nước. Người đứng trên bờ kéo cả bạn và đứa trẻ vào bờ.
– Nếu bạn có phao bơi, đem phao bơi ra cùng với bạn. Nhưng vẫn phải
buộc sợi dây thừng quanh người.
Sơ cứu đuối nước
– Nhanh chóng đưa trẻ lên khỏi nước.
– An ủi trẻ bị nạn và đặt trẻ nằm ngửa, đầu nghiêng một bên.
– Nắm hai chân trẻ, dốc ngược đầu xuống thấp rồi lay mạnh để tháo nước
ra.
– Đặt trẻ nằm nghiêng, móc hết các chất bẩn ở trong miệng trẻ rồi ép lồng
ngực để tiếp tục tháo nước ra.
– Nhanh chóng hà hơi thổi ngạt.
– Đưa trẻ đến cơ sở y tế.
Phòng tránh vật sắcn họn cắt, đâm

Trẻ nhỏ thích tiếp xúc với mọi vật nên rất dễ bị các vật sắc nhọn cắt, đâm
vào người. Người chăm sóc trẻ nên hết sức chú ý:
– Giữ cho sàn nhà, ngoài sân, những nơi mà trẻ thường đi lại không có
những mảnh thủy tinh vỡ, vỏ hộp kim loại, đinh nhọn, mảnh sắt thép, dao lam,
mảnh gỗ, mảnh tre có dằm hoặc cạnh xắc.
– Để lên cao ngoài đến với của trẻ các vật dụng sắc nhọn trong gia đình
như: dao, kéo, cưa…
– Không cho trẻ chơi với các vật dụng sắc nhọn, hoặc chơi ở nơi có nhiều

vật dụng sắc nhọn xung quanh như mảnh kính vỡ, đá nhọn…
– Thường xuyên để mắt đến trẻ nhỏ trong khi trẻ chơi đùa.
Xa cứu đứt tay; chân, vết thương thông thường
– Rửa sạch vết thương bằng nước sạch. Nhẹ nhàng rửa hết những bụi bẩn.
– Nếu vết đứt nhỏ, có thể để mở cho nhanh liền. có thể băng một miếng
băng dính nhỏ ra ngoài. Kiểm tra để biết chắc chắn máu không tiếp tục chảy.
Rửa vết thương và thay băng hằng ngày.
– Nếu vết đứt to, máu chảy nhiều, cầm máu bằng cuộn băng to hoặc quần
áo sạch, tuyệt đối không bôi một loại thuốc nào lên vết thương, đưa trẻ đến cơ
sở y tế gần nhất.
Phòng tránh ngộ độc
Đề phòng: cần khoá kĩ hoặc đặt lên giá cao ngoài đến tay của trẻ những hoá
chất độc hại như: thuốc trừ sâu, thuốc chuột, bình xịt muỗi, gián, tất cả các loại
thuốc tân duợc và phải có dán nhãn ở ngoài hộp rõ ràng. Dạy trẻ không nên
uống những chai nước có màu sắc lạ, không nên ăn thức ăn lạ, thức ăn ôi thiu,
hoa quả và cây, lá không an toàn như lá trúc đào,…
Nhận biết: Ngộ độc gồm loại cấp tính có thể gây nguy hại tác thì cho trẻ,
hoặc ngộ độc mãn khi tiếp xúc lâu dài với một loại hoá chất độc nào đó. Ngộ
độc có thể rất dễ nhận biết khi chứng kiến trẻ uống, ăn hoặc hít phải chất độc,
cũng có thể rất khó nhận biết. Trẻ dễ bị ngộ độc nhất qua đường tiêu hóa như ăn
phải thức ăn ôi thiu, nuốt phải các chất độc như thuốc chuột, xà phòng, thuốc
chữa bệnh hoặc hít phải khí độc của lò than, bình ga, hoá chất. Dấu hiệu thường
gặp là trẻ đau bụng, nôn mửa, có thể kèm theo da tái, lạnh, thở nhanh và không
sâu, nặng thì lơ mơ, bắt tỉnh. Chú ý có thể phát hiện được nguyên nhân gây độc
tử những chai, lọ… bên cạnh trẻ.
Sơ cứu: Nếu trẻ bất tỉnh, hà hơi thời ngạt ngay nhưng phải đặt một tấm vải
mùng lên miệng trẻ để tránh nhiễm chất độc vào bản thân người lớn. Nếu trẻ vẫn
thở thì đặt trẻ nằm tư thế dễ thở, thoáng khí. Tìm hiểu nhanh xem trẻ đã ăn,
uống, hít phải cái gì, bao lâu rồi, nếu có chất nôn phải giữ lại để cán bộ y tế kiểm
tra. Nếu biết rõ nguyên nhân thì có thể sơ cứu: uống phải chất độc cần gây nôn,

hoặc cho uống một cốc nước muối đặc, hoặc than hoạt tính. Nếu bị hoá chất bắn
vào cần rửa bằng nước lạnh từ 10- 15 phút. Chuyển trẻ đến cơ sở y tế.
Phòng tránh hóc, tắc nghẹn đường thở

Trẻ nhỏ rất dễ bị ngạt và tắc đường thở khi nuốt hoặc nhét các vật gây tắc
đường thở vào miệng, mũi, tai. Đề phòng, tránh người chăm sóc trẻ cần:
– Không để những đồ vật nhỏ mà trẻ có thể nuổt và bị hóc như: đồng xu,
cúc áo, kim băng, hạt lạc, hạt trái cây, hòn bi…
– Cho ăn những thức ăn mềm mà trẻ có thể nhai được; không nên cho trẻ ăn
nguyên cả hạt lạc hoặc ăn những loại quả có hạt cứng.
– Khi ăn cơm, bột, không nên để trẻ ngả đầu Về phía sau, ăn khi đang chay,
hoặc vừa ăn vừa cười đùa.
– Đảm bảo trẻ không cho những đồ vật dễ bị hóc vào miệng, mũi.
Những dấu hiệu thường gặp: Trẻ tím tái, ho sặc sựa, trào nước mắt nước
mũi. Trẻ không phát âm được, hoặc không thể khóc thành tiếng. Trẻ lấy tay nắm
lấy cố mình. Nếu muộn: môi và lưỡi trẻ bắt đầu tím tái và trẻ có thể bất tỉnh nếu
vật gây tấc không lây được ra.
Cách sơ cứu: Ngay lập tức bế trẻ nằm sấp trên tay trái mình sao cho đầu trẻ
thấp hơn ngực, đỡ lấy đầu trẻ, dùng tay phải vỗ mạnh vào lưng cho vật hòc nơi
ra khỏi họng. Sau đó dùng ngón tay phải móc dị vật ở trong miệng ra. N ếu trẻ
tím tái, đặt trẻ trên nền phẳng cứng và hà hơi thời ngạt
– Nếu trẻ lớn hơn, đặt trẻ nằm vắt trên đầu gối của người lớn sao cho đầu
trẻ chúc xuống dưới. Dùng tay vỗ mạnh vào phần giữa hai bả vai để cho dị vật
rơi ra khỏi họng. Nếu trẻ nhợt nhat, đặt trẻ nằm xuống và hà hơi thời ngạt.
– Nếu trẻ có thể đứng được thì bảo trẻ đứng và cúi gập người sao cho đầu
thấp hơn ngực. Dùng tay vỗ nhanh vào vùng giữa hai bả vai để dị vật rơi ra khỏi
họng. Nếu trẻ ngạt, nhanh chóng hà hơi thổi ngạt.
– Nếu trẻ lớn hơn nữa có thể đứng đằng sau trẻ và dùng hai tay ôm ngang
đuối ngực trẻ, bắt ngờ sóc mạnh trẻ lên để dị vật có thể bật ra ngoài hoặc trởi

xuống dạ dày. Nếu trẻ ngạt thì nhanh chóng hà hơi thổi ngạt.
– Nhanh chóng đưa trẻ đến trạm y tế.
Dấu hiệu ngụy hiểm cần đưa trẻ đi cấp cứu ngay lập tác: trẻ không thể ho
hoặc phát ra thành tiếng. Môi lưỡi bắt đầu tím tái, mạch máu ở mặt và cố bắt đầu
nổi lên, trẻ trở nên bất tỉnh.
Phòng tránh bỏng
Trẻ em, đặc biệt từ 3 – 6 tuổi dễ bị bỏng vì tính trẻ hiếu động, tò mò và do
sự bất cẩn của người chăm sóc trẻ. Bỏng nặng có thể để lại di chúng như sẹo, co
kéo cơ, gây tàn phế suốt đời hoặc gây chết người. Người chăm sóc trẻ cần:
– Dạy trẻ có ý thức không nghịch lửa và các vật dễ chấy nổ.
– Không cho trẻ chơi gần bếp lửa hoặc thức ăn, đồ uống mới nấu như: chảo
mỡ, nồi canh, nước sôi, phích nước nông, nồi cảm, vật dễ cháy nổ như ga, xăng,
cồn, ổ điện…
– Không để trẻ lại gần người lớn khi họ đang bê một vật nóng.
– Để chất đốt, diêm, bật lửa, xăng dầu, cồn xa đến với của trẻ.
Sơ cứu bỏng

– Đưa trẻ ra xa khỏi khu vực nguy hiểm.
– Làm mát bỏng bằng nước lạnh và sạch ngay lập tác. Rửa với nước ít nhất
là 10 phút hoặc tới khi vết bỏng đỡ đau. có khi phải mắt nửa giở để làm nguội
vết bỏng.
– Nhanh chóng cởi bỏ quần áo, vòng nhẫn (nếu có) trước khi vết bỏng sưng
to.
– Nếu vết bỏng nhỏ (2 ngón tay): Giữ vết bỏng sạch và khô, không dụng
vào chỗ bỏng nước và tránh làm lột da vết bỏng. Không bôi bất cử một chất gì
lên vết bỏng khi chưa rửa sạch vết bỏng. Không bôi cón lên vết bỏng. Băng vết
bỏng bằng băng hoặc vải sạch.
– Nếu vết bỏng to, làm nguội vết bỏng. Nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế.
Phòng tránh điện giật

Điện giật sẽ tác động vào hệ thần kinh làm rối loạn hoạt động của hệ thổng
hô hấp, hệ tưần hoàn. Người bị điện giật thở hổn hển, tim đập nhanh… nếu bị
nặng thì tim, phổi ngùng hoạt động, nạn nhân chết trong tinh trạng ngạt dòng
điện sẽ làm co rút, tê liệt các cơ bắp gây cảm giác đau nhúc. Người bị điện giật
không thể tự rút tay hoặc bứơt ra khỏi nơi cơ thể chạm vào điện. Điện giật có thể
do:
Chạm vào vật giẫn điện-. vô ý chạm phải vật mang điện hoặc sử dụng các
dụng cụ, thiết bị điện có điện truyền ra vỏ do các bộ phận cách điện bị hỏng;
hoặc không may đảm chân vào dây điện hở, dây điện đứt rơi vào người.
Do phỏng điện: trèo lên cột điện cao thế, lấy sào chọc dây điện cao thế, đến
quá gần trạm biến thế điện cao thế. Trong các trường hợp này dù chưa chạm trực
tiếp vào vật mang điện nhưng với một khoảng cách quá gần, điện phóng qua
không khí, giật ngã hoặc đốt cháy cơ thể.
Tai nạn điện là nguyên nhân gây sóc, bỏng, dễ gây chết người-, vì vậy.
– Cần để ổ điện lên cao, an toàn, ngoài làm với của trẻ. Phải dùng ổ cắm
điện có nắp đậy hoặc lấy băng dính dán kín những ổ cắm điện ít dùng đến.
Không bao giữ để trẻ chơi với dây điện hoặc ổ cắm.
– Không nên dùng dây điện không có phích để cắm trực tiếp vào ổ điện.
– Phải thường xuyên kiểm tra dây điện đề phòng bị hở do chuột cắn.
– Trẻ cần tránh xa nơi dây điện đứt nơi xuống.
– Không nên để cho trẻ nghịch, trèo lên cột điện.
– Không để trẻ trú, nâp dưới gốc cây to khi trởi mua để phòng sét đánh.
Sơ cứu điện giật. Phải biết cách tự bảo vệ bản thân tránh bị điện giật trước
khi cứu người. Nhanh chóng cứu trẻ thoát khỏi nguồn điện bằng cách:
+■ Rút ổ cắm điện ra khỏi ổ điện, ngắt cầu dao, rút cầu chì.
+■ Nếu nguồn điện bị hở, đứng lên một vật cách điện như: ghế gỗ, nhụa,
chăn… dùng một que gỗ dài hoặc ống nhụa gạt dây điện ra khỏi người trẻ.
– Nếu trẻ sóc nhẹ về đến em, an ủi trẻ để trẻ yên đến, kiểm tra xem có bị
bỏng không và an ủi, động viên trẻ đến khi trẻ cảm thấy an toàn.

– Nếu trẻ ngạt thở, tim ngừng đập. Nhanh chống và kiên trì hà hơi thổi ngạt
và bóp tim ngoài lồng ngực cho trẻ.
– Nhanh chông đưa trẻ đến cơ sở y tế.
Bài tập
Sau khi nghiên cứu các nội dung Về chăm sóc sức khỏe cho trẻ, bạn hãy
thứ trả lời câu hỏi sau đây:
Chọn câu trả lời thứ nhất:
+ Mỗi câu có 3 đáp án, chọn đáp ấm đúng nhất +■ Học viên đọc suy nghĩ,
đánh dấu theo ý của mình.
+■ Mỗi câu đúng cho 1 điểm.
Câu 1: Sạch có lợi gì?
– Để giúp ăn ngon miệng.
– Để không làm mắt các chất dinh dưỡng.
– Để phòng tránh bệnh tật.
Câu 2: Để nước thải ứ đọng có hại như thế nào đến sức khỏe?
– Truyền bệnh đường ruột như tả, lị.
– Gây mùi hôi dễ mắc bệnh đường hô hấp như ho, lao, cúm.
– Truyền bệnh do muỗi như xốt xuất huyết, sốt rét.
Câu 3: Rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi đi đại tiện để làm gì?
– Làm sạch và thơm tay để ăn uống ngon miệng.
– Sạch các vết bẩn không gây bệnh cho tay.
– Sạch hết mầm bệnh để không làm lây bệnh qua đường ăn uống.
Câu 4: Chỗ học, nơi ở của trẻ có cần quét lau hàng ngày không? vì sao?
– Không cần vì không bẩn.
– Cần thiết vì tạo môi trường sạch sẽ giúp trẻ khỏe mạnh.
– Cần thiết để cho đẹp.
Câu 5: Đồ dùng, đồ chơi của trẻ có cần giặt lau sạch sẽ không? vì sao?
– Có cần vì để cho đẹp.
– Có cần vì tránh lây lan mầm bệnh.

– Không cần vì quá nhiều việc cần hơn việc này.
Câu 6 Tại sao phải cho trẻ dùng khăn mặt riêng?
– Vì có sẵn.
– Vì sợ kiểm tra chuyên môn phê bình.
– Vi tránh lây lan bệnh tật cho trẻ.
Câu 7: Trẻ có cần tắm rửa hàng ngày không? vì sao?
– Cần vì cho trẻ sạch đẹp đáng yêu.
– Cần vì giữ vệ sinh tránh bệnh tật cho trẻ.
– Không cần vì không có hại gì.

Cầu 8: Có cần chuẩn bị đủ nước chín cho trẻ uống không? vì sao?
– Có vì đó là công việc bình thường.
– Có vì để trẻ không bị bệnh đường ruột.
– Không cần vì trẻ không đòi hỏi.
Câu 9: Nước lạnh, nước đá có làm chết vi trùng không? vì sao?
– Có làm chết các vi trùng gây bệnh đường ruột nhưng không diệt được các
vi trùng khác.
– Có làm chết nhưng không hoàn toàn.
– Không, nó chỉ làm úc chế sự phát triển các vi trùng.
Hoạt động 2: Tìm hiểu về nội dung cần tư vấn cho cha mẹ về giáo dục giúp
trẻ 3-6 tuổi phát triển
2.1. Hướng dẫn chơi với trẻ
– Vui chơi là nhu cầu tự nhiên và thiết yếu của trẻ. Trẻ học hỏi được nhiều
Điều thông qua vui chơi.
– Đồ chơi cho trẻ là những đồ vật đơn giản, nguyên liệu sẵn có không tốn
kém và một số bộ phận cơ thể người thân. Mỗi ngôi nhà và thiên nhiên xung
quanh nhà là một kho chứa đầy những đồ chơi tuyệt vời bởi vì không phải chỉ có
đồ chơi đắt tiền mới giúp trẻ học hỏi.
– Mỗi ngày, cha mẹ nên dành chút thời gian chơi với con và tạo cho con

chỗ chơi an toàn.
Vui chơi- đối với trẻ rất quan trọng
– Hướng dẫn trẻ chơi ngay từ khi trẻ lọt lòng để giúp trẻ phát triển Tinh
thần và thể chất.
– Khi chơi với trẻ chúng ta dạy trẻ được nhiều điều: dạy trẻ nói, dạy trẻ lễ
phép, dạy trẻ tìm hiểu môi trường sống và biết cách ứng xử trong cuộc sống…
– Cùng chơi với trẻ cha mẹ sẽ hiểu được trẻ thích gì, không thích gì, chúng
đã biết gì, chưa biết gì và Muốn biết gi để từ đò cò những cách ứng xử phù hợp,
tạo tiền đề giúp trẻ sau này học lập tốt hơn ở trường phổ thông và thành đạt
trong cuộc sống.
Đồ chơi cho trẻ
Đồ chơi cho trẻ có thể là co thể của trẻ và những người thân
– Cơ thể của những người thân là thứ quan trọng nhất trẻ cần được chơi để
phát triển các giác quan: nhìn, nghe, cảm nhận bằng lưỡi, bằng da, bằng tay.
– Chơi với một số bộ phận trên cơ thể cũng là Điều thứ vị và giúp trẻ phát
triển nhiều điều: học nói; phát triển vận động và xúc giác; tăng cường tình cảm
và giúp trẻ cảm nhận độ thăng bằng…
Ví dụ: Chơi xích đu với đôi bàn chân, chơi chồng nụ, chồng hoa. Ngồi trên
lưng phi ngụa, chơi ú oà. chơi làm con cua bò, làm củ gùng bằng đôi bàn tay…
Đồ chơi- cho trẻ là những đồ vật bình thường trong sinh hoạt hàngngày
– Ghế xếp lại thành một đoàn tầu hoả, chiếc cầu…

– Bàn xếp thành cái nhà, đường hầm.
– Xô nhỏ để xách nước, ném bóng, bò xung quanh…
– Rổ rá lâm đích ném bóng, dây để quay vòng, đánh vòng…
– Bộ ấm chén, bát đĩa, đũa thìa, nồi, Xoong, chảo bé… chơi đồ hàng.
– Những tờ tranh, tờ lịch dùng để kể chuyện, nhận biết hình, xé dán…
Đồ chơi- cho trẻ là những nguyên vật liệu thiên nhiên
– Các loại hột hạt: nhãn, hồng xiêm, bưởi, quả trứng gà, gấc… sỏi đá dùng

để xếp hình, xếp các chữ số trên sàn nhà, cát hoặc gắn lên giấy, chơi bán hàng,
nấu ăn (cân đồng, giả làm thức ăn…); đếm, phân loại; chơi “0 ăn quan”, đánh
bóng,… cha mẹ cần chú ý đám bảo an toàn cho trẻ: không cho trẻ ngậm, không
cho các loại hột, hạt vào mũi, vào lỗ tai…
– Hoa, lá: có thể sâu thành vòng, chuỗi, đan rèm, làm hộp, tết các con vật,
đồ vật cuộn cái kèn… Quả bầu khô dụng nước. Tàu cau, tàu dùa làm xe kéo, làm
quạt…
– Cát: Xúc cát, đồng cát, rót cát. In hình, lên dấu chân lên cát khô, cát ướt.
Đào lỗ giấu đồ vật hoặc bàn tay vào trong cát…
– Nước: Đồng nước, rót, đổ từ chai nọ sang chai kia. Tắm rửa con vật, đồ
vật. Thả những vật khác nhau xuống nước xem vật nào chìm, vật nào nổi, vật
nào thấm nước, vật nào không…
– Bạn hãy đưa cho trẻ 1 cái giỏ (thùng/ rổ) cho trẻ dung đồ chơi (các vật
liệu chơi) của riêng trẻ. Để trẻ luôn bị hấp dẫn bởi đồ chơi, cha mẹ chỉ nên cho
trẻ chơi với một số đồ chơi còn một số đồ chơi khác cất đi. Sau một thời gian
đời đồ chơi khác, trẻ lại có cảm giác như có đồ chơi mới.
– Ngoài ra, cha mẹ có thể làm một số đồ chơi đơn giản cho trẻ chơi từ các
nguyên vật liệu rẽ tiền như: tạp chí, bảo, tranh ảnh cũ, cọng rơm, cọng rạ lá dừa,
lá đa, lá mít,… Trong những ngày vui, người thân trong gia đình có thể mua một
số đồ chơi cho trẻ, nhưng chú ý chọn đồ chơi đảm bảo một số yêu cầu sau:
+■ An toàn, không nguy hiểm cho trẻ không sắc nhọn, không dễ vỡ, dễ
gãy, không làm xước da, chảy máu trẻ, không dùng bằng nguyên vật liệu độc
hại).
+■ Vệ sinh: Dễ rữạ, dễ bảo quản.
+■ Có ý nghĩa giáo dục: phù hợp lứa tuổi và kích thích trẻ phát triển toàn
diện: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và xã hội. Đồ chơi không gây bạo
lực.
Cha mẹ Hướng dẫn trẻ từ 3 – 6 tuổi chơi
– Trẻ thích chơi đóng vai, trẻ có nhu cầu được chơi với bạn, bố mẹ cần tạo
Điều kiện cho trẻ chơi cùng bạn, trẻ sẽ học hỏi thêm nhiều điều ở bạn và học

cách chia Sẻ, hợp tác. Đôi khi trẻ mời bố mẹ cùng chơi, chúng nhận mình là ai
và đề nghị bố mẹ đóng vai nào đó.
– Cha mẹ cần hướng cho trẻ trai được chơi các trò chơi của trẻ gái để tập
luyện tính kiên trì, nhẩn nại và sự nhẹ nhàng; ngược lại trẻ gái được chơi những

trò chơi của trẻ trai để được bố sung tính mạnh mẽ, quyết đoán, nhanh nhẹn,
dũng cảm.
– Cha mẹ nên tạo cho trẻ chỗ chơi và hương dẫn trẻ chơi các trò chơi dân
gian.
2.2. Trò chuyện với trẻ
– Thông qua trò chuyện giao tiếp hàng ngày, các câu chuyện, bài thơ trẻ học
được nhiều Điều bổ ích. Trẻ nào được nghe kể chuyện nhiều hoặc được đọc cho
nghe nhiều chuyện khác nhau sẽ có khả năng học tập tốt hơn .
– Dù làm công việc gì, thời gian bận rộn thế nào, nhưng nếu thực sự thương
yêu trẻ, chúng ta đều có thể chăm sóc được trẻ một cách chu đáo, trò chuyện với
trẻ những gì chúng ta đang làm, tối đến trước giờ ngủ của trẻ, bạn hãy đọc hoặc
kể cho trẻ nghe một câu chuyện, trẻ sẽ sung sướng và cảm thấy hạnh phúc biết
chừng nào.
– Biết chọn sách, biết cách đọc sách cho trẻ nghe cũng là Điều cha mẹ cần
quan đến.
Tại sao cần trò chuyện với trẻ ?
– Trò chuyện với trẻ hàng ngày sẽ có ảnh hưởng tốt tới việc phát triển ngôn
ngữ của trẻ, giúp trẻ vui vẽ, hạnh phúc, làm tăng tình cảm giữa cha mẹ và con
cái..
– Trẻ bắt đàu việc học từ khi trẻ được người lớn trò chuyện, được ôm ấp,
vuốt ve, nhìn mặt người thân quen, nghe những giọng nói thân thuộc và nhìn
những người khác có các cử chỉ đáp lại…
– Sử dụng khoảng thời gian cho trẻ ăn, vệ sinh cá nhân trẻ… để ôm ấp, hát,
trò chuyện với trẻ, trẻ sẽ trở nên rất gắn bó, quấn quýt với bạn, và bạn có thể

giúp trẻ học và hiểu các đồ vật trong thế giới đầy hấp dẫn xung quanh đối với
trẻ.
– Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và các kĩ năng giao tiếp, bạn hãy trò
chuyện với trẻ, hát và đọc cho trẻ nghe cũng như hãy nghe và đáp lại khi trẻ cố
gắng trò chuyện lại với bạn. Trẻ càng được đối thoại, trò chuyện càng nhiều thì
trẻ càng có khả năng hiểu các lời chỉ dẫn, giải thích, hỏi và tham gia tranh luận ở
trường. Khả năng này hình thành sự tự tin và giúp trẻ học ở trường phổ thông tốt
hơn .
Trò chuyện với- trẻ về công việc hàng ngày như thế nào?
– Trò chuyện về các loại thức ăn, việc giặt quần áo, lau giầy dép hoặc nói
Về một con côn trùng trên sàn nhà, những bông hoa, những mọi liên quan… Giải
thích những Điều gì bạn đang làm, đang chăm sóc con bạn. Sử dụng lời nói kết
hợp hành động – vừa nói vừa chỉ vào vật hoặc làm động tác cho trẻ xem.
– Hãy cho phép trẻ quan sát và được tham gia vào các công việc gia đình,
cố gắng giao cho trẻ làm một số việc vừa sức. Công việc hàng ngày của bạn có
thể trở thành trò chơi của trẻ. Hãy nói với trẻ Về những gi bạn đang làm.
– Hãy hỏi trẻ một số câu hỏi đơn giản. Hỏi để trẻ giải thích những gì chúng
nhìn thấy và làm.

Cách trò chuyện với trẻ từ 3 – 6 tuổi
– Khi trẻ 3 tuổi trẻ đã có thể kể lại và nói cảm tương của mình trước những
Điều chúng nhìn thấy, nghe thấy. Trẻ hay hỏi: Con gi đây? Sao nỏ lại thế? Để
làm gì? Tại sao? Người lớn cần kiên nhẫn trả lời các câu hỏi của trẻ, các câu trả
lời cần chính xác, rõ răng, đơn giản, dễ hiểu đối với trẻ.
– Trong khi nói chuyện với trẻ cũng cần nêu câu hỏi cho trẻ trả lời và nói
cho trẻ biết đặc điểm của vật dùng trong gia đình.
– Người lớn cần chú ý lắng nghe trẻ nói, không nhác lại những câu, những
từ trẻ nói sai. Khi nói với trẻ các bạn cần nói dung, nói thông thả, từ phải rõ
làng, chính xác. Các bạn hãy kiên nhẫn và không nên tỏ ra khó chịu khi trẻ nói

không đúng và hỏi nhiều.
– Tiếp tục sử dụng bài hát, bài thơ, câu đố, câu chuyện để luyện cho trẻ nói
đúng, tăng thêm vốn từ và mở rộng hiểu biết. Hướng dẫn cho trẻ chơi các trò
chơi phân vai: “Chơi với búp bê”, “Cô giáo” “Chú công an”… các trò chơi này sẽ
luyện óc quan sát, trí nhớ và sự chú ý của trẻ. cần tạo Điều kiện cho trẻ chơi với
trẻ cùng tuổi và trẻ lớn hơn.
2.3. Đọc sách cho trẻ nghe
Tại sao cần đọc sách cho trẻ nghe ?
– Đọc cho trẻ nghe giúp trẻ:
+ Hiểu về bản thân, con người, thìên nhiên, cây cối xung quanh.
+ Phát triển ngôn ngữ, óc tưởng tượng và tính sáng tạo.
+■ Phát triển tình cảm, biết yêu thương người tốt, phân biệt điều tốt, điều
xấu và tăng cường tình cảm đối với cha mẹ và những người thân trong gia đình.
+ Có khả năng học tập tốt hơn khi vào lớp 1.
Chọn sách nào cho trẻ?
– Nội dung sách: viết về các đồ vật, con vật thân thuộc với trẻ và các truyện
cổ tích.
– Tranh vẽ: to, rõ ràng, màu sắc hấp dẫn, minh hoạ sinh động, gần gũi với
cuộc sống hàng ngày của trẻ và phù hợp với nội dung của truyện.
– Ngôn ngữ: câu ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, chữ viết to, rõ làng, đơn giản,
không quá nhiều chữ và từ mới.
– Các nhân vật: không nhiều nhân vật quá, hành động của nhân vật đơn
giản, ngộ nghĩnh để có thể làm theo.
Cách đọc sách cho trẻ nghe
– Người lớn nên đọc truớc cho lưu loát trước khi đọc cho trẻ nghe. Đọc rõ
răng, diễn cảm phù hợp với tính cách, trạng thái tình cảm của từng nhân vật.
– Nên cho trẻ ngồi cùng phía với người đọc để nhìn thấy tranh và chữ.
– Giới thiệu sách cho trẻ: trang bìa, tên truyện và tranh ảnh.
– Vừa đọc vừa chỉ vào dòng chữ cho trẻ nghe và nhìn theo dòng chữ. có thể
dùng điệu bộ để minh hoạ, diễn tả các hành động và cảm xúc của những nhân

vật.

– Cho trẻ nhắc lại một số từ, câu, chỉ vào tranh và nói, hỏi; chỉ vào dòng
chữ và đọc, khen ngợi trẻ, cho trẻ tập giở các trang xách khi xem/ đọc hết trang.
– Khi đang dọc có thể dừng lại để hỏi trẻ một số câu hỏi về cuộc sống liên
quan đến nội dung câu chuyện. Người đọc có thể dừng lại hỏi trẻ đoán xem phần
tiếp theo của câu chuyện sẽ như thế nào? Hỏi ý kiến nhận xét của trẻ về câu
truyện.
– Sau khi đọc xong, hỏi trẻ nghĩ về câu chuyện như thế nào? Các nhân vật
đã làm gì, trẻ thích gì? Trẻ thích nhân vật nào? vì sao? Trẻ có thích làm giống
như nhân vật trong truyện không?
– Cùng trẻ đọc hoặc kể lại truyện nếu trẻ thích (Ví dụ: cùng kể lại truyện
trước khi ngủ, hoặc kể lại chuyện cho người khác nghe).
– Đọc đi đọc lại nhiều lần câu chuyện cho trẻ nghe nếu trẻ thích.
2.4.
Giúp trẻ phát triển trí tò mò và sự sáng tạo
– Tò mò, sáng tạo là cơ sở của việc học hỏi. Trẻ tò mò, sáng tạo sẽ mạnh
dạn hơn trong giao tiếp, sẽ trở nên tự tin hơn và sẽ học tập tốt hơn ở trường phổ
thông và ổn định hơn về tình cảm.
– Sự tò mò của trẻ bắt đầu ngay từ khi trẻ ra đời.
– Mỗi trẻ đều có tính tò mò, sáng tạo theo cách riêng của mình để khám phá
thế giới xung quanh và trao đổi với những người khác. Khi chúng ta động viên
được phong cách riêng thì tính tò mò, sáng tạo của mỗi đứa trẻ được phát triển,
trẻ sẽ tự tin hơn, học được nhiều điều hơn.
– Cha mẹ cần giúp trẻ trở nên tò mò, sáng tạo trong môi trường an toàn và
thông qua vui chơi. Trẻ tò mò và sáng tạo có tầm quan trọng trong sự phát triển
toàn diện của trẻ.
– Trẻ được phép tò mò, được khuyến khích để sáng tạo sẽ trở nên tự tin
hơn, biết nhiều điều hơn và mạnh dạn hơn.

Xem thêm: chuyên đề rút gọn biểu thức lớp 8 violet

– Trẻ được khuyến khích để sáng tạo sẽ có nhiều cơ hội để phát triển những
khả năng đặc biệt.
Cách giúp trẻ 3 – 6 tuổi trở nên tò mò, sáng tạo
– Hãy chúng tỏ cho bé biết bé luôn được yêu thương thông qua lời nói và
hành động của cha mẹ. Kể cho bé những câu chuyện để bé thấy được chúng là
niềm vui của cả gia đình và cha mẹ tin rằng bé lớn lên sẽ là một người thông
minh, khỏe mạnh, tự tin và sáng tạo.
– Tôn trọng và quan tâm tới ý nghĩa của trẻ, lắng nghe và trả lời các câu hỏi
của trẻ một cách cởi mở.
– Cho trẻ quan sát hoạt động của các con vật, kể cả con vật bé nhỏ như các
loại côn trùng.
– Chơi các trò chơi tìm kiếm, phán đoán: ví dụ: Mẹ lắc hộp cho trẻ nghe và
hỏi “Trong hộp có gì? cái gì trong hộp mà nó lại kêu như thế?…”
– Khuyến khích trí tưởng tượng của trẻ.

– Tạo điều kiện cho trẻ chơi các trò chơi đóng vai để trẻ có thể tưởng tượng
và diễn tả các hành động phù hợp với từng vai mà trẻ quan sát được trong cuộc
sống.
– Cho trẻ nghĩ và về các con vật ở hành tinh khác.
– Dừng câu chuyện đứng chỗ để trẻ có thể nghĩ ra các cách kết thúc khác
nhau hoặc đặt tên cho câu chuyện.
– Cho trẻ lắng nghe và phát hiện các âm thanh trong tự nhiên và tìm cách
mô phỏng lại…
– Chấp nhận sự khác nhau của mỗi trẻ, điều quan trọng là mỗi ý nghĩ trẻ
đưa ra đều có lí lẽ riêng của nó.
– Sử dụng một số dạng câu hỏi để khuyến khích sự tò mò, tưởng tượng và
sáng tạo của trẻ như: Tại sao? Như thế nào? còn cách nào khác không? Điều gì
sẽ xảy ra nếu…?
2.5.

Giúp trẻ phát triển khả năng tự tin, tự lập
Mỗi gia đình nói riêng, cả xã hội nói chung cần tạo điều kiện, khuyến khích
mỗi đứa trẻ phát triển khỏe mạnh, thông minh, nhạy cảm, chu đáo, khoan dung,
tự tin và sáng tạo.
Thế nào là một đứa trẻ tự tin, tự lập ?
– Trẻ tự tin là trẻ mạnh dạn, tin tưởng vào những việc mình làm và khả
năng của mình, không ngần ngại, không ỷ lại vào người khác. Trẻ luôn sẵn sàng
trình bày suy nghĩ và việc làm của mình cho người khác nghe.
– Trẻ tự tin

Viết một bình luận