Giáo Trình Triết Học Sau Đại Học Không Chuyên, Giáo Trình Triết Học Sau Đại Học

I. KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC Khái niệm triết học và đối tƣợng nghiên cứu của triết học a) Khái niệm triết học. Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thức VI trước công nguyên với các thành tựu rực rỡ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Triết học, theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến đạo lý của sự vật. Theo người Ấn Độ, triết học là darshana. Điều…

Đang xem: Giáo trình triết học sau đại học không chuyên

*

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ___________ GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC(Dùng cho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học) Hà Nội – 2005 1 Chƣơng 1 KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC I. KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC 1. Khái niệm triết học và đối tƣợng nghiên cứu của triết học a) Khái niệm triết học. Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thức VI trướccông nguyên với các thành tựu rực rỡ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độvà Hy Lạp cổ đại. Triết học, theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng,là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến đạo lý của sự vật. Theo người Ấn Độ, triết học là darshana. Điều đó có nghĩa là sựchiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con ngườiđến với lẽ phải. Theo chữ Hy Lạp, triết học là philosophia, có nghĩa là yêu thích sựthông thái. Nhà triết học được coi là nhà thông thái, có khả năng nhận thứcđược chân lý, làm sáng tỏ được bản chất của sự vật. Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, khi triết học mới rađời, đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thếgiới, đi sâu nắm bắt được chân lý, được quy luật, được bản chất của sự vật. Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau vềtriết học. Trong các quan điểm khác nhau đó vẫn có những điểm chung. Đólà, tất cả các hệ thống triết học đều là hệ thống tri thức có tính khái quát,xem xét thế giới trong tính chỉnh thể của nó, tìm ra các quy luật chi phốitrong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã hội và bản thân con người. Khái quátlại, có thể hiểu. Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất củacon người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trongthế giới đó. b) Đối tượng của triết học Triết học ra đời từ thời cổ đại. Từ đó đến nay, triết học đã trải quanhiều giai đoạn phát triển. Trong quá trình phát triển đó, đối tượng của triếthọc cũng thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. 2 Thời cổ đại, khi mới bắt đầu có sự phân chia giữa lao động trí óc vớilao động chân tay, tri thức của loài người còn rất ít, chưa có sự phân chiagiữa triết học với các khoa học khác, mà tất cả tri thức khoa học đều gọi làtriết học. Ở Trung hoa, triết học gắn liền với những vấn đề chính trị- xã hội;ở Ấn Độ, triết học gắn liền vơi tôn giáo; ở Hy Lạp. triết học gắn liền vớikhoa học tự nhiên và gọi là triết học tự nhiên. Cũng vì vậy, khi đó đốitượng nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vực tri thức. Đây cũng là nguyênnhân sâu xa về sau dẫn đến quan niệm cho rằng: “Triết học là khoa học củacác khoa học”. Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ,đặt nền móng cho sự phát triển về sau không chỉ đối với triết học mà cònđối với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Thời Trung cổ ở Tây Âu, do sự thống trị của Giáo hội thiên chúagiáo trên mọi mặt của đời sống xã hội, triết học trở thành đầy tớ của thầnhọc. Nhiệm vụ của triết học khi đó là lý giải và chứng minh tính đúng đắncủa các nội dung trong kinh thánh. Triết học đó gọi là triết học kinh viện.Với khuôn khổ chật hẹp của đêm trường Trung cổ, triết học phát triển rấtchậm chạp. Vào thế kỷ XV- XVI, khi trong lòng xã hội phong kiến các nước TâyÂu xuất hiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khoa học tự nhiênphát triển. Khi đó, triết học duy vật phát triển gắn liền với yêu cầu pháttriển của phương thức sản xuất tư bản và sự phát triển của khoa học tựnhiên. Đặc biệt, đến thế kỷ XVII- XVIII, khi cách mạng tư sản nổ ra ở cácnước Tây Âu, khi khoa học tự nhiên diễn ra quá trình phân ngành sâu sắcvà đạt được nhiều thành tựu, nhất là cơ học Niutơn, triết học duy vật pháttriển mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII- XVIII là chủ nghĩa duy vậtAnh, Pháp, Hà Lan với các đại biểu như Ph. Bêcơn, T. Hốpxơ (Anh),Điđrô, Henvetiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)… Vào thời kỳ này, mặc dầukhoa học tự nhiên đã hình thành các bộ môn khoa học độc lập, nhưng triếthọc vẫn gắn liền với khoa học tự nhiên, chưa xác định rõ đối tượng nghiêncứu của riêng mình. Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi mà Anh, Pháp đã là nướctư bản, thì nước Đức còn là một nước phong kiến, giai cấp tư sản đang hìnhthành. Trước ảnh hưởng của Anh, Pháp và yêu cầu phát triển của giai cấptư sản Đức, triết học Đức đã phát triển mạnh mẽ nhưng trên lập trường duytâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen. Hêghen xem triết học của mình là 3một hệ thống phổ biến của tri thức khoa học, mà trong đó các ngành khoahọc cụ thể chỉ là những móc khâu của triết học. Triết học Hêghen là hệthống triết học cuối cùng xem triết học là “khoa học của các khoa học”. Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, trước yêu cầu cuộc đấu tranh củagiai cấp vô sản và sự phát triển của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ, triết họcMác đã ra đời. Triết học Mác đã đoạn tuyệt với quan niệm “triết học làkhoa học của các khoa học” và xác định đối tượng nghiên cứu của mình làtiếp tục giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất với ý thức trên lậptrường duy vật; nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hộivà tư duy, từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễncủa con người nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội theo con đường tiến bộ. Với sự phát triển đầy mâu thuẫn trong xã hội tư bản, với nhữngthành tựu trong cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại, ở các nướctư bản hiện đại đã xuất hiện nhiều trào lưu triết học khác nhau mà ta gọi là”triết học phương Tây hiện đại”. Đó là các trào lưu triết học duy khoa học,trào lưu triết học nhân bản phi lý tính, trào lưu triết học tôn giáo. 2. Vấn đề cơ bản của triết học và các trƣờng phái triết học. a) Vấn đề cơ bản của triết học. Theo Ph. Ăng ghen, ngay từ thời cổ xưa, con người đã gặp phải vấnđề quan hệ giữa linh hồn với thể xác của con người. Từ việc giải thíchnhững giấc mơ, người ta đi đến quan niệm về sự tách rời giữa linh hồn vớithể xác, về sự bất tử của linh hồn. Như vậy, ngay từ thời đó, con người phảisuy nghĩ về mối quan hệ giữa linh hồn với thế giới bên ngoài. Từ khi triếthọc ra đời, vấn đề đó được tiếp tục nghiên cứu giải quyết nhưng trên cơ sởkhái quát cao hơn, đó là mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại , giữa tinh thầnvới tự nhiên, giữa ý thức với vật chất. Đó chính là vấn đề cơ bản của triếthọc. Ph. Ăng ghen viết: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt làcủa triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”. 1 Vấn đề mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại, hay giữa ý thức với vậtchất được gọi là “vấn đề cơ bản lớn” của triết học vì việc giải quyết vấn đềnày là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học.Việc giải quyết vấn đề này là tiêu chuẩn để phân chia các trường phái triếthọc trong lịch sử.1 C. Mác và Ph. Ăng ghen Toàn tập, tập 21, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2004, tr. 403 4 Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: -Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: vật chất và ý thức, cái nào có trước, cáinào có sau, cái nào quyết định cái nào? -Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: con người có khả năng nhận thức đượcthế giới hay không? Căn cứ vào cách giải đáp hai mặt đó của vấn đề cơ bản mà các nhàtriết học được chia thành các trường phái khác nhau. b) Các trường phái triết học – Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Căn cứ vào cách giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học,các nhà triết học được chia làm hai trường phái chính: chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm. + Chủ nghĩa duy vật cho rằng, vật chất có trước, ý thức có sau, vậtchất quyết định ý thức. Chủ nghĩa duy vật được thể hiện ba hình thức lịchsử cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình vàchủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên củachủ nghĩa duy vật. Vào thời kỳ này, khoa học tự nhiên mới hình thành chonên các quan điểm duy vật được hình thành dựa trên cơ sở trực quan, trựcgiác nên mang tính mộc mạc, chất phác. Khi đó, các nhà duy vật giải thíchthế giới vật chất bằng cách đi tìm một hay một số sự vật ban đầu, từ đó sinhra mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới. Mặc dù còn mang tính mộc mạc,chất phác của nó, nhưng chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đã xuất phát từ bảnthân giới tự nhiên để giải thích tự nhiên, không viện đến thần linh, thượngđế. Hình thức thứ hai của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật siêuhình thời cận đại (Thế kỷ XVII- XVIII) ở các nước Tây Âu. Nó là thế giớiquan của giai cấp tư sản cách mạng chống lại thế giới quan duy tâm, tôngiáo của giai cấp phong kiến. Dựa trên những thành tựu mới của khoa họctự nhiên, chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đã có một bước phát triển so vớichủ nghĩa duy vật thời cổ đại. Tuy nhiên, do hạn chế bởi trình độ khoa họcvà lợi ích giai cấp, cho nên duy vật chưa triệt để và mang tính chất siêuhình, máy móc. 5 Hình thức thứ ba của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biệnchứng do C. Mác và Ph. Ăng ghen sáng lập ra và không ngừng phát triểngắn liền với thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và các thànhtựu của khoa học hiện đại. Nó đã thống nhất được chủ nghĩa duy vật vớiphép biện chứng, và không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn duyvật trong cả lĩnh vực xã hội. Đó là chủ nghĩa duy vật triệt để. + Đối lập với chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm cho rằng: ý thứccó trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất. Chủ nghĩa duy tâmchia làm hai hình thức: chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâmkhách quan. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng: cảm giác, ý thức là cái có sẵntrong con người, là cái có trước, quyết định sự tồn tại của mọi sự vật, hiệntượng. Sự vật, hiện tượng chỉ là “tổng hợp các cảm giác”. Như vậy, họ phủnhận sự tồn tại khách quan của sự vật và cho rằng, cảm giác của con ngườiquy định sự tồn tại của sự vật. Quan điểm đó không thể tránh khỏi đi đếnchủ nghĩa duy ngã. Chủ nghĩa duy tâm khách quan lại cho rằng: ý thức, tinh thần (“ýniệm”, “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần thế giới”…) là cái có trước con ngườitrước thế giới vật chất; nó quyết định sinh ra tự nhiên, xã hội và bản thâncon người. Tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất đều là biểuhiện (hay hiện thân) của một thứ ý thức, tinh thần nào đó có trước thế giớivật chất. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan tuykhác nhau về hình thức nhưng đều cho rằng: ý thức, tinh thần quyết địnhsinh ra vật chất. Về thực chất, chủ nghĩa duy tâm đều tán đồng với tôn giáovà bảo vệ tôn giáo. Bên cạnh các nhà triết học duy vật hay duy tâm triệt để, hay còn gọilà các nhà triết học nhất nguyên, còn có các nhà triết học nhị nguyên. Họcho rằng, nguyên thể vật chất và nguyên thể tinh thần tồn tại độc lập vớinhau, không cái nào quyết định cái nào. Quan điểm này muốn điều hòa chủnghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, nhưng xét đến cùng thì họ rơi vàoduy tâm, bởi vì cho ý thức có một cuộc sống riêng, tồn tại tách khỏi vậtchất. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là hai trường phái đối lậpnhau trong lịch sử, luôn luôn đấu tranh với nhau. Cuộc đấu tranh giữa chủ 6nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là phản ánh cuộc đấu tranh giữa cácgiai cấp, các lực lượng trong xã hội. Nhìn chung trong lịch sử phát triển củatriết học, chủ nghĩa duy vật là thế giới quan của giai cấp, của lực lượng xãhội tiến bộ cách mạng. Nó hình thành, phát triển gắn liền với cuộc đấutranh vì sự tiến bộ xã hội và với sự phát triển của khoa học tự nhiên, cũngnhư khoa học xã hội. Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm là thế giới quan củagiai cấp, của lực lượng xã hội lỗi thời, lạc hậu, phản tiến bộ. Nó tồn tại,phát triển gắn liền với tôn giáo và bảo vệ tôn giáo. b) Thuyết khả tri (có thể biết) và thuyết bất khả tri (không thể biết). Căn cứ vào cách giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học,các nhà triết học chia ra: thuyết khả tri (thừa nhận khả năng nhận thức) vàthuyết bất khả tri (phủ nhận khả năng nhận thức). Đại đa số các nhà triết học đều thừa nhận khả năng nhận thức củacon người, trong đó có cả các nhà triết học duy vật lẫn các nhà triết học duytâm. Tuy nhiên, quan điểm của các nhà triết học duy vật và chủ nghĩa duytâm khác nhau về cơ bản. Các nhà triết học duy vật xuất phát từ chỗ chorằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, cho nênnhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người vàcon người hoàn toàn có khả năng nhận thức đúng đắn thế giới khách quan.Ngược lại, các nhà triết học duy tâm xuất phát từ chỗ cho rằng ý thức cótrước, vật chật có sau, ý thức quyết định vật chất, cho nên nhận thức là ýthức, tinh thần hay “ý niệm tuyệt đối” tự nhận thức. Trong lịch sử triết học lại có một số người phủ nhận khả năng nhậnthức của con người. Học thuyết của họ gọi là “thuyết không thể biết”. Theothuyết này, con người không thể biết được sự vật, nếu có biết thì cũng chỉbiết được hiện tượng bề ngoài, chứ không thể hiểu được bản chất của sựvật. Chẳng hạn, Hium (nhà triết học Anh) cho rằng: chúng ta không biếtđược sự vật là như thế nào, thậm chí cũng không biết được sự vật có tồn tạihay không. Còn Cantơ (nhà triết học Đức) thừa nhận tồn tại các sự vật, màông gọi là “vật tự nó”, nhưng không nhận thức được “vật tự nó” mà chỉ cóthể nhận thức được hiện tượng của nó mà thôi. Thuyết không thể biết đã có mầm mống từ “hoài nghi luận” trongtriết học Hy Lạp cổ đại mà đại biểu là Pirôn. Những người theo thuyết nàyhoài nghi tri thức đã đạt được và đi đến cho rằng con người không thể đạtđược chân lý khách quan. Vào thời kỳ phục hưng, hoài nghi luận đã có tác 7dụng chống lại các tín điều tôn giáo và hệ tư tưởng thời Trung cổ. Đến thếkỷ XVIII, hoài nghi luận đã chuyển thành thuyết không thể biết. Thuyết không thể biết cũng đã bị Hêghen và Phoiơbắc phê phán.Theo Ph. Ăng ghen, “sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặnvẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính làthực nghiệm và công nghiệp. Nếu chúng ta có thể chứng minh được tínhchính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó,bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó phải phụcvụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn cái “vật tự nó” không thể nắmđược của Cantơ nữa”1 3. Biện chứng và siêu hình. a) Phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng. Triết học không chỉ giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ýthức, mà còn phải giải quyết vấn đề: các sự vật, hiện tượng trên thế giới tồntại như thế nào? Chúng tồn tại biệt lập nhau hay có quan hệ với nhau?Chúng ở trạng thái tĩnh hay không ngừng vận động, phát triển? Giải quyếtcác vấn đề đó, trong lịch sử triết học có hai phương pháp đối lập nhau:phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình. Phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức sự vật trong trạngthái cô lập, không có liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và trong trạngthái tĩnh, không vận động, phát triển; nếu có vận động, phát triển thì cũngchỉ là sự biến đổi về lượng, không biến đổi về chất và tìm nguyên nhân vậnđộng phát triển từ bên ngoài chứ không phải từ mâu thuẫn nội tại bên trongsự vật. Theo Ph. Ăng ghen, phương pháp đó. “chỉ nhìn thấy những vậtriêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy,chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phátsinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh củanhững sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìnthấy cây mà không nhìn thấy rừng”. 2 Ngược lai, phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức sựvật trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau, vàtrong quá trình vận động, phát triển không ngừng phương pháp đó khôngchỉ thấy những sự vật cá biệt, mà còn thấy mối quan hệ lẫn nhau giữa1 C. Mác và Ph. Ăng ghen, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội- 1995, tập 21, tr. 4062 C. Mác và Ph. Ăng ghen, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội- 1994, tập 20, tr. 37. 8chúng; không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật, mà còn thấy cả sự sinh thànhvà sự tiêu vong của sự vật; không chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật, màcòn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy “cây” mà còn thấy cả”rừng”. Theo Ph. Ăng ghen, phương pháp biện chứng “xem xét những sựvật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lạilẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sựtiêu vong của chúng”1. Phương pháp biện chứng là một phương pháp mềmdẻo, linh hoạt. Nó “thừa nhận trong những trường hợp cần thiết, bên cạnhcái “hoặc là…hoặc là” thì có cả cái”cả cái này lẫn cái kia”nữa” 2. Phươngpháp biện chứng là phương pháp thực sự khoa học trong nhận thức và tronghoạt động thực tiễn. b) Các hình thức cơ bản của phép biện chứng. Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình phát triển gắnliền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn xã hội. Sự phát triển củaphương pháp biện chứng gắn liền với sự phát triển của phép biện chứng.Phép biện chứng là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và sự vận động, pháttriển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hình thức đầu tiên của phép biện chứng là phép biện chứng tự phácthời cổ đại, mà tiêu biểu là thuyết “Âm- dương” trong triết học Trung hoa,trong đạo phật và nhiều học thuyết triết học Hy Lạp cổ đại. Phép biệnchứng thời kỳ này đã thấy được các sự vật trong quá trình sinh thành, tiêuvong và mối liên hệ vô tận giữa các sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, nhữngtư tưởng đó dựa trên cơ sở trực quan, trực giác chứ chưa có được những cơsở khoa học vững chắc. Hình thức thứ hai của phép biện chứng là phép biện chứng duy tâm,mà đỉnh cao là trong triết học cổ điển Đức, bắt đầu là triết học Cantơ vàhoàn thiện trong triết học Hêghen. Nhờ dựa vào các thành tựu khoa học tựnhiên vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và thực tiễn lúc bấy giờ, triếthọc Đức đã có tính khái quát cao và trình bày một cách có hệ thống nhữngnội dung cơ bản của phép biện chứng. Tuy nhiên, phép biện chứng đó lạikhông triệt để vì đó là biện chứng duy tâm và bảo thủ. Hình thức thứ ba của phép biện chứng là phép biện chứng duy vật doC. Mác, Ph. Ăng ghen xây dựng và được Lênin tiếp tục phát triển. Nó làkết quả của việc kế thừa những giá trị của phép biện chứng trước đó và tiếp1 Sđd, tr. 6962 Sđd, tr. 696 9tục phát triển sáng tạo trong điều kiện thực tiễn mới và các thành tựu khoahọc tự nhiên đầu thế kỷ XIX. Phép biện chứng duy vật đã thống nhất phépbiện chứng với chủ nghĩa duy vật. Đó là một hệ thống hoàn bị, thống nhấtchặt chẽ giữa tính khoa học với tính cách mạng. 4. Chức năng thế giới quan và chức năng phƣơng pháp luận củatriết học. a) Chức năng thế giới quan của triết học. Những vấn đề triết học đặt ra và giải quyết trước hết là những vấn đềthế giới quan. Tồn tại trong thế giới, con người phải nhận thức về thế giớivà về bản thân mình. Từ đó hình thành nên thế giới quan. Thế giới quan lànhững quan điểm, quan niệm của con người về thế giới xung quanh, về bảnthân và về cuộc sống của con người, về vị trí của con người trong thế giớiđó. Thế giới quan bao hàm nhân sinh quan, tức là toàn bộ những quan niệmvề cuộc sống của con người. Đến lượt mình, thế giới quan được hình thànhlại trở thành nhân tố định hướng cho con người tiếp tục quá trình nhận thứcthế giới xung quanh, cũng như tự xem xét bản thân mình và từ đó xác địnhthái độ, cách thức hoạt động và sinh sống của mình. Thế giới quan đúngđắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực. Trình độ của thế giớiquan là một tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của cá nhân cũng nhưcộng đồng xã hội nhất định. Triết học ra đời làm cho thế giới quan phát triển lên một trình độ cao-trình độ tự giác dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thứckhoa học mạng lại.

Xem thêm: trắc nghiệm quản trị học có đáp án

Xem thêm: bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module 28

Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhấtvề thế giới quan, là hạt nhân lý luận của thế giới quan. Chủ nghĩa duy vậtvà chủ nghĩa duy tâm chính là cơ sở lý luận của hai thế giới quan đối lập:Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm. Cuộc đấu tranh giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện cuộc đấu tranhgiữa các giai cấp, các lực lượng xã hội đối lập nhau. Trong lịch sử triết học,chủ nghĩa duy vật là thế giới quan của giai cấp, của lực lượng xã hội tiến bộcách mạng, đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ xã hội;ngược lại, chủ nghĩa duy tâm được sử dụng làm công cụ biện hộ về lý luậncho giai cấp thống trị lỗi thời, lạc hậu, phản động. b) Chức năng phương pháp luận của triết học. Cùng với chức năng thế giới quan, triết học còn có chức năngphương pháp luận. Phương pháp luận, là lý luận về phương pháp, là hệthống các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng, 10lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức và trong thực tiễn.Phương pháp luận có nhiều cấp độ khác nhau: phương pháp luận ngành(phương pháp luận cho rừng chuyên ngành) phương pháp luận chung(phương pháp luận cho một số ngành) và phương pháp luận chung nhất(phương pháp luận chung cho tất cả các ngành). Phương pháp luận của triếthọc chính là những phương pháp luận chung nhất. Trong triết học, thế giới quan và phương pháp luận không tách rờinhau. Bất cứ lý luận triết học nào, khi lý giải về thế giới xung quanh và bảnthân con người, đồng thời cũng thể hiện một phương pháp luận nhất định,chỉ đạo cho việc xây dựng và vận dụng phương pháp. Mỗi hệ thống triếthọc không chỉ là một thế giới quan nhất định, mà còn là phương pháp luậnchung nhất trong việc xem xét thế giới. Mỗi quan điểm triết học đồng thờilà một nguyên tắc phương pháp luận, là lý luận về phương pháp. Thế giới quan và phương pháp luận là hai chức năng không tách rờinhau trong triết học, và nó tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hoạt độngthực tiễn. Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy: Thế giới quan duy vậtvà phương pháp luận biện chứng duy vật là công cụ mạnh mẽ trong nhậnthức khoa học và thực tiễn cải tạo thế giới. II. KHÁI LUẬN VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 1. Lịch sử triết học và đối tƣợng của khoa học lịch sử triết học Để nhận thức một cách sâu sắc về triết học cũng như rèn luyện nănglực tư duy, cần phải nghiên cứu lịch sử triết học. Lịch sử triết học là lịch sửhình thành, phát triển tư tưởng triết học qua các giai đoạn phát triển của xãhội; là lịch sử đấu tranh giữa các trường phái triết học, mà điển hình là cuộcđấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm; giữa phương phápbiện chứng với phương pháp siêu hình; là lịch sử gạt bỏ và kế thừa lẫnnhau của các tư tưởng triết học qua các giai đoạn lịch sử, cũng như giữa cácdân tộc và các vùng với nhau. Từ nhu cầu nghiên cứu lịch sử triết học đã ra đời bộ môn khoa họclịch sử triết học. Đối tượng của khoa học lịch sử triết học là nghiên cứu làmrõ lịch sử hình thành, phát triển và nội dung tư tưởng của các học thuyếttriết học dưới các biểu hiện cụ thể của nó trong từng giai đoạn lịch sử, làmrõ cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học (chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm), giữa hai phương pháp triết học (phương pháp biện chứngvà phương pháp siêu hình). 11 Với tư cách là một khoa học, khoa học lịch sử triết học không dừnglại mô tả sự hình thành, phát triển và nội dung tư tưởng của các học thuyếttriết học trong lịch sử, mà phải đi sâu nghiên cứu tìm ra được lôgíc nội tại,được các quy luật hình thành, phát triển của triết học. Chỉ trên cơ sở đó mớicó thể nhận thức một cách sâu sắc các tư tưởng triết học trong lịch sử. Khoa học lịch sử triết học phải đi sâu nghiên cứu chỉ ra được mốiquan hệ giữa các học thuyết triết học với thực tiễn xã hội, với cuộc đấutranh giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội. Đồng thời làm rõ thực chấtcác học thuyết triết học, đánh giá được những giá trị, cũng như những hạnchế và vai trò lịch sử của các học thuyết triết học đó. Khoa học lịch sử triết học còn phải nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ lẫnnhau giữa các học thuyết triết học, sự gạt bỏ và kế thừa lẫn nhau giữa cáctư tưởng triết học qua các giai đoạn lịch sử; sự thâm nhập lẫn nhau giữa cáctư tưởng triết học của các dân tộc, các quốc gia và các vùng với nhau; sựthâm nhập lẫn nhau và tác động qua lại lẫn nhau giữa triết học với các hìnhthái ý thức xã hội khác trong quá trình phát triển. Như vậy, khoa học lịch sử triết học phải nghiên cứu tìm ra được quyluật hình thành, phát triển của các học thuyết triết học và vai trò của nó đốivới phát triển tư duy lý luận nói riêng, đời sống xã hội nói chung. 2. Tính quy luật về sự hình thành, phát triển của lịch sử tƣ tƣởngtriết học. Lịch sử triết học chỉ thực sự trở thành một khoa học khi nó tìm rađược tính quy luật hình thành, phát triển của các tư tưởng triết học. Bởi vì,chỉ khi đó, chúng ta mới không dừng lại sự mô tả các sự kiện mà đi đếnphân tích lô gích, tìm ra được cơ sở sâu xa của quá trình hình thành, pháttriển và nội dung tư tưởng của các học thuyết triết học; cũng như sự thaythế lẫn nhau của các học thuyết triết học trong lịch sử. Theo quan điểm Mácxít, lịch sử phát triển tư tưởng triết học có tínhquy luật của nó. Trong đó, các tính quy luật chung là: sự hình thành, pháttriển của các tư tưởng triết học gắn liền với điều kiện kinh tế- xã hội, vớicuộc đấu tranh giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội; với các thành tựukhoa học tự nhiên và khoa học xã hội; với sự thâm nhập và đấu tranh giữacác trường phái triết học với nhau. Là một hình thái ý thức xã hội, sự hình thành, phát triển của các tưtưởng triết học gắn liền với các điều kiện kinh tế- xã hội, với cuộc đấutranh của các giai cấp, các lực lượng xã hội. Mỗi giai đoạn phát triển khác 12nhau của xã hội, mỗi giai cấp, mỗi lực lượng xã hội khác nhau sẽ xây dựngnên các hệ thống triết học khác nhau. Sự phát triển và thay thế lẫn nhaugiữa các hệ thống triết học trong lịch sử là phản ánh sự biến đổi và thay thếlẫn nhau giữa các chế độ xã hội, phản ánh cuộc đấu tranh giữa các giai cấp,các lực lượng trong xã hội. Chính vì vậy, nghiên cứu lịch sử triết họckhông thể tách rời điều kiện kinh tế- xã hội, điều kiện giai cấp và đấu tranhgiai cấp đã sinh ra nó. Là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát, lịch sử phát triểncủa tư tưởng triết học không thể tách rời các thành tựu của khoa học tựnhiên và khoa học xã hội. Sự phát triển của triết học, một mặt phải kháiquát được các thành tựu của khoa học, mặt khác nó phải đáp ứng yêu cầuphát triển của khoa học trong từng giai đoạn lịch sử. Vì vậy, mỗi giai đoạnphát triển của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên, thì triết học cũng có mộtbước phát triển. Đúng như Ph. Ăng ghen đã nhận định: “Với những phátminh mới mang tính thời đại thì triết học cũng phải thay đổi hình thức…”.Do đó, việc nghiên cứu lịch sử triết học không thể tách rời các giai đoạnphát triển của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên. Trong lịch sử triết học luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa cáctrường phái triết học, mà điển hình nhất là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩaduy vật và chủ nghĩa duy tâm. Trong quá trình đấu tranh đó, các trườngphái triết học vừa gạt bỏ lẫn nhau, vừa kế thừa lẫn nhau, và mỗi hình tháiđều không ngừng biến đổi, phát triển lên một trình độ mới cao hơn. Chínhcuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học đã làm cho triết học khôngngừng phát triển. Đó là lôgíc nội tại trong quá trình phát triển của lịch sử tưtưởng triết học. Việc nghiên cứu lịch sử triết học không thể tách rời cuộcđấu tranh giữa các trường phái triết học trong lịch sử. Sự phát triển của triết học trong lịch sử không chỉ diễn ra quá trìnhthay thế lẫn nhau giữa các học thuyết triết học mà còn bao hàm sự kế thừalẫn nhau giữa chúng. Các học thuyết triết học giai đoạn sau thường kế thừanhững tư tưởng nhất định của triết học giai đoạn trước và cải biến, pháttriển cho phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới. Đó chính là sự phủ địnhbiện chứng trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học. Việc nghiên cứu lịchsử triết học đòi hỏi phải nghiên cứu sự kế thừa lẫn nhau giữa các tư tưởngtriết học. Lịch sử phát triển tư tưởng triết học không chỉ gắn liền với từng quốcgia, dân tộc, mà còn có sự tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhaugiữa tư tưởng triết học của các quốc gia, dân tộc cũng như giữa các vùng 13với nhau. Sự tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau đó góp phầnthúc đẩy tư tưởng triết học nhân loại nói chung, tư tưởng triết học từng dântộc nói riêng phát triển. Sự phát triển của tư tưởng triết học vừa có tính dântộc, vừa có tính nhân loại. Sự phát triển của triết học không chỉ trong sự tác động qua lại lẫnnhau, thâm nhập lẫn nhau giữa các tư tưởng triết học, mà còn giữa triết họcvới chính trị, tôn giáo, nghệ thuật… Sự tác động qua lại lẫn nhau đó làmcho hình thức phát triển của triết học rất đa dạng. Triết học không chỉ là cơsở lý luận cho các hình thái ý thức xã hội khác, mà nhiều khi còn thể hiệnthông qua các hình thái ý thức xã hội khác, như biểu hiện thông qua chínhtrị, thông qua tôn giáo, thông qua nghệ thuật… Điều đó cho thấy, nhiều khinghiên cứu các tư tưởng triết học phải thông qua nghiên cứu, khái quát từcác hình thái ý thức xã hội khác. 3. Phân kỳ lịch sử triết học Lịch sử hình thành, phát triển triết học trải qua nhiều thời kỳ khácnhau. Phân kỳ lịch sử triết học là cơ sở để đi sâu nghiên cứu lịch sử triếthọc một cách khoa học. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểmkhác nhau về phân kỳ lịch sử triết học. Theo quan điểm Macxit, việc phânkỳ lịch sử triết học cần dựa trên những căn cứ cơ bản sau: Triết học là một hình thái ý thức xã hội và là một bộ phận cấu thànhcủa kiến trúc thượng tầng, nó hình thành, phát triển gắn liền với sự hìnhthành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội. Mỗigiai đoạn phát triển khác nhau của các hình thái kinh tế – xã hội sẽ hìnhthành nên các học thuyết triết học khác nhau. Cho nên phân kỳ lịch sử triếthọc cần phải dựa vào các giai đoạn phát triển và thay thế lẫn nhau của cáchình thái kinh tế – xã hội. Đó là triết học xã hội nô lệ, triết học xã hội phongkiến, triết học thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản (thờikỳ phục hưng và cận đại), triết học trong xã hội tư bản… Sự phát triển của triết học luôn luôn gắn liền với sự phát triển củakhoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Mỗi giai đoạn phát triển của khoahọc, nhất là khoa học tự nhiên, triết học đều có bước phát triển mới. Vì vậy,phân kỳ lịch sử triết học còn phải gắn liền với các giai đoạn phát triển củakhoa học tự nhiên. Như triết học thời kỳ khoa học tự nhiên mới bắt đầuhình thành thời kỳ cổ đại, triết học thời kỳ khoa học tự nhiên đi sâu vàokhoa học thực nghiệm thế kỷ XVII – XVIII, triết học thời kỳ khoa học tựnhiên đi sâu vào khái quát những quy luật chung của tự nhiên cuối thế kỷ 14XVIII đầu thế kỷ XIX, triết học trong thời kỳ khoa học tự nhiên bắt đầuvào nghiên cứu thế giới vi mô cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, triết họctrong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay. Do nhiều yếu tố tác động khác nhau, lịch sử triết học còn có nhữngbước ngoặt mang tính cách mạng trong quá trình phát triển. Điều đó đòi hỏiphân kỳ lịch sử triết học cần phải tính đến những bước ngoặt trong sự pháttriển của triết học. Chẳng hạn, triết học cổ điển Đức vào cuối thế kỷ XVIIIđầu thế kỷ XIX đã nâng phép biện chứng lên thành một hệ thống lý luận cótính khái quát cao. Đặc biệt phải nói đến sự ra đời của triết học Mác đã tạora một bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học. Sự phát triển của triết học không thể tách rời những điều kiện cụ thểvề tự nhiên, về kinh tế – xã hội, về văn hóa… của từng vùng, từng dân tộc.Những điều kiện cụ thể đó tạo nên những nét độc đáo riêng về tư tưởngtriết học của từng vùng, từng dân tộc. Vì vậy, phân kỳ lịch sử triết học cònphải gắn liền với từng vùng, từng dân tộc. Chẳng hạn phân ra triết họcphương Đông và triết học phương Tây, trên cơ sở đó lại chia ra triết học ởcác nước khác nhau và các thời kỳ khác nhau. Phân kỳ lịch sử triết học dựa trên nhiều căn cứ khác nhau, cho nên cónhiều cách phân kỳ khác nhau. Mỗi cách phân kỳ thỏa mãn được tiêu chínày lại hạn chế về tiêu chí kia. Để khắc phục điều đó, thông thường trongphân kỳ lịch sử triết học phải kết hợp nhiều tiêu chí. Trong cuốn tài liệu này, lịch sử triết học được chia ra: – Triết học phương Đông cổ, Trung đại – Triết học phương Tây cổ, Trung, Cận và hiện đại – Triết học Mác – Lênin Cách phân kỳ này vừa kết hợp nét đặc thù của từng vùng với các thờikỳ phát triển khác nhau của triết học gắn liền với các hình thái kinh tế – xãhội và với những bước ngoặt trong sự phát triển của triết học. 15 Chƣơng II KHÁI LƢỢC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƢƠNG ĐÔNG Theo nghĩa đầy đủ, khái niệm triết học Phương Đông không chỉ baogồm những tư tưởng triết học ở các nước vùng châu Á mà còn bao gồmnhững tư tưởng triết học ở các nước vùng Trung Cận Đông. Tuy nhiên, nétđặc sắc của triết học Phương Đông so với triết học các nước phương Tâychính là triết học các nước vùng châu Á mà tiêu biểu là Trung Quốc và ẤnĐộ thời Cổ, Trung đại. Đồng thời, với chiều dài lịch sử khoảng hai ngànnăm qua, những tư tưởng triết học Ấn Độ và Trung Quốc đã có một vai tròquan trọng trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học và văn hoá Việt Nam. I. TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ, TRUNG ĐẠI 1. Điều kiện ra đời và nét đặc thù của triết học Ấn Độ cổ, Trungđại Về địa lý. Ấn Độ Cổ đại là một bán đảo rộng lớn ở phía Nam châu Á,có điều kiện tự nhiên rất phức tạp: địa hình có nhiều núi non trùng điệp, cónhiều sông ngòi với những đồng bằng trù phú; Khí hậu có vùng nóng, ẩm,mưa nhiều, có vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, lại có những sa mạc khôkhan. Về phương diện lịch sử. Xã hội Ấn Độ cổ đại là một xã hội ra đời từrất sớm: Khoảng thế kỷ XXV trCN trong lưu vực sông Ấn đã nảy nở mộtnền văn minh cao, được gọi là nền văn minh Sông Ấn hay Harappa.Khoảng thế kỷ XV trCN, các bộ lạc du mục Arya đã từ phía Bắc xâm nhậpvào đất Ấn Độ. Họ dần định cư, rồi đồng hóa với dân bản địa Dravida, tạothành cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ hai. Từ thế kỷ VIItrCN đến thế kỷ XVI CN đất nước Ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến cốlớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triềutrong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài. Vào thế kỷ XVIII,Ấn Độ bị đế quốc Anh đô hộ, từ đó Ấn Độ bước sang thời kỳ thống nhất vềchính trị thúc đẩy sự kết hợp giữa văn hóa cổ truyền với văn hóa phươngTây. Về kinh tế – xã hội. Nét nổi bật của Ấn Độ cổ đại là sự tồn tại sớm vàkéo dài kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình “công xã nông thôn”. Trong kết 16cấu này, ruộng đất thuộc về nhà nước, dân công xã canh tác ruộng đất côngvà nộp tô cho nhà nước, nô lệ không có vai trò trong sản xuất. Trên cơ sởmô hình ấy, trong xã hội Ấn Độ cổ trung đại đã tồn tại rất dai dẳng sự phânchia đẳng cấp, sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo làmcho kết cấu xã hội rất phức tạp. Về văn hóa. Ấn Độ Cổ đại được hình thành trên cơ sở điều kiện tựnhiên và hiện thực xã hội. Người Ấn Độ đã biết quả đất tròn quay xungquanh một trục, đã biết sáng tạo ra lịch pháp, đã có hệ thống số đếm thậpphân, đã biết đến số không, đã có những thành tựu trong đại số, hình học,khai căn, các phép tính lượng giác, đường tròn, số …, y học và hóa họcphát triển. Các tập sử thi vĩ đại như Mahabharata và Ramayana cũng hìnhthành trong thời kỳ này. Đây cũng là thời kỳ phát triển tư duy trừu tượng,thời kỳ ra đời của các hệ thống tôn giáo, triết học. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và văn hoá luôn tác động mạnhđến con người Ấn độ, và để lại dấu ấn đậm nét, tạo nên cơ sở ra đời và quyđịnh nội dung tính chất cuả nền triết học Ấn Độ Cổ, Trung đại. Nét đặc thùcủa tư tưởng triết học này chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng tôn giáo cótính chất “hướng nội”. Xu hướng lý giải và thực hành những vấn đề nhânsinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự “giải thoát” là xuhướng trội của nhiều học thuyết triết học – tôn giáo Ấn Độ cổ , trung đại. 2. Tƣ tƣởng triết học Ấn Độ Cổ, Trung đại Người ta đã chia lịch sử hình thành và phát triển của triết học Ấn ĐộCổ, Trung đại thành ba thời kỳ lớn: Thời kỳ Véda (vào khoảng 1500 năm đến1000 năm trCN); Thời kỳ cổ điển, hay còn gọi là thời kỳ Bàlamôn – Phậtgiáo (vào khoảng 700 năm trCN đến 600 năm CN); Thời kỳ sau cổ điển haycòn gọi là thời kỳ xâm nhập của Hồi giáo (vào khoảng 700 năm đến 1800năm CN) a) Tư tưởng triết học thời kỳ Véda Véda, trong tiếng cổ Ấn Độ có nghĩa là tri thức, thường hiểu là trithức tôn giáo. Trong nghĩa cụ thể, Véda là một khối lượng tác phẩm vănhọc đồ sộ được sáng tác trong khoảng thế kỷ XV trCN và được sưu tập,chép lại bằng tiếng Phạn cổ vào khoảng thế kỷ X trCN gọi là thánh kinhVéda. Bộ phận sớm nhất của văn học Véda là bốn tập Véda: Rigveda,Samaveda, Atharvaveda, Yajurveda. Bộ phận muộn của văn học Véda làBrahmana, Aranyaka và Upanisad. Nhìn chung, trong các tập này, chúng ta 17chỉ thấy các ước vọng của con người, nó phản ánh một tín ngưỡng ma thuậtvà đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học. Song, ta có thể nhận ranhững bước phát triển mới của tư duy trừu tượng. Khuynh hướng rõ rệt làngười Ấn Độ đi tìm những điểm giống nhau giữa vô vàn hiện tượng và sựvật khác nhau. Đi xa hơn, người ta thừa nhận một nguyên lý vũ trụ với sứcmạnh vô hạn biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh thần và trong nghilễ. Ở đây đã phôi thai hai quan niệm đối lập nhau mà ta có thể nhận thấytrong tư tưởng triết học về sau là quan niệm coi thế giới bị chi phối bởi mộtnguyên lý phi nhân cách và quan niệm coi một vị thượng đế nhân cách hóađiều khiển mọi quá trình vũ trụ. Upanisad là sách triết lý – tôn giáo cuối giai đoạn Véda. Upanisad cónghĩa là tri thức bí mật, thể hiện khát vọng hệ thống hóa các tín ngưỡng cổ. Vấn đề trước hết mà Upanisad quan tâm là mối quan hệ giữa “Tinhthần vũ trụ tối cao” (Brahman) và “Linh hồn” con người (Atman).Upanisad giải đáp một cách duy tâm rằng Brhaman là thực thể duy nhất, cótrước, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ravà nhập về với nó sau khi chết. Tất cả mọi vật đều có Atman và Atman làmột bộ phận của Brahman. Thứ hai, Upanisad cũng đã trình bày về thuyếtluân hồi và cho rằng con người sau khi chết, sẽ lại tái sinh dưới một hìnhthức khác, người hoặc động vật. Các dạng tái sinh kiếp sau được quy địnhbởi các nghiệp đã có ở kiếp này. Để giải thoát linh hồn bất tử khỏi vòngvây hãm của luân hồi nghiệp báo, thoát khỏi sự chi phối của đời sống nhụcdục thì phải có tri thức thần bí đặc biệt, muốn đạt được thì phải thiền. Thiềnlà bằng nhận thức trực giác, thực nghiệm tâm linh, con người mới nhận rachân bản của mình khi đó linh hồn (Atman) mới đồng nhất được với tinhthần vũ trụ tối cao . Các sách Upanisad đã có ảnh hưởng lớn đếnsự phát triển hệ tư tưởng Ấn Độ, là cội nguồn tư tưởng cho nhiều khuynhhướng triết học và tôn giáo khác nhau ở Ấn Độ cổ đại. b) Tư tưởng triết học thời cổ điển Vào thời kỳ cổ điển (hay là Bàlamôn – Phật giáo), tuy nền kinh tế vàxã hội nô lệ đã phát triển cao hơn trước nhưng vẫn bị kìm hãm bởi tính chấtkiên cố của tổ chức công xã nông thôn, bởi sự phân chia đẳng cấp ngặtnghèo và sự thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tậpquyền. Về đời sống tinh thần, thế giới quan duy tâm, tôn giáo của kinhthánh Véda, Upanisad và đạo Bàlamôn được suy tôn là hệ tư tưởng chínhthống ngự trị trong đời sống tinh thần của con người. Các trường phái triết 18học thời kỳ này đa dạng, phản ánh lợi ích của các tầng lớp xã hội khác nhauđược trình bày thành hệ thống chặt chẽ, được chia làm hai phái: phái chínhthống thừa nhận uy thế tối cao của kinh Véda, đạo Bàlamôn và phái khôngchính thống bác bỏ uy thế kinh Véda và đạo Bàlamôn. Phái chính thốngbao gồm 6 trường phái: Sàmkhya, Mimàna, Vedànta, Yoga, Nỳaya,Vaisesia. Phái không chính thống, hay phái tà giáo có ba trường phái:Jaina, Lokàyata, Buddha (Phật giáo). Trường phái Sàmkhya. Tư tưởng của Sàmkhya có nguồn gốc rất cổvà ảnh hưởng của nó rất lớn. Đến nay chỉ có hai tập sách trình bày quanđiểm Sàmkhya là Sàmkhya-sùtra được coi là của Kapila và Sàmkhya-karita được coi là của Isvarakrisna. Triết học Sàmkhya sơ kỳ là duy vật, phủ định sự tồn tại của Brahmanvà thần, họ đưa ra học thuyết tồn tại của kết quả trong nguyên nhân trướckhi nó xuất hiện và học thuyết về sự chuyển hoá thực tế của nguyên nhântrong kết quả. Họ cho rằng nếu thế giới là vật chất thì nguyên nhân của nócũng phải là vật chất. Vật chất đầu tiên (Prakriti) ở dạng tinh tế, tiềm ẩn,không thể cảm giác trực tiếp. Thế giới vật chất là thể thống nhất của ba yếutố: Sattva (nhẹ, sáng, tươi vui), Rajas (động, kích thích), Tamas (nặng, khókhăn). Khi ba yếu tố này ở trạng thái cân bằng thì Prakriti ở trạng tháikhông thể trực quan được. Khi cân bằng bị phá vỡ thì đấy là điểm xuất phátcủa sự tiến hoá thế giới. Triết học Sàmkhya hậu kỳ có khuynh hướng nhịnguyên khi thừa nhận sự tồn tại song song hai yếu tố đầu tiên là Prakriti vàPurusa (vật chất và tinh thần). Yếu tố Purusa mang tính phổ quát vĩnh hằngvà bất biến, nó truyền sinh khí, năng lượng biến hoá vào yếu tố vật chất. Trường phái Mimànsà. Tư tưởng của Mimànsà có kinh điển đầutiên là Mimànsà – sùtra được coi là của Jaimini và sau đó là bản chú giảicác tác phẩm trên còn lại đến nay là Sabara – Bhasya do Sabara viết. Mimànsà là hệ thống triết học chính thống, không thừa nhận sự tồntại của thần. Lập luận của họ về sự tồn tại của thần là không có chứng cứ,cảm giác không nhận ra thần, nguồn gốc của tri thức suy cho cùng là dựatrên cảm giác. Quan điểm vô thần như trên có nguồn gốc trong quan điểmcủa họ về kinh Véda và thần linh Véda. Họ coi kinh Véda là tập mệnh lệnhvề nghi lễ. Nghi lễ có sức mạnh, có thể đưa lại hiệu quả. Còn thần trongkinh Véda là cái tên, hay là âm thanh cần thiết cho các câu thần chú nghi lễ.Mimànsà hậu kỳ thừa nhận sự tồn tại của thần. 19 Trường phái Vêdànta. Tư tưởng của Vêdànta có kinh điển đầu tiênlà Vêdànta-sùtra được coi là của Badarayana viết, nhằm hệ thống hoá,thống nhất các quan điểm triết học của Upanisad. Cách luận giải có ảnh hưởng lớn nhất là quan điểm Advaita -Vedanta (tức Vêdànta nhất nguyên) hay Maya – vada (tức lý thuyết là ảoảnh). Theo lý thuyết này, tồn tại tuyệt đối (Brahman) đồng nhất với “tôi”(Atman) là ý thức cá nhân thuần tuý. Thế giới vật chất không hiện thực,hình ảnh của nó chỉ là ảo ảnh (maya), sinh ra do vô minh (avidya). Vậy,Vêdànta nhất nguyên không thừa nhận sự tồn tại của bất cứ cái gì ngoàiBrahman – tức là ý thức thuần tuý. Các phái Vêdànta sau này giải thíchVêdànta – sùtra theo quan điểm hữu thần hay duy tâm khách quan. Họ coiBrahman là linh hồn vũ trụ, vĩnh hằng, còn Atman là linh hồn cá thể, mộtbộ phận của linh hồn tối cao, tức là thượng đế Brahman. Trường phái Yoga. Yoga-sutra của Patanjali là kinh điển của trườngphái Yoga. Tư tưởng triết học cốt lõi của Yoga là sự hợp nhất tâm thể về mộtmối, là hệ thống tu hành mà người tu hành chấp nhận giải thoát Atman rakhỏi các giác quan và sự ràng buộc của cơ thể. Trường phái Yoga kết hợp tư tưởng triết học của trường pháiSàmkhya nhưng lại coi Purusa là thượng đế. Thượng đế của Yoga không cóý nghĩa triết học mà chỉ có mục đích đạt tới giác ngộ để vượt qua thế giớivật chất hữu hình, hữu hạn, thường biến để đạt tới đại giác – tức đến vớiBrahman. Trường phái Nyaya – Vaisêsika. Ngay từ đầu, hai hệ thống Nyayavà Vaisêsika đã gắn liền với nhau, qua thời gian thực sự hòa làm một, nêncó thể gọi chung là Nyaya – Vaisêsika. Kinh điển cơ bản của Nyaya -Vaisêsika là Nyaya-sùtra của Gautama và Vaisêsika-sutra của Kanađa. Lýthuyết nhận thức, lý thuyết nguyên tử và lý thuyết biện luận là ba nội dungchủ yếu về mặt triết học của trường phái Nyaya – Vaisêsika. Lý thuyết nguyên tử: Những nhà triết học của trường phái Nyaya -Vaisêsika thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất, thế giới ấy là rất phongphú, đa dạng, phương pháp luận của họ là quy toàn bộ sự đa dạng của tồntại vào bốn yếu tố vật chất: đất, nước, lửa và không khí. Những yếu tố nàylại được quy vào bản nguyên duy nhất, đầu tiên là Ami (nguyên tử).Nguyên tử được coi là những hạt vật chất không đồng nhất, bất biến, vĩnhhằng, được phân biệt ở chất lượng, khối lượng và hình dáng, tồn tại trong môi

Viết một bình luận