luận văn nâng cao năng lực cạnh tranh

Đang xem: Luận văn nâng cao năng lực cạnh tranh

Share Like …

Download luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần VIWASEEN 6, cho các bạn làm luận văn tham khảo

Xem thêm: truyen tuthienbao 2

2 Comments 0 Likes Statistics Notes

Xem thêm: báo cáo thực tập ngành xuất nhập khẩu

12 hours ago   Delete Reply Block

Đề tài: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty, HAY

1. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần VIWASEEN 6” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi. Các số liệu được đưa ra trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2013 TÁC GIẢ LUẬN VĂN Cồ Thị Mai 2. LỜI CẢM ƠN Trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự động viên sâu sắc của nhiều cá nhân, cơ quan và nhà trường; em xin chân thành cảm ơn các cá nhân, cơ quan và nhà trường đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn này. Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Cô giáo PGS.TS. Ngô Thị Thanh Vân, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Thủy lợi, Phòng Đào tạo đại học và Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Quản lý cùng các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý, Các anh, chị trong Công ty Cổ phần VIWASEEN 6, Lãnh đạo và các đồng nghiệp trong Công ty Cổ phần Nhà Việt đã động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã chia sẻ cùng em những khó khăn, động viên và giúp đỡ cho em nghiên cứu và hoàn thành đồ án này. Xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2013 TÁC GIẢ LUẬN VĂN Cồ Thị Mai 3. DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1. Tổng số lao động của Công ty trong những năm gần…………………………31 Bảng 2.2. Bảng báo cáo tài chính trong 5 năm 2009-2013……………………………….32 Bảng 2.3. Tổng số vốn đầu tư từ năm 2009-20013…………………………………………..35 Bảng 2.4. Cơ cấu vốn đầu tư…………………………………………………………………………37 Bảng 2.5. Cán bộ quản lý và chuyên môn kỹ thuật ………………………………………….39 Bảng 2.6. Cơ cấu công nhân kỹ thuật phân theo cấp bậc thợ …………………………….40 Bảng 2.7. Bảng số liệu năng lực nguồn nhân lực……………………………………………..40 Bảng 2.8. Thống kê thiết bị thi công………………………………………………………………42 Bảng 2.9. Tình hình thực hiện đầu tư phát triển năm 2009-2013……………………….49 4. DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý………………………………………………………….27 Hình 2.1. Cơ cấu nguồn nhân lực của công ty………………………………………………….41 5. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1. DN: Doanh nghiệp 2. XHCN: Xã hội chủ nghĩa 3. TBCN: Tư bản chủ nghĩa 4. WTO: Tổ chức thương mại thế giới 5. DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ 6. DNNN: Doanh nghiệp nhà nước 7. TP: Thành phố 8. KCN: Khu công nghiệp 9. TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam 10. CN: Công nghiệp 11. HĐQT: Hội đồng quản trị 12. GDP: Tổng sản phẩm quốc nội 13. CPI: Chỉ số giá tiêu dùng 6. MỤC LỤC CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP ………………………………………………………………………………1 1.1. CẠNH TRANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP …………………………………………………………………..1 1.1.1. Khái niệm và phân loại cạnh tranh………………………………………………………….1 1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh …………………………………………………………………………1 1.1.1.2. Phân loại cạnh tranh…………………………………………………………………………..3 1.1.2. Vai trò của cạnh tranh …………………………………………………………………………..6 1.1.3. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp……………………………………………….8 1.1.3.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm………………………………………………….8 1.1.3.2. Cạnh tranh bằng giá cả……………………………………………………………………….9 1.1.3.3. Cạnh tranh bằng sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ……………………………..10 1.1.3.4. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối ………………………………………………….10 1.1.3.5. Cạnh tranh bằng chính sách marketing……………………………………………….11 1.1.4. Khái niệm và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp .12 1.1.4.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ……………………………12 1.1.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp …………13 1.2. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP …………………………………………………………………………………………………….15 1.2.1. Thương hiệu và thị phần của doanh nghiệp……………………………………………15 1.2.1.1. Thương hiệu của doanh nghiệp………………………………………………………….15 1.2.1.2. Thị phần …………………………………………………………………………………………15 1.2.2. Chi phí sản xuất………………………………………………………………………………….16 1.2.3. Tỷ suất lợi nhuận………………………………………………………………………………..16 1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP……………………………………………………………………………………….17 1.3.1. Các nhân tố bên trong …………………………………………………………………………17 1.3.1.1. Năng lực về tài chính ……………………………………………………………………….17 1.3.1.2. Nguồn nhân lực……………………………………………………………………………….18 1.3.1.3. Hoạt động marketing……………………………………………………………………….18 7. 1.3.1.4. Trình độ công nghệ ………………………………………………………………………….18 1.3.2. Các nhân tố bên ngoài…………………………………………………………………………19 1.3.2.1. Các nhân tố môi trường vĩ mô …………………………………………………………..19 2.3.2. Các nhân tố môi trường vi mô ……………………………………………………………..20 1.4. MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO DOANH NGHIỆP ……………….21 KẾT LUẬN CHƯƠNG I ……………………………………………………………………………..23 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIWASEEN 6…………………………………………………………………………..24 2.1. CÔNG TY CỔ PHẦN VIWASEEN 6 VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY ……………………………………..24 2.1.1. Khái quát về công ty Cổ phần VIWASEEN 6………………………………………..24 2.1.1.1. Vài nét về sự hình thành và phát triển của Công ty ………………………………24 2.1.1.2. Đặc điểm về lao động của Công ty …………………………………………………….30 2.1.1.3. Đặc điểm về tài chính của Công ty Cổ phần VIWASEEN 6………………….32 2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần VIWASEEN 6…………………………………………………………………………………………….33 2.1.2.1. Vốn và nguồn vốn ……………………………………………………………………………33 2.1.2.2. Nguồn nhân lực………………………………………………………………………………38 2.1.2.3. Trình độ công nghệ ………………………………………………………………………….41 2.1.3. Các nhân tố bên ngoài…………………………………………………………………………43 2.1.3.1. Tỷ suất kỳ vọng……………………………………………………………………………….43 2.1.3.2. Lãi suất…………………………………………………………………………………………..44 2.1.3.3. Các đối thủ cạnh tranh………………………………………………………………………44 2.2. PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIWASEEN 6…………………………………………………………………………………………….45 2.2.1. Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của công ty………………………………………….45 2.2.1.1. Chất lượng sản phẩm………………………………………………………………………..45 2.2.1.2. Giá cả …………………………………………………………………………………………….47 2.2.1.3. Hệ thống phân phối ………………………………………………………………………….48 8. 2.2.2. Những kết quả đã đạt được trong cạnh tranh của công ty cổ phần VIWASEEN 6…………………………………………………………………………………………….49 2.2.3. Đánh giá tổng quát về năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN 6………………………………………………………………………………………………………………..51 2.2.3.1. Những điểm mạnh trong năng lực cạnh tranh của công ty…………………….51 2.2.3.2. Những hạn chế, nguyên nhân và vấn đề đặt ra …………………………………….52 KẾT LUẬN CHƯƠNG II…………………………………………………………………………….55 CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIWASEEN 6 ………………56 3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ NHU CẦU NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIWASEEN 6…………………………………………………………………………………………….56 3.1.1. Bối cảnh hiện nay và nhu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty…..56 3.1.2. Phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh và định hướng giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty ………………………………………………………………61 3.2. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ĐIỂM MẠNH, YẾU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÔNG TY……………………………………………………………………………….63 3.2.1. Phương pháp phân tích……………………………………………………………………….63 3.2.2. Phương pháp mô hình SWOT………………………………………………………………66 3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÔNG TY CỔ PHẦN VIWASEEN 6 …………………………………………………..70 3.3.1. Nâng cao năng lực tài chính…………………………………………………………………70 3.3.2. Nâng cao chất lượng lao động………………………………………………………………74 3.3.3. Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý và các bộ phận phòng ban…………………76 3.3.4. Nâng cao chất lượng sản phẩm …………………………………………………………….79 3.3.5. Nâng cao uy tín và phát triển thương hiệu……………………………………………..81 3.3.6. Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu…………………………………………82 KẾT LUẬN CHƯƠNG III……………………………………………………………………………86 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …………………………………………………………………….87 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………………….90 9. MỞ ĐẦU I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang tích cực chuẩn bị hành trang cho mình để đón nhận những cơ hội và thách thức do mở cửa mang lại. Với việc thực hiện các cam kết song phương và đa phương, hướng tới gia nhập WTO, một nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như sự phát triển của nền kinh tế, đó là nâng cao năng lực cạnh tranh bởi cạnh tranh là đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường và trong điều kiện hội nhập thì cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Doanh nghiệp nào có sự chuẩn bị tốt về năng lực cạnh tranh sẽ nắm được quyền chủ động trên thị trường. Công ty Cổ phần VIWASEEN 6 là một công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp trong đó bao gồm sản xuất kinh doanh nước sinh hoạt, nước khoáng, vật liệu xây dựng, xây dựng cơ sở hạ tầng.., hội nhập WTO đặt ra những yêu cầu rất lớn về xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, điều này mở ra cho công ty những cơ hội lớn, những thị trường lớn, song cũng chính vì điều này mà xuất hiện ngày càng nhiều các công ty muốn gia nhập thị trường này và còn những công ty nước ngoài với sự bình đẳng trong các chính sách của nhà nước và với năng lực tài chính mạnh mẽ cũng tham gia, làm cho miếng bánh thị phần bị chia nhỏ, sự canh tranh cũng vì thế mà trở nên khốc liệt hơn. Chính vì lý do đó công ty muốn tồn tại và phát triển thì phải luôn khẳng định được vị thế của mình trên thị trường và luôn chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh đó.Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển đã trở thành mối quan tâm hàng đầu, là vấn đề rất cấp thiết của công ty. Trên tinh thần đó tác giả chọn vấn đề “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN 6” làm đề tài nghiên cứu của mình. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN – Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN 6. – Phạm vi nghiên cứu: Lĩnh vực hoạt động của Công ty khá rộng gồm sản 10. xuất kinh doanh nước sinh hoạt, nước khoáng, vật liệu xây dựng, thiết bị và phụ tùng chuyên ngành cấp thoát nước, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng… Trong phạm vi đề tài này, luận văn đi sâu nghiên cứu lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Công ty sản xuất kinh doanh nước sạch, nước khoáng, vật liệu xây dựng, thiết bị và phụ tùng chuyên ngành cấp thoát nước, thi công các công trình cơ sở hạ tầng. Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN 6. III. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI – Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của công ty. – Phân tích môi trường kinh doanh, các chính sách kinh tế của nhà nước để tìm ra những cơ hội và thách thức đối với công ty. – Đề ra định hướng và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty. IV. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Các phương pháp nghiên cứu: – Phương pháp phân tích – Phương pháp mô hình – Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp số liệu. – Phương pháp khảo sát: làm rõ những vướng mắc, tồn tại trong công ty V. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và của công ty Cổ phần VIWASEEN 6 nói riêng là vấn đề được quốc gia đặt lên hàng đầu khi nền kinh tế ngày càng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tiến trình hội nhập, tăng khả năng cạnh tranh là con đường dẫn tới thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào. Chính vì vậy đề tài “ Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN 6” được thực hiện là có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. VI. KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC Về lý luận: Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh trong kinh tế thị trường và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó chỉ ra cách 11. thức vận dụng các lý luận về cạnh tranh để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Về thực tiễn: – Khái quát một số bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp từ đó chỉ ra những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp. – Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn cho thấy một bức tranh toàn cảnh về năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN 6, điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của thực trạng đó. Từ đó thấy được cơ hội và thách thức của công ty – Phân tích mô hình từ đó đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty. VII. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài dự kiến thực hiện các nội dung nghiên cứu sau đây: Chương I: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương II : Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần VIWASEEN 6 Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần VIWASEEN 6 12. 1 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. CẠNH TRANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1.1. Khái niệm và phân loại cạnh tranh 1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh Trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng mối quan hệ biện chứng, chúng tác động qua lại lẫn nhau, làm nền tảng cho sự phát triển của nhau, đồng thời cũng phủ định, đấu tranh loại trừ lẫn nhau để đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân. Quá trình đó đòi hỏi mỗi sự vật hiện tượng đều phải tự bảo vệ và hoàn thiện chính mình. Vì thế khái niệm cạnh tranh tồn tại trong quá trình đó. Cùng với sự phát triển của lịch sử kinh tế, nó đã được khám phá, duy trì và phát triển thành lý luận. Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, hầu hết tất cả các Quốc gia đều thừa nhận trong mọi hoạt động đều phải có cạnh tranh, cạnh tranh không những là môi trường, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội khi Nhà nước đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế. Nhu cầu của con người luôn luôn thay đổi và ngày càng nâng cao hơn cả về số lượng và chất lượng, trong khi các yếu tố để thõa mãn nhu cấu đó trong thế gới khách quan không phải là vô hạn, là vĩnh cữu mà là hữu hạn, thậm chí đang dần bị thu hẹp. Để có thể tồn tại và phát triển, phải cạnh tranh và chỉ cạnh tranh. Vậy cạnh tranh là gì? Khái niệm cạnh tranh không phải là một khái niệm mới mẻ mà từ rất lâu đã được học giả của nhiều trường phái kinh tế khác nhau quan tâm. Người đầu tiên đưa ra lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về cạnh tranh là Adam Smith, một nhà kinh tế học thuộc trường phái kinh tế học tư sản cổ điển. Adam Smith chủ trương “tự do cạnh 13. 2 tranh” dựa trên ý tưởng về vai trò của “bàn tay vô hình” qua sự điều chỉnh biến động của giá cả thị trường và được thể hiện rõ nét qua mô hình cạnh tranh hoàn hảo. Vào những thập niên 20, 30 của thế kỷ XX, khi các nhà kinh tế nhận ra rằng, không thể tồn tại các nhân tố của cạnh tranh hoàn hảo trên thực tế và lý thuyết “cạnh tranh không hoàn hảo”, “cạnh tranh có tính độc quyền” ra đời. Tới đầu những năm 1940, lý thuyết “cạnh tranh hiệu quả” đã được xây dựng trên luận điểm nổi tiếng của nhà kinh tế học Mỹ, John Maurise Clack. Cơ sở của luận điểm này là: người ta có thể sửa chữa khuyết tật của những nhân tố không hoàn hảo khác. Lý thuyết cạnh tranh này của J.M.Clack, được xây dựng trên một số luận điểm của Schumpeter – nhà kinh tế học người Áo: Cạnh tranh bằng sản phẩm mới, bằng kỹ thuật mới, bằng nguồn cung ứng mới và bằng hình thức tổ chức mới. Còn C.Mác, mặc dù không có lý thuyết cạnh tranh riêng, nhưng lý luận cạnh tranh của ông giữ vai trò độc lập quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lý luận cạnh tranh. Ông cho rằng: Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện tốt nhất trong sản xuất và tiêu thụ nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch. Ngày nay, một số nhà khoa học Việt Nam đã đề cập đến cạnh tranh và cho rằng: “Thực chất của vấn đề cạnh tranh là vấn đề giành giật lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ và đó là con đường, là phương thức để giành lấy lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế”. Khái niệm này đã chỉ rõ giá cả là công cụ quan trọng, không thể thiếu của cạnh tranh – dù là cạnh tranh ở dạng thức nào. Nó cũng chỉ ra mục đích cuối cùng của bất kỳ hành vi cạnh tranh nào cũng là việc tối đa hóa lợi nhuận. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, giữa các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Trên góc độ đối tượng kinh tế chính trị: “Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là nhằm chiếm lĩnh thị trường, 14. 3 giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, tiêu thụ hàng hóa có lợi nhất”. Từ các quan niệm về cạnh tranh nêu trên, có thể thấy rằng: Để xác định khái niệm cạnh tranh trước hết phải xác định góc độ của người nghiên cứu cạnh tranh, tránh đưa ra các khái niệm quá chung chung, ít ý nghĩa thực tiễn. Sau nữa, khái niệm ít nhất phải chỉ ra được chủ thể cạnh tranh, tính chất, phương thức và mức độ của quá trình cạnh tranh. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh, nhưng về cơ bản đều thống nhất cho rằng: “Cạnh tranh là một quá trình chạy đua kinh tế liên tục không có điểm đến của các chủ thể kinh tế, trong quá trình đó, các chủ thể kinh tế sử dụng mọi biện pháp, cả nghệ thuật và thủ đoạn, để giành ưu thế trên cùng một loại tài nguyên, sản phẩm hoặc cùng một loại khách hàng nhằm thu lợi nhuận tối đa”. Sự ra đời và phát triển của cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường mà tất cả các chủ thể tham gia vào nền kinh tế đều phải tuân theo quy luật đó. 1.1.1.2. Phân loại cạnh tranh a. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường  Cạnh tranh giữa người bán với người mua Là cuộc cạnh tranh theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình. Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hóa lợi nhuận còn người mua muốn mua với giá thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng. Và mức giá cuối cùng vẫn là sự thỏa thuận giữa hai bên sao cho hài hòa lợi ích cho cả hai bên như câu nói “ thuận mua vừa bán”.  Cạnh tranh giữa người mua và người mua Như câu nói: “ Trăm người bán vạn người mua”. Trên thị trường lúc này cung về hàng hóa, dịch vụ nhỏ hơn lượng cầu về hàng hoá, dịch vụ của thị trường. Khi đó hàng hóa khan hiếm, người tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn giá trị thực của hàng hóa đó. Tất yếu của quá trình này là giá cả hàng hóa sẽ tăng lên người mua bị thiệt thòi về giá cả và chất 15. 4 lượng còn người bán thì thu được lợi nhuận lớn hơn. Đây là hình thức cạnh tranh chủ yếu tồn tại trong nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hóa nào đó.  Cạnh tranh giữa người bán với người bán Đây là hình thức cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu rất nhiều. Địa vị của người tiêu dùng đã thay đổi. Họ trở thành “ Thượng đế” và là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Bởi chỉ khi doanh nghiệp có khách hàng thì mới bán được sản phẩm  thu được lợi nhuận  tái sản xuất mở rộng. Đặc biệt đời sống ngày một nâng cao thì nhu cầu về hàng hóa cũng nâng lên. Sản phẩm muốn bán được phải đảm bảo vấn đề chất lượng và an toàn cho sức khỏe. Do vậy, người bán luôn phải ganh đua để giành lợi thế về phía mình. b. Căn cứ vào tính chất và mức độ cạnh tranh  Thị trường cạnh tranh hoàn hảo Cạnh tranh hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hóa là không đổi trong toàn bộ các địa danh của thị trường, bởi vì có nhiều người mua và người bán, họ có thông tin đầy đủ về các điều kiện của thị trường. Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các yếu tố sản xuất được tự do luân chuyển từ ngành này sang ngành khác, chi phí vận tải không đề cập tới nên coi như bằng không. Cạnh tranh hoàn hảo muốn tồn tại phải thỏa mãn 4 đặc điểm sau: – Có rất nhiều chủ thể tham gia trên thị trường. Không ai có đủ sức mạnh để chi phối thị trường. – Thông tin trên thị trường là minh bạch và kịp thời – Mức giá do thị trường xác định dựa trên quy luật cung – cầu – Rào cản gia nhập cũng như rút khỏi thị trường là rất nhỏ Đây là thị trường ít gặp trong thực tế mà chỉ tồn tại trên lý thuyết kinh tế.  Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Là thị trường mà phần lớn sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi một loại sản phẩm mang một nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì 16. 5 sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều. Hình thức thị trường này phổ biến trên thực tế ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mãi, các dịch vụ trong và sau bán hàng.  Thị trường cạnh tranh độc quyền Là thị trường mà ở đó một hoặc một số chủ thể có ảnh hưởng lớn, có thể ép các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm của mình với mức giá mà họ đưa ra sao cho thu được lợi nhuận nhiều nhất. Có hai loại cạnh tranh độc quyền là độc quyền mua và độc quyền bán. Người mua nào có tiềm lực về kinh tế thì đưa ra mức giá mà đối thủ cạnh tranh không thể chấp nhận được. Còn độc quyền bán là trên thị trường có nhiều người mua và ít người bán. Lúc này người bán có thể tăng giá theo ý muốn của mình buộc người mua chấp nhận. Trên thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm thay thế, tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc những người độc quyền liên kết gây tổn hại cho người tiêu dùng. Vì vậy, Nhà nước phải ban hành đạo luật chống độc quyền đem lại một môi trường lành mạnh cho nền kinh tế. c. Căn cứ vào phạm vi kinh tế.  Cạnh tranh trong nội bộ ngành Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm. Trong cuộc cạnh tranh này thì có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có thể bị phá sản.  Cạnh tranh giữa các ngành Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác nhau nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành khác. Như vậy, giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác như môi trường kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu khác nhau 17. 6 nên cùng một lượng vốn đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác. Điều đó dẫn tới tình trạng nhiều người sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển dịch sang sản xuất kinh doanh ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành. Kết quả là những ngành trước kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng. Do đó cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hóa có xu hướng giảm xuống, làm tỷ suất lợi nhuận giảm. Ngược lại những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một số nhà đầu tư rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành này giảm, dẫn tới cung nhỏ hơn cầu, làm cho giá cả hàng hóa tăng và tỷ suất lợi nhuận tăng. 1.1.2. Vai trò của cạnh tranh a) Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội. Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp phát triển có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng đi lên thì mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững. Còn cạnh tranh độc quyền sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế không ổn định. Vì vậy, Chính phủ cần ban hành lệnh chống độc quyền trong cạnh tranh, trong kinh doanh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Cạnh tranh hoàn hảo sẽ đào thải các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả. Do đó buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại sự tăng trưởng kinh tế. b) Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng: Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì người được lợi nhất là khách hàng. Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng không 18. 7 phải chịu một sức ép nào mà còn được hưởng những thành quả do cạnh tranh mang lại như: chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn… Đồng thời khách hàng cũng tác động trở lại đối với cạnh tranh bằng những yêu cầu về chất lượng hàng hoá, về giá cả, về chất lượng phục vụ… Khi đòi hỏi của người tiêu dùng càng cao làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hơn để giành được nhiều khách hàng hơn. c) Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh là điều bất khả kháng đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh có thể được coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể tránh khỏi mà phải tìm mọi cách vươn nên để chiếm ưu thế và chiến thắng. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại , tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao. Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng “ bản lĩnh” của mình trong quá trình kinh doanh. Nó sẽ làm cho doanh nghiệp càng vững mạnh và phát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường. Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là qui luật khách quan của kinh tế thị trường, mà kinh tế thị trường là kinh tế TBCN. Kinh tế thị trường là sự phát triển tất yếu và Việt Nam đang xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, lấy thành phần kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Dù ở bất kỳ thành phần kinh tế nào thì các doanh nghiệp cũng phải vận hành theo qui luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Nếu doanh nghiệp nằm ngoài quy luật 19. 8 vận động đó thì tất yếu sẽ bị loại bỏ, không thể tồn tại. Chính vì vậy chấp nhận cạnh tranh và tìm cách để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình chính là doanh nghiệp đang tìm con đường sống cho mình. 1.1.3. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1.3.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm. Nếu như trước kia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. khi có cùng một loại sản phẩm, Chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thõa mãn nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn. Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của người lao động ngày càng nang cao, họ có đủ điều kiện để thõa mãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại. Nếu nói rằng giá cả là yếu tố khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức thu nhập của mình. Điều mong muốn của khách hàng và bất cứ ai có nhu cầu mua hay là đảm bảo được hài hòa giữa chất lượng và giá cả. Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết. Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn. Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp, làm tăng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm được coi là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Một khi chất lượng hàng hóa dịch vụ 20. 9 không đảm bảo thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới suy yếu trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết định khách hàng, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hóa bán ra, uy tín của doanh nghiệp, mỡ rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải sử dụng nó. 1.1.3.2. Cạnh tranh bằng giá cả Giá cả được hiểu là số tiền mà người cho người bán về việc cung cấp hàng hóa dịch vụ nào đó. Thực chất giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hóa để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung –cầu. Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hóa dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất. Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục vụ mục đích kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khóe léo, tinh tế chiến thuật giá cả. Giá cả đã thể hiện như một vũ khí cạnh tranh thông qua việc định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường. Với một mức giá ngang bằng với giá thị trường giúp doanh nghiệp đánh giá được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra biện pháp giảm giá mà chất lượng sản phẩm vẫn đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và lợi nhuận thu được nhiều hơn. Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường, chính sách này được áp dụng khi sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hóa lớn, thu hồi vốn và lời nhanh. Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách định giá thấp. Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể để sau này chiếm thị trường rộng lớn hơn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng. Định giá thấp giúp doanh 21. 10 nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định để định vị vị trí của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở rộng thị trường. Với chính sách định giá cao là ấn định giá bán sản phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà lần đầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội để so sánh, xác định mức giá của sản phẩm này là đắt hay là rẻ. Chính sách này được áp dụng khi nhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá. Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng xem mình đang ở trong tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là nghiên cứu tiêu dùng và tâm lý khách hàng cũng như cần phải xem xét các chiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng. 1.1.3.3. Cạnh tranh bằng sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ Trong giai đoạn phát triển của marketing hiện đại, nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn phương thức cạnh tranh dựa trên sự khác biệt nhằm tạo ấn tượng đối với khách hàng. Các doanh nghiệp theo đuổi phương thức này tiến hành mở rộng chủng loại sản phẩm, thêm vào những đặc tính mới, thay đổi màu sắc, kiểu dáng…nhằm tạo ra sự khác biệt hóa sản phẩm của họ so với đối thủ cạnh tranh. Trong điều kiện doanh nghiệp chưa tạo được tính độc đáo của sản phẩm thì có thể sử dụng các phương thức khác như: thay đổi phương thức phục vụ, thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng… Các phương thức trên sẽ thực sự trở thành công cụ cạnh tranh khi đảm bảo nhanh, chính xác, linh động và đa dạng nhằm tạo ra sự tiện lợi cho khách hàng trong quá trình lựa chọn và sử dụng. Bên cạnh đó, một công cụ khác cũng dựa trên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp đó là việc xây dựng hình ảnh, nhãn hiệu. Nhãn hiệu được coi là một loại tài sản vô cùng quan trọng của doanh nghiệp, nó thể hiện vị thế và sức mạnh của doanh nghiệp. 1.1.3.4. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh đắc lực bởi nó hạn chế được tình trạng ứ đọng hàng hóa hoặc thiếu hàng hóa để hoạt động 22. 11 tiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt và đầy đủ. Doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối, nghiên cứu các đặc trưng của thị trường, của khách hàng. Từ đó đưa ra các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chính sách phân phối sản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thông thường kênh phân phối của doanh nghiệp được chia thành năm loại:  Kênh ngắn: người sản xuất  người bán lẻ  người tiêu dùng.  Kênh cực ngắn: người sản xuất  người tiêu dùng.  Kênh dài: người sản xuất  người buôn bán  người bán lẻ  người tiêu dùng.  Kênh cực dài: người sản xuất  đại lý  người bán buôn  người bán lẻ  người tiêu dùng.  Kênh rút gọn: người sản xuất  đại lý  người bán buôn  người bán lẻ  người tiêu dùng. Tùy theo từng mặt hàng kinh doanh, tùy theo vị trí địa lý, tùy theo nhu cầu người mua và người bán mà doanh nghiệp sử dụng các kênh phân phối cho hợp lý và mang lại hiệu quả bởi nhiều khi kênh phân phối có tác dụng như người môi giới nhưng đôi khi nó lại mang lại tính trở ngại rườm rà. 1.1.3.5. Cạnh tranh bằng chính sách marketing Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì chính sách marketing đóng một vai trò quan trọng bởi khi doanh nghiệp bắt đầu sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng đang có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm gi? Thu thập thông tin thông qua sự phân tích và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sản xuất cái gi? Kinh doanh những gì mà khách hàng cần, khách hàng có nhu cầu. Trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp thường sử dụng các chính sách bán hàng thông qua các hình thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng. Kết thúc quá trình bán hàng, để tạo uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động dịch vụ trước khi bán, trong và sau khi bán. 23. 12 Như vây chính sách marketing đã xuyên suốt trong quá trình hoạt động cua doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và tác dụng phụ để hỗ trợ cho chính sách khác. Do vậy chính sách marketing không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động nào của doanh nghiệp. 1.1.4. Khái niệm và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1.4.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng để giành thắng lợi trước các đối thủ cạnh tranh trên các mặt: chất lượng, giá cả và dịch vụ giao hàng, sử dụng hàng hóa. Người chiến thắng trong cạnh tranh gọi là người có năng lực cạnh tranh cao hơn”. Trong khi đó, lại có quan niệm cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tất cả tiềm năng, nguồn lực mà doanh nghiệp có thể sử dụng để duy trì và phát triển lâu dài vị trí của mình trên thị trường có cạnh tranh”. Còn M.Porter lại đưa ra khái niệm cạnh tranh mở rộng, năng lực cạnh tranh của các hãng được quyết định bởi sức mạnh của các lực lượng cạnh tranh trong ngành. Các lực lượng cạnh tranh trong ngành bao gồm: các đối thủ cạnh tranh tiềm năng; sản phẩm thay thế, người cung ứng, khách hàng và đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành. Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trong một ngành công nghiệp được coi là cạnh tranh trực tiếp và là vấn đề cốt lõi của phân tích cạnh tranh. Nếu xem xét cạnh tranh ở phạm vi xí nghiệp như trước đây, thì một xí nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi xí nghiệp đó duy trì được vị thế của mình trên thị trường cùng với các nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế, hoặc đưa ra thị trường các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn. Còn theo từ điển thuật ngữ kinh tế học: “ Năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”. Phần chung nhất cho hầu hết các khái niệm cạnh tranh xét từ phạm vi của ngành, công ty năng lực cạnh tranh dựa trên cơ sở chi phí thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao hoặc là tổ hợp các yếu tố này. Như vậy, để có khả năng chiến thắng trong 24. 13 cạnh tranh, doanh nghiệp phải có một hay một số lợi thế nào đó trong cạnh tranh, cơ bản nhất là lợi thế về giá, chất lượng hay được biểu hiện dưới hai dạng cơ bản: Thứ nhất, nếu hai sản phẩm cùng chủng loại và có chất lượng ngang nhau thì sản phẩm nào có chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thấp sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn. Đây là lợi thế cạnh tranh bên trong, nó mang lại giá trị cho người sản xuất. Ưu thế này có được là do hạ thấp chi phí, do đó. Nhà sản xuất này có hiệu quả cao hơn và có khả năng vững chắc để chống lại sự giảm giá trên thị trường do biến động của các yếu tố thị trường hoặc do cạnh tranh. Thứ hai, một sản phẩm có tính đặc thù, độc đáo riêng biệt (về mẫu mã, tính năng độc đáo hay giá trị sử dụng…) mà không sản phẩm cùng loại nào có được, cho dù giá cả có cao hơn các sản phẩm khác thì nó vẫn có một lợi thế cạnh tranh đáng kể so với các sản phẩm cùng chủng loại. Đây là lợi thế cạnh tranh bên ngoài nó tạo ra giá trị cho người mua thể hiện qua việc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hay tính tuyệt hảo khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này tạo ra cho nhà sản xuất quyền lực thị trường ngày càng tăng. 1.1.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một yêu cầu bắt buộc trong thị trường. Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng người cung cấp càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả cạnh tranh sẽ làm một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi một số doanh nghiệp vẫn tồn tại và phát triển mạnh hơn. Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị trường vận động theo xu hướng ngày càng cao, từ đó nâng cao năng suất lao động xã hội – yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường phát triển. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh diễn ra ở mọi lúc mọi nơi không phụ thuộc vào ý muốn của riêng ai, cạnh tranh trở thành một quy luật quan trọng thúc đẩy sự phát triển. Ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó có cạnh tranh. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh. Trong giai đoạn hiện nay 25. 14 do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, đời sống của người dân được cải tiến đáng kể, cùng với đó là nhu cầu cũng được thay đổi lên một tầm cao mới. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng để từ đó tìm các biện pháp thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu đó thì mới có thể cạnh tranh tốt được. Chính vì vậy, cạnh tranh là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp:  Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay.  Cạnh tranh để phát triển. Quy luật cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa càng phát triển, số lượng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt. Kết quả là loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ và ngược lại nó thúc đẩy những doanh nghiệp làm ăn có năng suất cao và hiệu quả. Như vậy cạnh tranh sẽ tạo ra trong nền kinh tế những doanh nghiệp có đủ sức đối chọi với những biến động nhanh và khó lường của nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Đặc biệt là khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới thì vấn đề cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước càng trở nên khó khăn. Tham gia thị trường không còn là các doanh nghiệp trong nước nữa mà là các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm năng về vốn, kinh nghiệm, giải được bài toán khó này thì doanh nghiệp mới phát triển bền vững được. Qua những phân tích trên ta thấy rằng: cạnh tranh kích thích khoa học-kỹ thuật tạo ra sự đổi mới, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Người sản xuất nào có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch, do đó cạnh tranh áp dụng đối với người sản xuất buộc họ phải cải tiến kỹ thuật-công nghệ nhờ đó mà 26. 15 kỹ thuật công nghệ của toàn xã hội được phát triển. Sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập hiện nay. Các doanh nghiệp chỉ có thể phát triển được khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng lên. Năng lực cạnh tranh giúp cho các doanh nghiệp thực hiện tốt chức năng, vai trò của mình đồng thời giúp cho doanh nghiệp vượt qua những thử thách và tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp mình. 1.2. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.2.1. Thương hiệu và thị phần của doanh nghiệp 1.2.1.1. Thương hiệu của doanh nghiệp Thương hiệu của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Xây dựng được một thương hiệu có tên tuổi trên thị trường là một điều khó đỏi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược lâu dài và đúng đắn. Để giữ được thương hiệu lại càng khó hơn. Thương hiệu là bản chứng nhận uy tín của doanh nghiệp trên thị trường đối với khách hàng. Thương hiệu là một tài sản vô hình của doanh nghiệp, khó thấy rõ lợi ích mà nó mang lại ngay trước mắt nhưng ảnh hưởng của nó là vô cùng to lớn với các hoạt động của doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp tạo được uy tín với bạn hàng, khách hàng thì đó là một tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp trong tương lai. 1.2.1.2. Thị phần Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là một chỉ tiêu thường hay được sử dụng. Thị phần được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường. Do đó thị phần của doanh nghiệp được xác định: Thị phần của doanh nghiệp = Doanh thu của doanh nghiệp Tổng doanh thu toàn ngành 27. 16 Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng. Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức độ hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường. Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh. Bằng chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành. Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ ta còn dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỉ lệ so sánh về doanh thu của Công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất từ đó có thể biết được những mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ. Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể và xác thực của đối thủ. 1.2.2. Chi phí sản xuất Chi phí là số tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi tiến hành hoạt động kinh doanh, bởi vậy mà nó được coi là một chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Xét một cách tổng thể chi phí thấp sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm giá bán  tăng số lượng bán ra  tăng lợi nhuận  tăng khả năng cạnh tranh. Ngược lại chi phí cao sẽ dẫn đến giá thành cao, năng lực cạnh tranh

Viết một bình luận