luận văn xây dựng nông thôn mới

Đang xem: Luận văn xây dựng nông thôn mới

Share Like …

Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị, dành cho các bạn làm đề tài luận văn tham khảo, đề tài: Xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay.

Xem thêm: báo cáo thu hoạch kiến tập sư phạm tiểu học

4 Comments 2 Likes Statistics Notes

12 hours ago   Delete Reply Block

Xem thêm: Tóm Tắt Ucp 600 – Hướng Dẫn Áp Dụng Ucp600

Đỗ Thái Hòa at Cao Đẳng kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên

Luận văn: Xây dựng nông thôn mới về kinh tế. Đề tài luận văn HAY NHẤT

1. BỘ QUỐC PHÒNGBỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊHỌC VIỆN CHÍNH TRỊ  NGÔ QUANG VỊNHNGÔ QUANG VỊNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾXÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾ Ở HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM HIỆN NAYỞ HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊLUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI – 2014HÀ NỘI – 2014 2. 3 BỘ QUỐC PHÒNGBỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊHỌC VIỆN CHÍNH TRỊ  NGÔ QUANG VỊNHNGÔ QUANG VỊNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾXÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾ Ở HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM HIỆN NAYỞ HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊCHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÃ SỐ: 60 31 01 02MÃ SỐ: 60 31 01 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOAHỌC: PGS.TS NGUYỄN TRỌNG XUÂNNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOAHỌC: PGS.TS NGUYỄN TRỌNG XUÂN HÀ NỘI – 2014HÀ NỘI – 2014 3. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 3 Chương 1 XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾ Ở HUYỆN DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM – CƠ SỞ LÝ LUẬN 11 1.1. Khái niệm, tiêu chí xây dựng nông thôn mới về kinh tế 11 1.2. Vai trò của xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam 21 1.3. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở một số địa phương trong nước và bài học rút ra đối với huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam 24 Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾ Ở HUYỆN DUY TIÊN VỪA QUA 37 2.1. Thành tưu, hạn chế xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên thời gian qua 37 2.2. Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam vừa qua 54 Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾ Ở HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM THỜI GIAN TỚI 57 3.1. Quan điểm cơ bản chỉ đạo xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên trong thời gian tới 57 3.2. Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam thời gian tới 67 KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 4 4. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã khẳng định: Xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: Tiếp tục triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam. Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chương trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh – quốc phòng. Trong đó xây dựng nông thôn mới về kinh tế là một nội dung đặc biệt quan trọng, là cơ sở nền tảng để xây dựng các nội dung khác. Mục tiêu chung của chương trình được Đảng ta xác định là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Duy Tiên là một huyện của tỉnh Hà Nam, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Thực hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, của Tỉnh 5 5. uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam về phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn mới, những năm qua huyện Duy Tiên đang tiến hành xây dựng nông thôn mới nói chung, xây dựng về kinh tế nói riêng và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển; kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tiến bộ; đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả, thu nhập và đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng cao; hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao… Những thành tựu đó đã tạo cơ sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Duy Tiên nói chung, về kinh tế nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Nhận thức về xây dựng nông thôn mới; công tác quy hoạch; năng lực của đội ngũ cán bộ thôn xã còn nhiều hạn chế; nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới nói chung, phát triển kinh tế nói riêng còn hạn hẹp; đời sống của người dân nông thôn còn nhiều khó khăn… Làm thế nào để phát huy được những ưu điểm, khắc phục được những hạn chế, yếu điểm trong xây dựng nông thôn mới nói chung, về kinh tế nói riêng ở Duy Tiên là một câu hỏi lớn cần có sự trả lời thỏa đáng. Xuất phát từ thực tế khách quan trên, học viên chọn đề tài:“Xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế chính trị của mình. 2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Vấn đề xây dựng nông thôn mới ay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này được đăng tải trên sách, báo, tạp chí, tiêu biểu là: Các sách tham khảo, chuyên khảo có liên quan đế đề tài: 6 6. TS. Mai Thanh Cúc (2005) Giáo trình phát triển nông thôn. NXB Nông nghiệp Hà Nội thôn… GS. Phạm Xuân Nam (1997) “Phát triển nông thôn”, Nxb Khoa học xã hội. Đây là một công trình chuyên sâu nghiên cứu về phát triển nông thôn. Trong công trình này tác giả đã phân tích khá sâu sắc một số nội dung về phát triển kinh tế – xã hội nông thôn ở nước ta như dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề sử dụng và quản lý nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vấn đề phân tầng xã hội và xóa đói, giảm nghèo. Trong lúc phân tích những thành tựu, yếu kém và thách thức đặt ra trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta, tác giả đã chỉ ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách và cách thức chỉ đạo của Nhà nước trong quá trình vận động của nông thôn. “Nông dân, nông thôn & nông nghiệp, những vấn đề đang đặt ra” Nhà xuất bản Tri thức. Cuốn sách là tập hợp các bài viết trong khuôn khổ đề Nông dân, nông thôn & nông nghiệp. GS,TS. Nguyễn Đình Phan (2002) “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng nói chung và phân tích tình hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập ra quan điểm, phương hướng và các giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn đồng bằng sông Hồng. Đặc biệt, tác giả đã đưa ra kiến nghị với Đảng và Nhà nước 8 giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở vùng đồng bằng sông Hồng. 7 7. TS. Nguyễn Từ (2008) “Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến phát triển nông nghiệp Việt Nam”. Trong công trình này các tác giả đã tập trung phân tích các liên kết kinh tế quốc tế về thương mại và đầu tư trong nông nghiệp; đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam; đồng thời khuyến nghị những giải pháp chủ yếu để phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt các tác giả đã tập trung phân tích những quy định của WTO về chính sách nông nghiệp của các nước đang phát triển và nêu những hướng bổ sung, sửa đổi chính sách nông nghiệp của Việt Nam để hội nhập thành công. PGS,TS. Lê Đình Thắng (2000) Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ở nước ta trong giai Chu Tiến Quang (2001) Việc làm ở nông thôn, thực trạng và giải pháp (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã phân tích làm rõ vấn đề việc làm ở nông thôn Việt Nam và cho rằng, việc làm cho người lao động và thất nghiệp là một trong những vấn đề toàn cầu. Từ đó đưa ra phương pháp tiếp cận tổng quát về chính sách việc làm, hệ thống khái niệm về lao động, việc làm, đánh giá thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam. Nội dung của công trình đã đề xuất hệ thống các quan điểm, giải pháp giải quyết việc làm và khuyến nghị một số chính sách cụ thể về việc làm, chống thất nghiệp trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay. GS,TS. Nguyễn Đình Phan (2002) “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn 8 8. GS,TS. Phùng Hữu Phú (2009), Đô thị hóa ở Việt Nam – từ góc nhìn nông nghiệp, nông thôn, nông dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả cho rằng từ lâu nay, vấn đề đô thị hóa tuy có bàn đến nhưng chưa được quan tâm đúng tầm, trong khi trên thực tế, làn sóng đô thị đang từng ngày, từng giờ tác động trực tiếp, nhiều mặt đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Đô thị hóa đã làm cho địa bàn nông thôn xuất hiện những khu công nghiệp, khu chế xuất, trung tâm dịch vụ… từ đó tạo nhiều cơ hội cho người nông dân có thêm ngành nghề mới, tạo thêm việc làm, đời sống văn hóa tinh thần được nâng lên rõ rệt. Song quá trình đô thị hóa vẫn còn nhiều mâu thuẫn, thách thức, nhất là vấn đề về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự ùn tắc lao động nông nghiệp, văn hóa, môi trường suy thoái… Từ những vấn đề trên, tác giả đã đề xuất một số giải pháp mang tính khái quát nhằm đảm bảo cho quá trình đô thị hóa ở khu vực nông thôn đi đúng quy luật khách quan của nó. Các luận án, luận văn đề cập đến xây dựng nông thôn mới: Nguyễn Trọng Uyên (2007) “Cở sở khoa học và giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long” thự trong đó chỉ ra những tác động của trên cả phương diện thành tựu tồn tại hạn chế, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long thời gian tới. Nguyễn Tuấn Khanh (2011) “Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn”, Luận văn thạc sĩ kinh tế xây dựng nông thôn mới Các bài viết đăng trên tạp chí đề cập đến xây dựng nông thôn mới: 9 9. Hoàng Thế Anh (2010) Kinh nghiệm thực hiện chính sách tam nông ở Trung quốc, Tạp chí kinh tế nông thôn. Phan Thanh Huyền (2011) Kinh nghiệm phát triển nông thôn của Hàn Quốc, Báo điện tử của Báo kinh tế nông thôn http://www.kinhtenongthon.com.vn; Tóm lại: Các công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, về lý luận, thực tiễn, giải pháp xây dựng nông thôn mới. Đây là những tài liệu quan trọng mà tác giả tham khảo kế thừa, phát triển trong triển khai nghiên cứu luận văn của mình. Tuy nhiên, các công trình trên chưa phân tích sâu nội dung xây dựng nông thôn mới về kinh tế. Các nội dung như: Quan niệm về xây dựng nông thôn mới về kinh tế là gì; vai trò của xây dựng nông thôn mới về kinh tế trong xây dựng nông thôn mới; các giải pháp xây dựng nông thôn mới về kinh tế… chưa được bàn đến. Đặc biệt, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề “Xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay”, dưới góc độ kinh tế chính trị mã số 60 31 01 02 một cách tổng thể. Vì vậy, luận văn không trùng lắp với bất cứ một công trình khoa học nào đã được công bố. 3. *Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay; từ đó đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên thời gian tới, tạo cơ sở nền tảng thực hiện thắng lợi các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới trên các lĩnh vực khác. *Nhiệm vụ nghiên cứu – Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn hiện nay. 10 10. – Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thời gian qua. – Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thời gian tới. * Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xây dựng nông thôn mới về kinh tế. * Phạm vi nghiên cứu – Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn các xã thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. – Về thời gian: nghiên cứu, khảo sát từ năm 2008 đến nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu * Cơ sở lý luận về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng nông thôn mới, và các vấn đề có liên quan đến đề tài. * Phương pháp nghiên cứu Đề tài được hoàn thành dựa trên cở sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –Lênin; đồng thời, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị, phương pháp trừu tượng hóa khoa học và các phương pháp lôgíc và lịch sử, phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia. 6. Ý nghĩa của luận văn Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý đề ra các giải pháp xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam. Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho các địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội tương tự huyện Duy Tiên vận dụng vào xây dựng nông thôn mới của mình. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn gồm có phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài 11 11. liệu tham khảo và phụ lục. Chương 1 XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾ Ở HUYỆN DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM – CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Khái niệm, tiêu chí xây dựng nông thôn mới về kinh tế 1.1.1. Khái niệm về nông thôn, xây dựng nông thôn mới về kinh tế * Khái niệm nông thôn Thực tiễn phát triển của thế giới đã chứng minh, sẽ không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và khu vực nông thôn nghèo nàn và lạc hậu, cư dân nông thôn có đời sống vật chất, văn hóa tinh thần thấp kém. Lịch sử hình thành các cộng đồng tộc người ở tất cả các quốc gia trên thế giới đều bắt đầu từ nông thôn. mới của Đảng, với sự đóng góp công sức của nông dân, những năm quan nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Với nghị quyết đúng đắn của Đảng và sự vào cuộc mạnh mẽ với quyết tâm chính trị cao của cán bộ, ban, ngành ở Trung ương, các cấp chính quyền ở cơ sở, việc xây dựng nông thôn theo đúng lộ trình thực sự trở thành một cuộc vận động cách mạng của đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. vai ta hiện nay, là giai Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nông thôn. Có quan điểm cho rằng nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Cũng có quan điểm cho rằng dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng hoặc dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường để xác định vùng nông thôn. Theo Từ điển Tiếng Việt: Nông thôn – Khu vực dân cư tập trung chủ 12 12. yếu làm nghề nông – Hay, là vùng đất mà ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp <63, Tr.50> Khái niệm về nông thôn trong văn bản chính thức của Bộ Nông nghiệp và PTNT tại Thông tư Số: 54/TT-BNNPTNT ra ngày 21-8- 2009 đã quy định rõ: Vùng, khu vực nông thôn Việt Nam xã hội chủ nghĩa là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã. Hiện nay toàn Đảng, toàn dân đang tích cực vào cuộc cùng thực hiện sự nghiệp xây dựng nông thôn mới. tiến trong khu vực. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện dại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn. thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Xây n vốn có giữa con người và thiên nhiên thì sản xuất nông nghiệp lại có chức năng phục vụ hệ thống sinh thái, luôn làm cho con người gần gũi, gắn chặt với thiên nhiên và dung dưỡng thiên nhiên. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới cần hạn chế bê tông hóa, phố hóa các làng quê truyền thống. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển ngày càng hiện đại” <20, tr.36>. Như vậy, nông thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải là thị trấn, thị tứ… Nông thôn mới là phần lãnh thổ sinh sống chủ yếu làm nghề nông của tập hợp dân cư, tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường văn minh, sạch đẹp, hạ tầng Xây dựng nông thôn mới là xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hoá và môi 13 13. trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ. Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn phù hợp quy hoạch không gian xây dựng làng (ấp, thôn, bản), xã và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của ngành, địa phương; kết hợp giữa hỗ trợ của Nhà nước với phát huy nội lực của cộng đồng dân cư nông thôn. Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức tốt đời sống văn hoá cơ sở. Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hóa gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, thực hiện “Mỗi làng một nghề”. ây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay như sau: Xây dựng nông thôn mới về kinh tế là tổng thể nội dung, biện pháp mà Đảng bộ, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội và toàn thể người dân nông thôn tiến hành nhằm tạo ra sự phát triển mới về kinh tế, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất, tình thần của dân cư, bảo đảm thực hiện thắng lợi chương trình xây dựng nông thôn mới. ỉnh Hà Nam hiện nay phải được xem xét đầy đủ cụ thể trên tất cả các khía cạnh sau: Thứ nhất, chủ thể tiến hành xây dựng nông thôn mới về kinh tế: Cũng như các địa phương khác trong cả nước, xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên – tỉnh Hà Nam là công việc, nhiệm vụ của nhiều lực lượng, nhiều tổ chức và toàn thể người dân ở nông thôn. Mỗi lực lượng có vị trí, vai trò khác nhau trong quá trình này, cụ thể: Đảng bộ các cấp là người lãnh đạo, đề ra chủ trương, mục tiêu và biện pháp thực hiện trên tất cả các lĩnh vực có liên quan đến xây dựng nông thôn mới của huyện, trong đó xây dựng nông thôn mới về kinh tế là vấn đề cơ bản. Tổ chức triển khai sự lãnh đạo và kiểm tra, giám sát sự lãnh đạo của mình đối với tất cả các lực lượng chịu sự lãnh đạo ở các cấp, các ngành và các xã trong huyện. Để thực hiện được trọng trách này, vấn đề cấp thiết hiện 14 14. là cần phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp trong huyện. Đặc biệt là năng lực quán triệt và cụ thể hóa nghị quyết của cấp trên, cụ thể hóa các tiêu chí xây dựng nông thôn mới sát với các điều kiện về tự nhiên, kinh tế – xã hội của địa phương mình; năng lực vận động, tổ chức và tập hợp quần chúng nhân dân nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp trong thực hiện các mục tiêu, chương trình đã đề ra. Khắc phục triệt để tình trạng làm theo phong trào, không tính đến hiệu quả đạt được trên thực tiễn. Chính quyền địa phương là người tổ chức triển khai thực hiện các nội dung, mục tiêu, yêu cầu trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương mình. Vai trò của chính quyền địa phương đối với xây dựng nông thôn mới về kinh tế được thể hiện ở việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế ở địa phương mình có phù hợp và có tính khả thi hay không? Tính chủ động trong việc sử dụng tổng hợp các giải pháp để phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của địa phương mình trong phát triển kinh tế; khả năng điều hành và giải quyết những vấn đề phát sinh từ các hoạt động kinh tế ở địa phương mình thông qua các công cụ và chính sách kinh tế; tính năng động, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm của bộ máy công quyền ở các địa phương trong thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu về phát triển kinh tế đã đề ra. Các tổ chức chính trị – xã hội ở nông thôn gồm: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh; Hội Nông dân…là những tổ chức có chức năng tập hợp và phát huy sức mạnh của mọi người dân ở nông thôn trong việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở địa phương mình. Đồng thời, đây cũng là diễn đàn để mọi người dân thuộc các độ tuổi, giới tính, tầng lớp khác nhau ở nông thôn thực hiện quyền dân chủ của mình, tham gia hiến kế cho Đảng và chính quyền địa phương những nội dung và biện pháp thực hiện một cách có hiệu quả và thiết thực. Vì vậy, quan tâm xây dựng các tổ chức này vững mạnh chính là đã xây dựng được một “cầu nối” vững chắc giữa Đảng, chính quyền với người dân nông thôn, là cơ sở để thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra” trong 15 15. suốt quá trình xây dựng nông thôn mới về kinh tế. Người dân nông thôn là lực lượng trực tiếp và quyết định đến hiệu quả thực hiện của chương trình xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở tất cả các xã trong huyện. Vai trò của người dân ở đây không chỉ được thể hiện thông qua việc trực tiếp tham gia các hoạt động kinh tế ở địa phương mà cao hơn, họ còn là những chủ nhân thực sự của của các mô hình kinh tế mới, các kế hoạch phát triển kinh tế ở địa phương mình. Vì vậy, quy tụ và phát huy sức mạnh của “lực lượng cách mạng” đông đảo này là giải pháp quan trọng hàng đầu bảo đảm thắng lợi của chương trình xây dựng nông thôn mới nói chung, về kinh tế nói riêng của tất cả các xã trong huyện. Chỉ khi nào người dân thấy được lợi ích thực sự từ các mô hình, các chương trình xây dựng nông thôn mới thì khi đó họ mới tự giác tham gia với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Thứ hai, phương thức tiến hành xây dựng nông thôn mới về kinh tế: Xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên – tỉnh Hà Nam được thực hiện thông qua các hoạt động chủ yếu sau: thông qua hoạt động đầu tư của nhà nước (nằm trong chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới); thông qua phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân và các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội ở các địa phương, những người trực tiếp sinh sống ở nông thôn, con em của các gia đình ở nông thôn đang công tác, làm ăn ở xa quê; thông qua đẩy mạnh hoạt động thu hút đầu tư từ các nguồn khác nhau cho phát triển kinh tế: thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp, các nhà tài trợ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài huyện, thu hút đầu tư nước ngoài. nội dung xây dựng nông thôn mới về kinh tế: Nội dung xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên suy cho cùng là vấn đề phát triển lực lượng sản xuất nhằm giải phóng sức sản xuất ở tất cả các địa phương trong huyện. Bảo đảm cho việc khai thác sử dụng tối ưu các nguồn lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của tất cả các ngành, các thành phần kinh tế mà trước hết là trong sản 16 16. xuất nông nghiệp. Từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, tiến bộ và phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở các địa phương thông qua việc thực hiện các mô hình sản xuất, kinh doanh trên các lĩnh vực công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ ở nông thôn. Nội dung cụ thể của xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên gồm: xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế của huyện theo các tiêu chí của nông thôn mới; phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội ở các xã trong huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong nông nghiệp; phát triển đồng bộ, toàn diện và cân đối các ngành, các thành phần kinh tế ở nông thôn, trong đó, coi trọng phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến và công nghiệp phục vụ nông nghiệp; phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trong nông nghiệp; xây dựng các hình thức tổ chức quản lý sản xuất phù hợp và các mô hình sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao; thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại, phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng địa phương trong huyện. Khai thác và phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của khu vực nông 1.1.2. Tiêu chí xây dựng nông thôn mới về kinh tế Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2013 sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới. Theo đó, bộ tiêu chí có 3 cấp độ: Xã nông thôn mới, Huyện nông thôn mới và Tỉnh nông thôn mới. Trong đó Xã nông thôn mới có 19 tiêu chí cụ thể, còn đối với Huyện nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số xã thuộc Huyện đạt nông thôn mới (75% số xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới) và Tỉnh nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số Huyện 17 17. thuộc tỉnh đạt nông thôn mới (80% số huyện đạt tiêu chí nông thôn mới). 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới cấp xã là:. Tiêu chí xây dựng nông thôn mới về kinh tế Quy hoạch xây dựng nông thôn mới là bố trí, sắp xếp địa điểm, diện tích sử dụng các khu chức năng trên địa bàn xã; khu phát triển dân cư; hạ tầng kinh tế – xã hội; các khu sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ… theo chuẩn nông thôn mới. Nội dung quy hoạch đi vào ba vấn đề trọng tâm. (1) Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Xác định nhu cầu sử dụng đất cho bố trí vùng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phục vụ sản xuất hàng hóa nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; bố trí hệ thống thủy lợi kết hợp với giao thông; (2). Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội – môi trường theo chuẩn mới, bao gồm bố trí mạng lưới giao thông, điện, trường học các cấp, trạm xá, trung tâm văn hóa thể thao xã, nhà văn hóa và khu thể thao thôn, bưu điện và hệ thống thông tin liên lạc, chợ, nghĩa trang, bãi xử lý rác, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước thải, công viên cây xanh, hồ nước sinh thái. (3) Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp. Như vậy, quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới là nhằm đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đưa ra định hướng phát triển về kinh tế -xã hội, về không gian nông thôn, về cơ sở hạ tầng, mạng lưới dân cư,. Khai thác tiềm năng thế mạnh vốn có của địa phương, khắc phục những ảnh hưởng bất lợi của thời tiết, đảm bảo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đề ra. Lập đồ án quy hoạch chung là khâu quan trọng trong quy trình thực hiện kế hoạch về xây dựng nông thôn mới, theo Quyết định số 800 ngày 04/6/2010 18 18. của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020. Đồ án quy hoạch chung vừa là cẩm nang vừa là căn cứ khoa học để các địa phương triển khai thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, đồng thời đầu tư đúng mục đích. Vấn đề đặt ra là việc lập Quy hoạch phải trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và phù hợp với điều kiện và tiềm năng của địa phương. Yêu cầu của Quy hoạch là phải xác định được tính chất và mục tiêu cần đạt, khai thác được những tiềm năng còn tiềm ẩn nhằm phát huy hết các nguồn lực sẵn có để tạo ra của cải vật chất cho địa phương. Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở ủy ban nhân dân xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã. Phấn đấu đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa) Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã. Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã. Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn 19 19. Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa). Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch). nghèo: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao. Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp. Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “Mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn. Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững 1.2. Vai trò của xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam . Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội là những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, song giữa chúng lại có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau. Kinh tế suy cho đến cùng là cơ sở của đời sống xã hội; kinh tế quyết định đến chính trị, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh. Xây dựng nông thôn mới là một chương trình phát triển nông thôn rộng lớn bao gồm 19 tiêu chí. Các tiêu chí này đã bao quát trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, các tiêu chí về kinh tế được xếp lên vị trí hàng đầu. 20 20. tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh của khu vực nông thôn, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh, tăng sức thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sức huy động nguồn vốn trong nước vào thị trường nông nghiệp. Những xã, có sơ sở hạ tầng đảm bảo đặc biệt là mạng lưới giao thông sẽ là nhân tố thu hút nguồn lao động, hạ giá thành sản xuất và mở rộng thị trường. Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn tốt sẽ giúp giảm rủi ro, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp và các ngành liên quan trực tiếp đến nông nghiệp – khu vực phụ thuộc nhiều vào tự nhiên; tăng khả năng giao lưu hàng hóa, thị trường nông thôn được mở rộng, kích thích kinh tế hộ gia đình gia tăng sản xuất, đời sống người dân được nâng lên, thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo. Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển sẽ tạo điều kiện tổ chức đời sống xã hội trên địa bàn, tạo môi trường sống tốt hơn, nhờ đó giảm được dòng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị, bớt gánh nặng cho thành thị… Hỗ trợ phát triển sản xuất và xây dựng các hình thức sản xuất có hiệu quả trong nông thôn. Đây là nhóm tiêu chí có tính chất rất quan trọng, là nền tảng để thực hiện các nhóm tiêu chí khác. Trong quá trình xây dựng nông thôn mới phải phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã; phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn. Để thực hiện thành công công cuộc đổi mới giai đoạn 2010 – 2020 tầm nhìn 2030 các xã cần chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, hình thành các khu sản xuất chuyên canh, quy mô lớn gắn với bao tiêu sản phẩm nhằm tăng hiệu quả sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân. Liên kết để cùng phát triển là xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay, vì vậy một số xã sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể thông qua việc củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các hợp tác xã, tổ hợp tác. Đây là điều kiện để nông dân tương trợ, chia sẻ kinh nghiệm cùng nhau phát triển kinh tế. Quá trình phát triển kinh tế ở nông thôn là 21 21. quá trình các xã tập trung chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân làm nền tảng vận động đóng góp xây dựng nông thôn mới. sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đổi mới căn bản chính sách việc làm theo hướng giải phóng triệt để sức sản xuất, giải phóng và phát huy mọi tiềm năng sức lao động, khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, các nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn lao động theo pháp luật. Nhà nước có chính sách tạo việc làm và có chính sách để người lao động tự tạo việc làm; thúc đẩy phát triển thị trường lao động, tạo sự gắn kết cung cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tìm việc làm trên thị trường lao động. Tuy nhiên, hiện nay lao động nông nhàn trong nông nghiệp còn nhiều, thu nhập lao động trong nông nghiệp thấp so với các ngành khác, nhiều nơi nông dân không muốn sản xuất nông nghiệp, trả đất cho hợp tác xã. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tạo đủ việc làm, khắc phục tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng và việc làm chỉ cho thu nhập thấp trong sản xuất nông nghiệp. Để thực hiện các tiêu chí phát triển nông thôn mới về kinh tế nhất thiết phải tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Phải tạo cơ hội cho nông dân tiếp cận được các nguồn lực của sản xuất kinh doanh như đất đai, vốn, tín dụng, khoa học kỹ thuật… gắn với thị trường. Nhà nước có chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn như chính sách thuế, đất đai, tín dụng, hỗ trợ dạy nghề cho nông dân và hỗ trợ phát triển thị trường lao động nông thôn, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn. Quá trình này sẽ tạo ra việc làm, tăng thu nhập cho nông dân. 22 22. Kinh tế phát triển là điều kiện để phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, qua đó nâng cao đời sống vất chất, tinh thần cho nông dân. Kinh tế và quốc phòng, an ninh là những lĩnh vực khác nhau, chịu sự tác động của các quy luật khác nhau, song giữa chúng lại có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin đã khẳng định: Kinh tế suy cho đến cùng quyết định đến quốc phòng, an ninh, quốc phòng, an ninh tác động trở lại kinh tế trên cả góc độ tích cực và tiêu cực. Kinh tế quyết định đến quốc phòng, an ninh: Kinh tế quyết định đến nguồn gốc ra đời của quốc phòng, an ninh. Mâu thuẫn về lợi ích kinh tế là nguồn gốc sâu xa làm nảy sinh mâu thuẫn đối kháng trong xã hội, làm xuất hiện nhà nước và tổ chức quân sự, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Kinh tế còn quyết định đến bản chất của lực lượng vũ trang, lực lượng nòng cốt của quốc phòng, an ninh; quyết định đến tổ chức biên chế, trang bị của lực lượng vũ trang, quyết định đến khả năng huy động các nguồn lực cho quốc phòng, an ninh; quyết định đến cách đánh và thắng lợi của hoạt động quân sự. Ph.Ăngghen đã khẳng định: Không có gì phụ thuộc vào kinh tế tiên quyết hơn là chính quân đội và hạm đội, “Thắng lợi hay thất bại của chiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế” <6, tr.235>. Thực tiễn thời gian qua ở huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam đã chứng minh, nhờ thực hiện tốt việc xây dựng nông thôn mới về kinh tế, nên tiềm lực kinh tế của địa phương tốt hơn; trên cơ sở đó huyện đảm bảo kinh tế cho quốc phòng, an ninh tốt hơn trước. 1.3. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở một số địa phương trong nước và bài học rút ra đối với huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam 23 23. 1.3.1. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở một số địa phương trong nước * Kinh nghiệm của huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội Hoài Đức là một huyện ven đô của Thành phố Hà Nội, gồm 19 xã và 1 thị trấn với diện tích 82,67km2, dân số trên 200.000 người. Là huyện có thế mạnh phát triển công nghiệp – đô thị, dịch vụ nhưng Hoài Đức vẫn còn trên 80% dân số sống dựa vào nông nghiệp và làng nghề dịch vụ. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới vững mạnh về kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ, chính quyền và toàn thể người dân trong huyện. Xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Hoài Đức đã tập trung giải quyết tốt những nội dung chủ yếu sau: Một là, tiến hành quy hoạch phát triển sản xuất phù hợp với đặc điểm, điều kiện của địa phương Trước tình trạng nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai còn lỏng lẻo, hiện tượng "già hóa lao động nông nghiệp" đang cản trở việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để phát triển nông nghiệp hàng hóa. Do đó, huyện Hoài Đức chủ trương xây dựng "Nông thôn mới ven đô" không chỉ bằng phát triển nông nghiệp truyền thống, thuần túy mà phải hướng tới công nghệ cao; tiến hành tổ chức lại sản xuất, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và xây dựng đô thị, chỉnh trang làng xã gắn với nâng cấp hạ tầng kỹ thuật nông thôn và hạ tầng kỹ thuật khu đô thị. Do tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, nên hiện nay ở Hoài Đức có nhiều lao động không còn đất để canh tác, cần chuyển đổi sang các nghề khác. Nếu không có định hướng lâu dài, những lao động này sẽ không có việc làm ổn định. Vì vậy, vấn đề đầu tiên mà Đảng bộ và chính quyền các cấp ở Hoài Đức quan tâm giải quyết trong xây dựng nông thôn mới về kinh tế đó là quy hoạch và xây dựng các cụm, điểm công nghiệp làng nghề, giải quyết việc làm tại 24 24. chỗ cho người lao động. Theo đó, ngay từ khi bắt tay vào xây dựng nông thôn mới, Hoài Đức đã tiến hành quy hoạch 15 cụm, điểm công nghiệp và xây dựng các vùng công nghiệp tập trung từng bước di dời các cơ sở làng nghề gây ô nhiễm ra khỏi khu vực dân cư. Đặc biệt, huyện đã tích cực huy động các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư trong làng nghề cùng chung tay bảo vệ môi trường. Hoài Đức có khoảng 80% dân số sống dựa vào nông nghiệp, trong khi 70% đất đai đã và đang được chuyển đổi mục đích sử dụng. Nếu chỉ sản xuất thuần nông, thoát nghèo đã khó, nói gì đến việc nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nông dân. Vì vậy, huyện đã chỉ đạo hình thành các vùng chuyên canh rau an toàn, hoa cây cảnh, cây ăn quả chất lượng cao, mô hình vườn trại… Đến nay đã hình thành các vùng sản xuất nhãn chín muộn 85 ha, cho thu nhập bình quân từ 500- 700 triệu đồng/ha/năm; vùng trồng quả phật thủ tổng diện tích 75 ha, thu nhập bình quân từ 600- 900 triệu đồng/ha/năm; vùng sản xuất rau an toàn 31 ha, cho thu nhập khoảng 350- 450 triệu đồng/ha/năm; một số mô hình trồng hoa lan bằng phương pháp nuôi cấy mô… Trong tương lai không xa, những vùng sản xuất này sẽ mở rộng diện tích gấp 2- 2,5 lần. Hai là, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, hiệu quả. Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới nói chung và về kinh tế nói riêng, khắc phục những hạn chế tồn tại, huyện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp xây dựng, thương mại dịch vụ; giảm tỷ trọng nông nghiệp. Cụ thể, công nghiệp xây dựng chiếm 55,2%, thương mại dịch vụ chiếm 37,6%, nông nghiệp còn 7,2%. Đồng thời huyện còn khuyến khích nhân dân tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác đối với hơn 2.000ha đất nông nghiệp còn lại (chủ yếu là vùng ven sông Đáy). 25 25. Hiện nay, huyện đã triển khai chương trình về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa giá trị cao, bền vững giai đoạn 2011-2015. Mục tiêu đến năm 2015, toàn huyện có 650ha cây ăn quả, trong đó 400ha cây ăn quả chất lượng cao gồm bưởi Diễn, bưởi đường, cam Canh, nhãn chín muộn; có 100ha rau an toàn, 50ha hoa cây cảnh… Ba là, đẩy mạnh phát triển các khu, cụm công nghiệp và các làng nghề truyền thống. Đến nay toàn huyện có 6 cụm công nghiệp, 51 làng nghề sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Ngoài ra còn có 1.160 doanh nghiệp vừa và nhỏ và trên 10.000 hộ sản xuất kinh doanh, buôn bán, hàng năm thu hút, giải quyết việc làm cho gần 45.000 lao động thời vụ trên địa bàn huyện và khu vực lân cận. Với thế mạnh là mảnh đất có nhiều nghề truyền thống, huyện Hoài Đức đã đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Các ngành nghề truyền thống và có thế mạnh của huyện như công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, dệt may tiếp tục phát triển và chiếm tỷ trọng chính trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp. Đã hình thành một số mô hình sản xuất hiệu quả, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Một trong số đó là mô hình làng nghề điêu khắc mỹ nghệ Sơn Đồng với những sản phẩm đặc sắc như: Tạc tượng, đồ thờ sơn son thếp vàng, hàng năm giải quyết việc làm thường xuyên cho trên 5.000 lao động với mức thu nhập từ 40- 50 triệu đồng/người/năm. Hiện nay, làng có 55 công ty, 395 hộ sản xuất, 252 hộ sản xuất thương mại dịch vụ, giá trị sản xuất ước đạt 550 tỷ đồng/năm. Hay như làng nghề dệt kim, bánh kẹo La Phù hàng năm giải quyết việc làm thường xuyên cho trên 10.000 lao động với mức thu nhập từ 35- 40 triệu đồng/người/năm. Làng có 115 công ty, trên 1.000 hộ sản xuất, 400 hộ kinh doanh dịch vụ; giá trị sản xuất ước đạt 800 tỷ đồng/năm. Làng nghề chế biến thực phẩm Dương Liễu với các sản phẩm bánh kẹo, đồ uống, các loại tinh bột sắn, miến dong… Toàn xã có 80 công ty, doanh nghiệp, 500 hộ sản xuất công 26 26. nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, 450 hộ kinh doanh dịch vụ thu hút trên 9.000 lao động, hàng năm tiêu thụ một lượng lớn các sản phẩm nông nghiệp cho các hộ trong huyện, các huyện, tỉnh lân cận. Bốn là, chú trọng nâng cao thu nhập và mức sống thực tế của người dân trong huyện Xác định xây dựng nông thôn mới không phải chỉ là điện, đường, trường, trạm, là cơ sở hạ tầng, mà cái chính là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Vì vậy, bên cạnh việc đầu tư xây dựng hạ tầng, huyện Hoài Đức đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao đời sống người dân. Do kinh tế phát triển, từ năm 2008 đến nay, tỷ lệ tăng trưởng trung bình hằng năm của Hoài Đức đạt 15,5%. Thu nhập bình quân của người dân trong huyện đã tăng từ 15,0 triệu đồng/người năm 2009 lên 29,5 triệu đồng/người năm 2012 và 33,5 triệu đồng năm 2013. Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm từ 5,68% (2008) xuống còn 2,47% (2013). Huyện đang có kế hoạch phấn đấu đến hết năm 2015 chỉ còn 2,0%, thu nhập bình quân (theo giá hiện hành) tăng lên 34,4 triệu đồng/người/năm và định hướng đến năm 2020 thu nhập đầu người sẽ là 110,6 triệu đồng/năm. Năm là, huy động nguồn lực từ dân, thực hiện “nhà nước và nhân dân cùng làm” Để sớm hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới, Hoài Đức sẽ huy động tối đa mọi nguồn lực đầu tư nâng cấp hệ thống đường giao thông nội đồng, kênh mương tưới tiêu phục vụ sản xuất. Vận động doanh nghiệp, tổ chức, nhân dân tích cực tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới bằng nhiều hình thức. Từ năm 2009 đến nay, tổng các nguồn vốn đã đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện đạt hơn 4.500 tỷ đồng. So với năm 2009, hệ thống đường trục xã, liên xã đã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa thêm 30,6 km, nâng tổng số đường được bê tông hóa là: 65,5/75,95 km, đạt 27 27. 86,2%. Đường trục thôn, xóm, đường ngõ xóm đã được nhân dân đóng góp tiền của, công sức thực hiện bê tông hóa thêm hơn 200 km. Trong quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới, nhân dân các xã đã đóng góp 2.450 ngày công, hiến 12.809m 2 đất, xây dựng 5 công trình và 1,2 tỷ đồng quy đổi thành vật tư, vật liệu xây dựng. Với cách thức tiến hành như trên, bước đầu huyện Hoài Đức đã thực hiện thành công chủ trương xây dựng nông thôn mới về kinh tế theo hướng “nông thôn mới ven đô”. Các vấn đề liên quan đến sản xuất, chuyển đổi ngành nghề được tập trung giải quyết, góp phần nâng cao đời sống người dân; xây dựng hạ tầng nông thôn được thực hiện bài bản, từng bước hiện đại. Vì vậy, từ khi thực hiện xây dựng nông thôn mới đến nay, diện mạo nông thôn và chất lượng cuộc sống của người dân trong huyện Hoài Đức đã có sự đổi thay sâu sắc, những “căn bệnh” của quá trình đô thị hóa dần dần được kiềm chế và khắc phục. * Kinh nghiệm của huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình Yên Khánh là một huyện nông nghiệp của tỉnh Ninh Bình, có diện tích đất tự nhiên 139km2, dân số là 135.800 người; gồm 18 xã và 01 Thị trấn. Từ khi có chủ trương xây dựng nông thôn mới đến nay, Yên Khánh luôn là một trong những huyện dẫn đầu tỉnh Ninh Bình về các kết quả đạt được trong thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới nói chung và trên lĩnh vực kinh tế nói riêng. Tính từ năm 2011 đến hết năm 2013, Yên Khánh đã huy động được 725,4 tỷ đồng cho xây dựng nông thôn mới, trong đó: vốn ngân sách là 464,5 tỉ đồng, vốn nhân dân đóng góp cùng với nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác để làm đường giao thông, công trình nước sạch, nhà văn hóa khoảng 42 tỉ đồng, vốn doanh nghiệp hỗ trợ là 9,9 tỉ đồng, con em quê hương đóng góp khoảng 56 tỉ đồng, vốn huy động khác là 180 tỉ đồng. Sau hai năm thực hiện, chương trình xây dựng nông thôn mới đã thúc đẩy kinh tế của huyện tiếp tục phát triển: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 28 28. hàng năm đạt từ 20 – 25%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỉ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng cao-tỷ trọng 3 nhóm ngành công nghiệp xây dựng 60%, dịch vụ 18%, nông-lâm-thủy sản 22%; Giá trị trên 01ha canh tác đạt 113 triệu đồng, thu ngân sách trên địa bàn 59 tỉ đồng; cơ sở vật chất hạ tầng được cải tạo,đầu tư nâng cấp; bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống nhân dân ngày được cải thiện và nâng cao, an ninh chính trị được giữ vững, quốc phòng được tăng cường, dân chủ cơ sở được duy trì và phát huy. Đến nay, huyện Yên Khánh đã có 03 xã: Khánh Thành, Khánh Phú, Khánh Thiện được công nhận danh hiệu xã đạt chuẩn nông thôn mới đầu tiên của tỉnh; hết năm 2014 phấn đấu có thêm 03 xã: Khánh Cường, Khánh Hải, Khánh Nhạc đủ 19 tiêu chí được công nhận là xã nông thôn mới; các xã còn lại sẽ hoàn thành vào năm 2015. Từ những kết quả bước đầu như trên, huyện Yên Khánh đã rút ra một số kinh nghiệm trong xây dựng nông thôn mới về kinh tế đó là: Thứ nhất, phải coi trọng và làm tốt công tác tuyên truyền, vận động tạo sự chuyển biến về nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ, Đảng viên và nhân dân trong việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Coi trọng và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư, của người dân, tạo sự tin tưởng, phấn khởi, tích cực tham gia hưởng ứng của nhân dân. Thứ hai, các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát có trọng tâm, trọng điểm, chủ động, linh hoạt và động viên khích lệ kịp thời. Thứ ba, trong quá trình triển khai cần thực hiện biện pháp lồng ghép và đồng bộ các chương trình, dự án lồng ghép giữa phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa xã hội và môi trường thực hiện theo qui hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới. 29 29. Thứ tư, trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện các tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới cần nắm chắc tình hình thực tế về kinh tế, văn hóa-xã hội của huyện, tâm lý của nhân dân, chỉ đạo lựa chọn những công việc phù hợp với điều kiện và khả năng của nhân dân của từng xã chỉ đạo làm trước, làm điểm sau đó nhân rộng mô hình ra toàn huyện. Thứ năm, thực hiện nguyên tắc dân chủ công khai trong mọi hoạt động phát triển kinh tế, tạo được sự đồng thuận, hưởng ứng của nhân dân, vận động, kêu gọi con em quê hương công tác, sinh sống ở mọi miền trong nước và ngoài nước tích cực tham gia ủng hộ phát triển sản xuất và xây dựng nông thôn mới.

Viết một bình luận