Giáo Trình Môn Nghiên Cứu Khoa Học, Giáo Trình Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động then chốt hàng đầu trong những ngành khoa học. Kết quả từ NCKH là những phát hiện mới về kiến thức, về bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới có giá trị cao. Thực tế cho thấy, sinh viên khi bắt đầu làm luận văn tốt nghiệp và ngay cả những người mới ra trường làm việc trong các cơ quan nghiên cứu đòi hỏi phải có kiến thức và có phương pháp NCKH. Vì…

Đang xem: Giáo trình môn nghiên cứu khoa học

*

Lời mở đầu – Giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học Lời mở đầuNghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động then chốt hàng đầu trong những ngành khoa h ọc.Kết quả từ NCKH là những phát hiện mới về kiến thức, về bản chất sự vật, phát tri ển nh ậnthức khoa học về thế giới, sáng tạo phương pháp và phương ti ện k ỹ thu ật m ới có giá tr ị cao.Thực tế cho thấy, sinh viên khi bắt đầu làm luận văn tốt nghiệp và ngay c ả những người m ới ratrường làm việc trong các cơ quan nghiên cứu đòi hỏi phải có kiến thức và có ph ương phápNCKH. Vì vậy, môn học phương pháp NCKH học là nền tảng để trang b ị cho các sinh viên ti ếpcận NCKH.Giáo trình “Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học” được biên so ạn v ới nhi ều n ội dung cung c ấpnhững thông tin, những kiến thức cơ bản, các bước trong NCKH, những k ỹ thu ật c ần thi ết đ ểtiếp cận phương pháp thí nghiệm và cách trình bày các kết quả NCKH. Hy vọng rằng giáo trìnhnày sẽ mang lại những kiến thức bổ ích và những thông tin thi ết th ực cho sinh viên và nh ữngngười bắt đầu làm công tác NCKH.Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của nhiều tác giả đã cung c ấp sách tham kh ảo và gởitài liệu thông tin qua mạng giúp chúng tôi biên soạn giáo trình này.Nhóm tác giả Khái niệm khoa học và nghiên cứu khoa họcSummary: Phần này trình bày về khái niệm khoa học và nghiên cứu khoa họcKhoa họcKhoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức m ới, học thuyết m ới, … v ềtự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới nầy, tốt hơn, có thể thay thế dần nh ữngcái cũ, không còn phù hợp. Thí dụ: Quan niệm thực vật là v ật th ể không có c ảm giác đ ược thaythế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận.Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự v ận đ ộng c ủavật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ th ống tri th ức này hình thành tronglịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân bi ệt ra 2 h ệ th ống tri th ức: trithức kinh nghiệm và tri thức khoa học.- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua ho ạt đ ộng s ống hàng ngày trongmối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình n ầy giúpcon người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành m ối quan h ệ gi ữanhững con người trong xã hội. Tri thức kinh nghi ệm được con người không ng ừng s ử d ụng vàphát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghi ệm ch ưa th ật s ự đi sâu vào b ảnchất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và m ối quan h ệ bên trong gi ữa s ự v ật và conngười. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến m ột hiểu biết gi ới hạn nhất đ ịnh, nh ưngtri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy m ột cách có h ệ th ống nh ờ ho ạt đ ộngNCKH, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng ph ương pháp khoa h ọc. Không gi ốngnhư tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu th ập đ ược qua nh ữngthí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong ho ạt đ ộng xã h ội, trong t ự nhiên. Tri th ứckhoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và b ộ môn khoa h ọc (discipline) nh ư: tri ếthọc, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,… Nghiên cứu khoa họcNghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, đi ều tra, ho ặc th ử nghi ệm. D ựa trênnhững số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghi ệm NCKH đ ể phát hi ện ra nh ữngcái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng t ạo ph ương pháp vàphương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH ph ải có ki ến th ứcnhất định về lãnh vực nghiên cứu và cái chính là ph ải rèn luyện cách làm vi ệc t ự l ực, có ph ươngpháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường. Đề tài nghiên cứu khoa họcKhái niệm đề tàiĐề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc m ột nhóm người th ực hi ện. M ột s ốhình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính ch ất nghiên c ứu khoa hoc, ch ẳnghạn như: Chương trình, dự án, đề án. Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH nầy như sau:* Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa đ ể ý đ ếnviệc ứng dụng trong hoạt động thực tế.* Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về kinh t ếvà xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực.* Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình c ấp quản lý cao h ơn, ho ặc gởi cho m ột c ơquan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành l ập m ột t ổ ch ức; tài tr ợ cho m ộthoạt động xã hội, … Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành nh ững d ự án, ch ương trình, đ ềtài theo yêu cầu của đề án.* Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định. Gi ữachúng có tính độc lập tương đối cao. Tiến độ thực hi ện đề tài, d ự án trong ch ương trình khôngnhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu* Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hi ện t ượng c ần xem xét và làm rõ trongnhiệm vụ nghiên cứu.* Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm vi nh ất đ ịnh v ềmặt thời gian, không gian và lãnh vực nghiên cứu.Mục đích và mục tiêu nghiên cứuKhi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được mục tiêu vàmục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lấp lẫn nhau. Vì vậy, cần thi ết để phân bi ệt sự khácnhau giữa mục đích và mục tiêu.* Mục đích: là hướng đến một điều gì hay m ột công vi ệc nào đó trong nghiên c ứu mà ng ườinghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có th ể đo l ường hay đ ịnhlượng. Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công vi ệc hay đi ều gì đó đ ược đ ưa ra trong nghiêncứu. Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ýnghĩa thực tiển của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.* Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên c ứu s ẽhoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên c ứu. Mục tiêu có th ể đo l ường hay đ ịnh l ượngđược. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm c ơ sở cho vi ệc đánh giákế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả ph ải đ ạt đ ược. M ục tiêu tr ả l ời câu h ỏi“làm cái gì?”.Thí dụ: phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây.Đề tài: “Ảnh hưởng của phân N đến năng suất lúa Hè thu trồng trên đất phù sa ven sông ở Đ ồngBằng Sông Cửu Long”.Mục đích của đề tài: Để tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa.Mục tiêu của đề tài:1. Tìm ra được liều lượng bón phân N tối hảo cho lúa Hè thu.2. Xác định được thời điểm và cách bón phân N thích hợp cho lúa Hè thu. Phương pháp khoa họcSummary: Đây là tài liệu về phương pháp khoa họcThế nào là “khái niệm”“Khái niệm” là quá trình nhận thức hay tư duy c ủa con người bắt đầu t ừ nh ững tri giác hay b ằngnhững quan sát sự vật hiện thực tác động vào giác quan. Như vậy, “khái ni ệm” có th ể hi ểu làhình thức tư duy của con người về những thuộc tính, bản chất c ủa sự v ật và m ối liên h ệ c ủanhững đặc tính đó với nhau. Người NCKH hình thành các “khái ni ệm” đ ể tìm hi ểu m ối quan h ệgiữa các “khái niệm” với nhau, để phân biệt sự vật này với sự vật khác và để đo lường thu ộctính bản chất của sự vật hay hình thành “khái niệm” nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận. Phán đoánTrong nghiên cứu, người ta thường vận dụng các khái ni ệm để phán đoán hay tiên đoán. Phánđoán là vận dụng các khái niệm để phân biệt, so sánh những đặc tính, bản chất của sự v ật và tìmmối liên hệ giữa đặc tính chung và đặc tính riêng của các sự vật đó.Suy luậnCó 2 cách suy luận: suy luận “suy diễn” và suy luận “qui nạp”Cách suy luận suy diễnTheo Aristotle, kiến thức đạt được nhờ sự suy luận. Mu ốn suy lu ận ph ải có ti ền đ ề và ti ền đ ềđó đã được chấp nhận. Vì vậy, một tiền đề có mối quan hệ với kết luận rất rõ ràng.Suy luận suy diễn theo Aristotle là suy luận đi từ cái chung t ới cái riêng, v ề m ối quan h ệ đ ặcbiệt. Thí dụ về suy luận suy diễn của Aristotle trong Bảng 2.1.Bảng 2.1 Thí dụ về suy luận suy diễn Tiền đề chính: Tất cả sinh viên đi học đều đặn Tiền đề phụ: Nam là sinh viên Kết luận: Nam đi học đều đặnSuy luận qui nạpVào đầu những năm 1600s, Francis Bacon đã đưa ra m ột phương pháp ti ếp c ận khác v ề ki ếnthức, khác với Aristotle. Ông ta cho rằng, để đạt đ ược ki ến th ức m ới ph ải đi t ừ thông tin riêngđể đến kết luận chung, phương pháp này gọi là phương pháp qui n ạp. Ph ương pháp n ầy chophép chúng ta dùng những tiền đề riêng, là những kiến thức đã được ch ấp nh ận, như là ph ươngtiện để đạt được kiến thức mới. Thí dụ về suy luận qui nạp trong Bảng 2.2.Bảng 2.2 Thí dụ về suy luận qui nạp Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm cao Kết luận: Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm caoNgày nay, các nhà nghiên cứu đã kết hợp hai phương pháp trên hay còn gọi là “ph ương pháp khoahọc” (Bảng 2.3). Phương pháp khoa học cần phải xác định tiền đ ề chính (gọi là gi ả thuy ết) vàsau đó phân tích các kiến thức có được (nghiên cứu riêng) một cách logic để kết luận giả thuyết.Bảng 2.3 Thí dụ về phương pháp khoa học * Tiền đề chính (giả thuyết): Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao * Tham dự lớp(nguyên nhân còn nghi ngờ): Nhóm 1: Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn Nhóm 2: Lan, Anh, Kiều và Vân không tham dự lớp đều đặn * Điểm(ảnh hưởng còn nghi ngờ): Nhóm 1: Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm 9 và 10 Nhóm 2: Lan, Anh, Kiều và Vân đạt được điểm 5 và 6 * Kết luận: Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao so với không tham d ự l ớpđều đặn (Vì vậy, tiền đề chính hoặc giả thiết được công nhận là đúng)Cấu trúc của phương pháp luận nghiên cứu khoa họcNghiên cứu khoa học phải sử dụng PPKH: bao gồm chọn phương pháp thích h ợp (lu ận ch ứng)để chứng minh mối quan hệ giữa các luận cứ và gi ữa toàn bộ luận cứ v ới lu ận đề; cách đặt gi ảthuyết hay phán đoán sử dụng các luận cứ và phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin(luận cứ) để xây dựng luận đề.Luận đềLuận đề trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều gì?” trong nghiên cứu. Luận đề là m ột “phánđoán” hay một “giả thuyết” cần được chứng minh. Thí dụ: Lúa được bón quá nhi ều phân N sẽ b ịđỗ ngã.Luận cứĐể chứng minh một luận đề thì nhà khoa học cần đưa ra các bằng ch ứng hay lu ận c ứ khoa h ọc.Luận cứ bao gồm thu thập các thông tin, tài liệu tham khảo; quan sát và th ực nghi ệm. Lu ận c ứtrả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cái gì?”. Các nhà khoa h ọc s ử d ụng lu ận c ứ làm c ơ s ở đ ểchứng minh một luận đề. Có hai loại luận cứ được sử dụng trong nghiên cứu khoa học: * Luận cứ lý thuyết: bao gồm các lý thuyết, luận điểm, tiền đề, định lý, đ ịnh lu ật, qui luật đãđược khoa học chứng minh và xác nhận là đúng. Luận c ứ lý thuyết cũng đ ược xem là c ơ s ở lýluận. * Luận cứ thực tiễn: dựa trên cơ sở số liệu thu thập, quan sát và làm thí nghiệm.Luận chứngĐể chứng minh một luận đề, nhà nghiên cứu khoa học phải đưa ra phương pháp để xác định mốiliên hệ giữa các luận cứ và giữa luận cứ với luận đề. Luận chứng trả lời câu h ỏi “Ch ứng minhbằng cách nào?”. Trong nghiên cứu khoa học, để chứng minh m ột luận đ ề, m ột gi ả thuy ết haysự tiên đoán thì nhà nghiên cứu sử dụng luận chứng, chẳng hạn kết hợp các phép suy lu ận, gi ữasuy luận suy diễn, suy luận qui nạp và loại suy. Một cách sử d ụng lu ận ch ứng khác, đó làphương pháp tiếp cận và thu thập thông tin làm luận cứ khoa học, thu thập số liệu thống kê trongthực nghiệm hay trong các loại nghiên cứu điều tra. Phương pháp khoa họcPhương pháp khoa học (PPKH). Những ngành khoa h ọc khác nhau cũng có th ể có nh ững PPKHkhác nhau. Ngành khoa học tự nhiên như vật lý, hoá học, nông nghi ệp sử d ụng PPKH th ựcnghiệm, như tiến hành bố trí thí nghiệm để thu thập số liệu, để giải thích và kết luận. Cònngành khoa học xã hội như nhân chủng học, kinh tế, lịch sử… sử dụng PPKH thu th ập thông tintừ sự quan sát, phỏng vấn hay điều tra. Tuy nhiên, PPKH có những b ước chung nh ư: Quan sát s ựvật hay hiện tượng, đặt vấn đề và lập giả thuyết, thu thập số liệu và dựa trên số lịệu đ ể rút rakết luận (Bảng 2.4). Nhưng vẫn có sự khác nhau về quá trình thu th ập s ố li ệu, x ử lý và phân tíchsố liệu.Bảng 2.4 Các bước cơ bản trong phương pháp khoa học Bước Nội dung 1 Quan sát sự vật, hiện tượng 2 Đặt vấn đề nghiên cứu 3 Đặt giả thuyết hay sự tiên đoán 4 Thu thập thông tin hay số liệu thí nghiệm 5 Kết luậnSummary: Vấn đề nghiên cứu khoa họcBản chất của quan sátTrước đây, con người dựa vào niềm tin để giải thích những gì th ấy đ ược xảy ra trong th ế gi ớixung quanh mà không có kiểm chứng hay thực nghiệm để chứng minh tính vững chắc c ủa nh ữngquan niệm, tư tưởng, học thuyết mà họ đưa ra. Ngoài ra, con người cũng không s ử d ụng ph ươngpháp khoa học để có câu trả lời cho câu hỏi. Thí dụ ở thời đại c ủa Aristotle (th ế k ỷ IV tr ướccông nguyên), con người (kể cả một số nhà khoa học) tin rằng: các sinh v ật đang sống có th ể t ựxuất hiện, các vật thể trơ (không có sự sống) có thể biến đổi thành v ật th ể hay sinh v ật s ống, vàcho rằng con trùn, bọ, ếch nhái,… xuất hiện từ bùn lầy, bụi đất khi ngập lũ xảy ra.Ngày nay, các nhà khoa học không ngừng quan sát, theo dõi s ự vật, hi ện t ượng, qui lu ật c ủa s ựvận động, mối quan hệ, … trong thế giới xung quanh và dựa vào ki ến th ức, kinh nghi ệm hay cácnghiên cứu có trước để khám phá, tìm ra kiến thức mới, giải thích các qui lu ật v ận đ ộng, m ốiquan hệ giữa các sự vật một cách khoa học. Bản chất của quan sát là c ảm giác đ ược c ảm nh ậnnhờ giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác, khướu giác và vị giác. Các giác quan n ầy giúp chonhà nghiên cứu phát hiện hay tìm ra “vấn đề” NCKH. Khi quan sát phải khách quan, không đ ượcchủ quan, vì quan sát chủ quan thường dựa trên các ý kiến cá nhân và ni ềm tin thì không thu ộclĩnh vực khoa học.Tóm lại, quan sát hiện tượng, sự vật là quá trình mà ý nghĩ hay suy nghĩ phát sinh tr ước cho b ướcđầu làm NCKH. Việc quan sát kết hợp với kiến thức có trước của nhà nghiên c ứu là c ơ s ở choviệc hình thành câu hỏi và đặt ra giả thuyết để nghiên cứu.“Vấn đề” nghiên cứu khoa họcĐặt câu hỏiBản chất của quan sát thường đặt ra những câu hỏi, từ đó đặt ra “vấn đ ề” nghiên c ứu cho nhàkhoa học và người nghiên cứu. Câu hỏi đặt ra phải đơn giản, c ụ thể, rõ ràng (xác đ ịnh gi ới h ạn,phạm vi nghiên cứu) và làm sao có thể thực hiện thí nghiệm để ki ểm ch ứng, tr ả l ời. Thí d ụ, câuhỏi: “Có bao nhiêu học sinh đến trường hôm nay?”. Câu tr ả lời đ ược th ực hi ện đ ơn gi ản b ằngcách đếm số lượng học sinh hiện diện ở trường. Nhưng m ột câu h ỏi khác đặt ra: “T ại sao b ạnđến trường hôm nay?”. Rõ ràng cho thấy rằng, trả lời câu hỏi này thực sự hơi khó thực hiện, thínghiệm khá phức tạp vì phải tiến hành điều tra học sinh.Cách đặt câu hỏi thường bắt đầu như sau: Làm thế nào, bao nhiêu, xảy ra ở đâu, nơi nào, khi nào,ai, tại sao, cái gì, …? Đặt câu hỏi hay đặt “vấn đề” nghiên cứu là c ơ sở giúp nhà khoa h ọc ch ọnchủ đề nghiên cứu (topic) thích hợp. Sau khi chọn chủ đề nghiên cứu, m ột công vi ệc r ất quantrọng trong phương pháp nghiên cứu là thu thập tài li ệu tham khảo (tùy theo lo ại nghiên c ứu màcó phương pháp thu thập thông tin khác nhau).Phân loại “vấn đề” nghiên cứu khoa họcSau khi đặt câu hỏi và “vấn đề” nghiên cứu khoa học đã được xác định, công vi ệc ti ếp theo c ầnbiết là “vấn đề” đó thuộc loại câu hỏi nào. Nhìn chung, “vấn đề” đ ược th ể hi ện trong 3 lo ại câuhỏi như sau:a/ Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm.b/ Câu hỏi thuộc loại quan niệm hay nhận thức.c/ Câu hỏi thuộc loại đánh giá.a/ Câu hỏi thuộc loại thực nghiệmCâu hỏi thuộc loại thực nghiệm là những câu hỏi có liên quan t ới các s ự ki ện đã x ảy ra ho ặc cácquá trình có mối quan hệ nhân-quả về thế giới của chúng ta. Để trả lời câu hỏi loại n ầy, chúngta cần phải tiến hành quan sát hoặc làm thí nghiệm; Ho ặc h ỏi các chuyên gia, hay nh ờ ng ười làmchuyên môn giúp đở. Câu hỏi thuộc loại nầy có trong các lãnh v ực như sinh h ọc, v ật lý, hóa h ọc,kinh tế, lịch sử,… Thí dụ: Cây lúa cần bao nhiêu phân N để phát tri ển t ốt? M ột s ố câu h ỏi có th ểkhông có câu trả lời nếu như không tiến hành thực nghiệm. Thí d ụ, loài ng ười có ti ến hóa t ừ cácđộng vật khác hay không? Câu hỏi này có thể được trả lời từ các NCKH nh ưng phải h ết s ức c ẩnthận, và chúng ta không có đủ cơ sở và hiểu biết để trả lời câu hỏi nầy. Tất cả các kết luận phảidựa trên độ tin cậy của số liệu thu thập trong quan sát và thí nghi ệm. Những suy nghĩ đ ơn gi ản,nhận thức không thể trả lời câu hỏi thuộc loại thực nghi ệm n ầy mà ch ỉ tr ả l ời cho các câu h ỏithuộc về loại quan niệm.b/ Câu hỏi thuộc loại quan niệm hay nhận thứcLoại câu hỏi này có thể được trả lời bằng những nhận thức m ột cách logic, ho ặc ch ỉ là nh ữngsuy nghĩ đơn giản cũng đủ để trả lời mà không cần tiến hành th ực nghi ệm hay quan sát. Thí d ụ“Tại sao cây trồng cần ánh sáng?”. Suy nghĩ đơn gi ản ở đây đ ược hi ểu là có s ự phân tích nh ậnthức và lý lẽ hay lý do, nghĩa là sử dụng các nguyên tắc, qui lu ật, pháp lý trong xã h ội và nh ữngcơ sở khoa học có trước. Cần chú ý sử dụng các qui luật, lu ật l ệ trong xã h ội đã đ ược áp d ụngmột cách ổn định và phù hợp với “vấn đề” nghiên cứu.c/ Câu hỏi thuộc loại đánh giáCâu hỏi thuộc lọai đánh giá là câu hỏi thể hiện giá trị và tiêu chu ẩn. Câu h ỏi này có liên quan t ớiviệc đánh giá các giá trị về đạo đức hoặc giá trị thẩm mỹ. Để tr ả lời các câu h ỏi lo ại n ầy, c ầnhiểu biết nét đặc trưng giữa giá trị thực chất và giá trị sử d ụng. Giá tr ị th ực ch ất là giá tr ị hi ệnhữu riêng của sự vật mà không lệ thuộc vào cách sử d ụng. Giá tr ị s ử d ụng là s ự v ật ch ỉ có giá tr ịkhi nó đáp ứng được nhu cầu sử dụng và nó bị đánh giá không còn giá tr ị khi nó không còn đápứng được nhu cầu sử dụng nữa. Thí dụ: “Thế nào là hạt gạo có chất lượng cao?”.Cách phát hiện “vấn đề” nghiên cứu khoa họcCác “vấn đề” nghiên cứu khoa học thường được hình thành trong các tình huống sau:* Quá trình nghiên cứu, đọc và thu thập tài liệu nghiên cứu giúp cho nhà khoa h ọc phát hi ện ho ặcnhận ra các “vấn đề” và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên c ứu (phát tri ển “v ấn đ ề” r ộng h ơn đ ểnghiên cứu). Đôi khi người nghiên cứu thấy một điều gì đó chưa rõ trong nh ững nghiên c ứutrước và muốn chứng minh lại. Đây là tình huống quan trọng nhất đ ể xác đ ịnh “v ấn đ ề” nghiêncứu.* Trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học, kỹ thuật, … đôi khi có nh ững b ất đ ồng, tranhcải và tranh luận khoa học đã giúp cho các nhà khoa h ọc nhận thấy đ ược nh ững m ặt y ếu, m ặthạn chế của “vấn đề” tranh cải và từ đó người nghiên cứu nhận định, phân tích l ại và ch ọn l ọcrút ra “vấn đề” cần nghiên cứu.* Trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người v ới t ự nhiên, qua ho ạt đ ộng th ựctế lao động sản xuất, yêu cầu kỹ thuật, mối quan hệ trong xã hội, cư xử, … làm cho con ng ườikhông ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những sản phẩm tốt h ơn nh ằm ph ục v ụ cho nhu c ầu đ ời s ốngcon người trong xã hội. Những hoạt động thực tế này đã đặt ra cho người nghiên c ứu các câu h ỏihay người nghiên cứu phát hiện ra các “vấn đề” cần nghiên cứu.* “Vấn đề” nghiên cứu cũng được hình thành qua những thông tin b ức xúc, l ời nói phàn nàn ngheđược qua các cuộc nói chuyện từ những người xung quanh mà ch ưa gi ải thích, gi ải quy ết đ ược“vấn đề” nào đó.* Các “vấn đề” hay các câu hỏi nghiên cứu chợt xuất hiện trong suy nghĩ c ủa các nhà khoa h ọc,các nhà nghiên cứu qua tình cờ quan sát các hiện tượng của tự nhiên, các ho ạt đ ộng xảy ra trongxã hội hàng ngày.* Tính tò mò của nhà khoa học về điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu.Summary: Đây là tài liệu về thu thập tài liệu và đặt giả thuyếtTài liệuMục đích thu thập tài liệuThu thập và nghiên cứu tài liệu là một công việc quan trọng cần thi ết cho b ất kỳ ho ạt đ ộngnghiên cứu khoa học nào. Các nhà nghiên cứu khoa học luôn đ ọc và tra c ứu tài li ệu có tr ước đ ểlàm nền tảng cho NCKH. Đây là nguồn kiến thức quí giá được tích lũy qua quá trình nghiên c ứumang tính lịch sử lâu dài. Vì vậy, mục đích của việc thu thập và nghiên cứu tài liệu nhằm: * Giúp cho người nghiên cứu nắm được phương pháp c ủa các nghiên c ứu đã th ực hi ện tr ướcđây. * Làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình. * Giúp người nghiên cứu có phương pháp luận hay luận cứ chặt chẻ hơn. * Có thêm kiến thức rộng, sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu. * Tránh trùng lập với các nghiên cứu trước đây, vì vậy đở mất thời gian, công sức và tài chánh. * Giúp người nghiên cứu xây dựng luận cứ (bằng chứng) để chứng minh giả thuyết NCKH.Phân loại tài liệu nghiên cứuPhân loại tài liệu để giúp cho người nghiên cứu chọn lọc, đánh giá và sử d ụng tài li ệu đúng v ớilãnh vực chuyên môn hay đối tượng muốn nghiên cứu. Có th ể chia ra 2 lo ại tài li ệu: tài s ơ c ấp(hay tài liệu liệu gốc) và tài liệu thứ cấp.Tài liệu sơ cấpTài liệu sơ cấp là tài liệu mà người nghiên c ứu tự thu thập, ph ỏng vấn tr ực ti ếp, ho ặc ngu ồn tàiliệu cơ bản, còn ít hoặc chưa được chú giải. Một số vấn đề nghiên cứu có rất ít tài li ệu, vì v ậycần phải điều tra để tìm và khám phá ra các nguồn tài liệu chưa được bi ết. Người nghiên c ứucần phải tổ chức, thiết lập phương pháp để ghi chép, thu thập số liệu.Tài liệu thứ cấpLoại tài liệu nầy có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã được phân tích, gi ải thích và thảo lu ận, di ễngiải. Các nguồn tài liệu thứ cấp như: Sách giáo khoa, báo chí, bài báo, tập san chuyên đề, tạp chí,biên bản hội nghị, báo cáo khoa học, internet, sách tham khảo, luận văn, lu ận án, thông tin th ốngkê, hình ảnh, video, băng cassette, tài liệu-văn thư, bản thảo viết tay, …Nguồn thu thập tài liệuThông tin thu thập để làm nghiên cứu được tìm thấy từ các nguồn tài liệu sau: * Luận cứ khoa học, định lý, qui luật, định luật, khái niệm,… có thể thu thập được từ sáchgiáo khoa, tài liệu chuyên nghành, sách chuyên khảo, … * Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong t ạp chí khoa h ọc, t ậpsan, báo cáo chuyên đề khoa học, …. * Số liệu thống kê được thu thập từ các Niên Giám Th ống Kê: Chi c ục th ống kê, T ổng c ụcthống kê, …. * Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách, … thu th ập t ừ các c ơ quanquản lý Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội. * Thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, … mang tính đại chúng cũng đ ược thu th ập,và được xử lý để làm luận cứ khoa học chứng minh cho vấn đề khoa học. Giả thuyếtĐịnh nghĩa giả thuyếtGiả thuyết là câu trả lời ướm thử hoặc là sự tiên đoán để trả lời cho câu hỏi hay “vấn đ ề”nghiên cứu. Chú ý: giả thuyết không phải là sự quan sát, mô tả hiện tượng sự v ật, mà ph ải đ ượckiểm chứng bằng các cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm.Các đặc tính của giả thuyếtGiả thuyết có những đặc tính sau: * Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay trong suốt quá trình nghiên cứu. * Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết. * Giả thuyết càng đơn giản càng tốt.

Xem thêm: Mẫu Sơ Yếu Lý Lịch Tự Thuật 8 Trang, Sơ Yếu Lý Lịch Tự Thuật 8 Trang

Xem thêm: Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục, Tailieuxanh

* Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi.Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau: * Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin. * Phải có mối quan hệ nhân – quả. * Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu.Mối quan hệ giữa giả thuyết và “vấn đề” khoa họcSau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên c ứu hình thành ýtưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề chưa biết (đ ặt gi ả thuyết). Ýtưởng khoa học nầy còn gọi là sự tiên đoán khoa học hay gi ả thuyết giúp cho người nghiên c ứucó động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận tới m ục tiêu cần nghiên c ứu. Trên c ơ s ở nh ững quan sátbước đầu, những tình huống đặt ra (câu hỏi hay vấn đ ề), nh ững c ơ s ở lý thuy ết (tham kh ảo tàiliệu, kiến thức đã có,…), sự tiên đoán và những dự kiến ti ến hành thực nghi ệm sẽ giúp chongười nghiên cứu hình thành một cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết khoa học.Thí dụ, khi quan sát thấy hiện tượng xoài rụng trái, một câu h ỏi đ ược đặt ra là làm th ế nào đ ểgiảm hiện tượng rụng trái nầy (vấn đề nghiên cứu). Người nghiên c ứu sẽ xây d ựng gi ả thuy ếtdựa trên cơ sở các hiểu biết, nghiên cứu tài liệu, … như sau: Nếu giả thuyết cho rằng NAA làmtăng sự đậu trái xoài Cát Hòa Lộc. Bởi vì NAA gi ống nh ư kích thích t ố Auxin n ội sinh, là ch ất cóvai trò sinh lý trong cây giúp tăng sự đậu trái, làm giảm hàm l ượng ABA hay gi ảm s ự t ạo t ầngrời. NAA đã làm tăng đậu trái trên một số loài cây ăn trái như xoài Châu Hạng Võ, nhãn …, v ậythì việc phun NAA sẽ giúp cây xoài Cát Hòa Lộc đậu trái nhiều hơn so với cây không phun NAA.Cấu trúc của một “giả thuyết”Cấu trúc có mối quan hệ “nhân-quả”Cần phân biệt cấu trúc của một “giả thuyết” với một số câu nói khác không phải là gi ả thuyết.Thí dụ: khi nói: “Cây trồng thay đổi màu sắc khi gặp lạnh” hoặc “Tia ánh sáng cực tím gây ra đ ộtbiến”, câu này như là một câu kết luận, không phải là câu giả thuyết.Đôi khi giả thuyết đặt ra không thể hiện mối quan hệ ướm thử và không th ể th ực hi ện thínghiệm để chứng minh. Thí dụ: “tôi chơi vé số, vậy thì tôi s ẽ giàu” ho ặc “n ếu tôi gi ữ ấm menbia, vậy thì nhiều hơi gas sẽ sinh ra”.Cấu trúc của một giả thuyết có chứa quá nhiều “biến quan sát” và chúng có m ối quan h ệ v ớinhau. Khi làm thay đổi một biến nào đó, kết quả sẽ làm thay đổi biến còn l ại. Thí d ụ: Cây tr ồngquang hợp tốt sẽ cho năng suất cao. Có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng quang h ợpcủa câyMột cấu trúc “giả thuyết” tốt phải chứa đựng “mối quan hệ nhân-quả” và thường sử dụng từướm thử “có thể”.Thí dụ: giả thuyết “Phân bón có thể làm gia tăng sự sinh tr ưởng hay năng su ất cây tr ồng”. M ốiquan hệ trong giả thuyết là ảnh hưởng quan hệ giữa phân bón và sự sinh trưởng ho ặc năng su ấtcây trồng, còn nguyên nhân là phân bón và kết quả là sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng.Cấu trúc “Nếu-vậy thì”Một cấu trúc khác của giả thuyết “Nếu-vậy thì” cũng thường được sử d ụng đ ể đ ặt gi ả thuy ếtnhư sau:“Nếu” (hệ quả hoặc nguyên nhân) … có liên quan tới (nguyên nhân hoặc hệ qu ả) …, “Vậy thì”nguyên nhân đó có thể hay ảnh hưởng đến hệ quả.Thí dụ: “Nếu vỏ hạt đậu có liên quan tới sự nẩy mầm, vậy thì hạt đậu có v ỏ nhăn có th ể khôngnẩy mầm”.Một số nhà khoa học đặt cấu trúc này như là sự tiên đoán và d ựa trên đó đ ể xây d ựng thí nghi ệmkiểm chứng giả thuyết. Thí dụ: Nếu dưỡng chất N có ảnh hưởng đến sự sinh tr ưởng c ủa lúa,vậy thì bón phân N có thể làm gia tăng năng suất lúa.Cách đặt giả thuyếtĐiều quan trọng trong cách đặt giả thuyết là phải đặt như thế nào đ ể có th ể th ực hi ện thínghiệm kiểm chứng “đúng” hay “sai” giả thuyết đó. Vì vậy, trong việc xây d ựng m ột gi ả thuyếtcần trả lời các câu hỏi sau: 1. Giả thuyết nầy có thể tiến hành thực nghiệm được không? 2. Các biến hay các yếu tố nào cần được nghiên cứu? 3. Phương pháp thí nghiệm nào (trong phòng, khảo sát, điều tra, bảng câu h ỏi, ph ỏng v ấn, …)được sử dụng trong nghiên cứu? 4. Các chỉ tiêu nào cần đo đạt trong suốt thí nghiệm? 5. Phương pháp xử lý số liệu nào mà người nghiên c ứu dùng đ ể bác b ỏ hay ch ấp nh ận gi ảthuyết?Một giả thuyết hợp lý cần có các đặc điểm chính sau đây: * Giả thuyết đặt ra phải phù hợp và dựa trên quan sát hay c ơ sở lý thuyết hi ện t ại (ki ến th ứcvốn có, nguyên lý, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu tương tự tr ước đây, ho ặc d ựa vào ngu ồn tàiliệu tham khảo), nhưng ý tưởng trong giả thuyết là phần lý thuyết chưa được chấp nhận. * Giả thuyết đặt ra có thể làm sự tiên đoán để thể hiện khả năng đúng hay sai (thí d ụ, m ột t ỷlệ cao những người hút thuốc lá bị chết do ung thư phổi khi so sánh v ới những ng ười không hútthuốc lá. Điều này có thể tiên đoán qua kiểm nghiệm). * Giả thuyết đặt ra có thể làm thí nghiệm để thu thập số liệu, để kiểm chứng hay ch ứng minhgiả thuyết (đúng hay sai).Tóm lại, giả thuyết đặt ra dựa trên sự quan sát, kiến thức vốn có, các nguyên lý, kinh nghi ệmtrước đây hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu tương t ự tr ước đây đ ểphát triển nguyên lý chung hay bằng chứng để giải thích, chứng minh câu h ỏi nghiên c ứu. Xét v ềbản chất logic, giả thuyết được đặt ra từ việc xem xét bản chất riêng, chung c ủa s ự v ật và m ốiquan hệ của chúng hay gọi là quá trình suy luận. Quá trình suy lu ận là c ơ s ở hình thành gi ảthuyết khoa học.Thí dụ: khi quan sát sự nẩy mầm của các hạt đậu ho ặc dựa trên các tài li ệu nghiên c ứu khoa h ọcngười nghiên cứu nhận thấy ở hạt đậu bình thường, hạt no, vỏ hạt bóng láng thì nẩy mầm tốt vàđều (đây là một kết quả được biết qua lý thuyết, tài liệu nghiên c ứu trước đây,…). Nh ư vậy,người nghiên cứu có thể suy luận để đặt ra câu hỏi đ ối v ới các h ạt đ ậu có v ỏ b ị nhăn nheo thìnẩy mầm như thế nào? (Đây là câu hỏi). Gi ả thuyết được đặt ra là “N ếu s ự n ẩy m ầm c ủa h ạtđậu có liên quan tới vỏ hạt, vậy thì hạt đậu có vỏ nhăn có th ể không n ẩy m ầm”. Đây là m ột gi ảthuyết mà có thể dễ dàng làm thí nghiệm để kiểm chứng.Kiểm chứng giả thuyết qua so sánh giữa tiên đoán với kết quả thí nghiệmBên cạnh việc kiểm nghiệm, một yếu tố quan trọng là đánh giá sự tiên đoán. Nếu như sự tiênđoán được tìm thấy là không đúng (dựa trên kết quả hay bằng ch ứng thí nghi ệm), ng ười nghiêncứu kết luận rằng giả thuyết (một phần giả thuyết) “sai” (nghĩa là bác b ỏ hay ch ứng minh gi ảthuyết sai). Khi sự tiên đoán là đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thí nghi ệm), k ết lu ận gi ảthuyết là “đúng”.Thường thì các nhà khoa học vận dụng kiến thức để tiên đoán m ối quan h ệ gi ữa bi ến đ ộc l ập vàbiến phụ thuộc. Thí dụ: giả thuyết đặt ra trên sự tiên đoán là “Nếu gia tăng phân bón, làm giatăng năng suất, vậy thì các cây đậu được bón phân nhi ều h ơn sẽ cho năng su ất cao h ơn”. N ếu s ựtiên đoán không dựa vào kiến thức khoa học, tài liệu nghiên cứu đã làm tr ước đây thì s ự tiên đoáncó thể vượt ra ngoài kết quả mong muốn như thí dụ ở Hình 4.1: Đáp ứng của năng su ất theo li ềulượng phân N cung cấp ở cây đậu.Hình 1Năng suất (t/ha)Hình 4.1. Năng suất đậu theo lượng N bón (không dựa trên kiến thức khoa học hay thực nghiệm)Rõ ràng trong thực tế cho thấy, năng suất chỉ có thể gia tăng đ ến m ột m ức đ ộ cung c ấp phân Nnào đó (Hình 4.2). Để xác định mức độ phân N cung cấp cho năng su ất cao nhất (g ần chính xác),thì nhà nghiên cứu cần có hiểu biết về “qui luật cung c ấp dinh d ưỡng” và m ột s ố tài li ệu nghiêncứu trước đây về phân bón,… từ đó sẽ đưa ra một vài mức độ có thể để kiểm chứng.Năng suất (t/ha)Hình 4.2. Sự đáp ứng năng suất theo cung cấp phân bón N Phương pháp thu thập số liệuModule by: PGS.TS. Nguyễn Bảo Vệ, ThS. Nguyễn Huy TàiSummary: Thu thập số liệu thí nghiệm là một công việc quan trọng trong NCKH. M ục đích c ủathu thập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có tr ước, t ừ quan sát và th ực hi ện thínghiệm) là để làm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh gi ả thuyết hay tìm ra vấn đềcần nghiên cứu.Có 3 phương pháp thu thập số liệu:a) Thu thập số liệu bằng cách tham khảo tài liệu.b) Thu thập số liệu từ những thực nghiệm (các thí nghiệm trong phòng, thí nghi ệm ngoài đ ồng,…).c) Thu thập số liệu phi thực nghiệm (lập bảng câu hỏi điều tra).Phương pháp thu thập số liệu từ tham khảo tài liệuPhương pháp nầy là dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ c ấp thu thập đ ược từ những tài li ệunghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ để chứng minh gi ả thuyết. Thí d ụ, đ ể ch ứngminh giả thuyết “không thể loại bỏ cây bạch đàn ra khỏi c ơ cấu cây trồng r ừng”, người ta đãdựa vào những nghiên cứu có trước như sau (Vũ Cao Đàm, 2003): * Kết quả nghiên cứu tại Nga cho thấy, chỉ trong 15 năm bạch đàn có s ức tăng tr ưởng chi ềucao gấp 5 lần so với cây dẻ và 10 lần so với cây sồi; * Sản lượng bạch đàn trên 1 ha hàng năm rất cao, tới 20 đến 25 m3/ha/năm, trong khi cây m ỡchỉ đạt 15-20 m3/ha/năm và cây bồ đề là 10-15 m3/ha/năm; * Theo thống kê của FAO, từ năm 1.744 đến 1.975 đã có hơn 100 n ước nhập khẩu b ạch đàn,trong đó có 78 nước đã trồng rừng bạch đàn thành rừng kinh tế có sản lượng cao với qui mô lớn.Phương pháp thu thập số liệu từ những thực nghiệmKhái niệmTrong phương pháp nầy, số liệu được thực hiện bằng cách quan sát, theo dõi, đo đạc qua các thínghiệm. Các thí nghiệm trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, vật lý, hóa h ọc, k ỹ thu ật, nông nghi ệp,kể cả xã hội thường được thực hiện trong phòng thí nghiệm, nhà lưới, ngoài đ ồng và c ộng đ ồngxã hội. Để thu thập số liệu, các nhà NCKH thường đặt ra các biến để quan sát và đo đạc (thuthập số liệu). Các nghiệm thức trong thí nghiệm (có những m ức đ ộ khác nhau) th ường đ ược l ặplại để làm giảm sai số trong thu thập số liệu.Ví dụ: Người nghiên cứu muốn xem xét những mức độ phân bón (hay còn gọi nghi ệm th ức phânbón) nào đó để làm tăng năng suất, trong cách bố trí thí nghiệm thì m ỗi mức đ ộ phân bón th ườngđược lặp lại nhiều lần. Kết quả thí nghiệm là các số liệu được đo từ các ch ỉ tiêu sinh tr ưởng vànăng suất ở những mức độ phân bón khác nhau.Phương pháp khoa học trong thực nghiệm gồm các bước như: lập gi ả thuyết, xác đ ịnh bi ến, b ốtrí thí nghiệm, thu thập số liệu để kiểm chứng giả thuyết.Định nghĩa các loại biến trong thí nghiệmTrong nghiên cứu thực nghiệm, có 2 lo ại bi ến thường gặp trong thí nghi ệm, đó là bi ến đ ộc l ập(independent variable) và biến phụ thuộc (dependent variable). * Biến độc lập (còn gọi là nghiệm thức): là các yếu t ố, đi ều ki ện khi b ị thay đ ổi trên đ ốitượng nghiên cứu sẽ ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm. Như vậy, đối tượng nghiên c ứu ch ứamột hoặc nhiều yếu tố, điều kiện thay đổi. Nói cách khác k ết qu ả s ố li ệu c ủa bi ến ph ụ thu ộcthu thập được thay đổi theo biến độc lập.Thí dụ:Biến độc lập có thể là liều lượng phân bón, lo ại phân bón, l ượng n ước t ưới, th ời gian chi ếusáng khác nhau,… (hay còn gọi là các nghiệm thức khác nhau).Trong biến độc lập, thường có một mức độ đối chứng hay nghiệm thức đối chứng (chứa các yếutố, điều kiện ở mức độ thông thường) hoặc nghiệm thức đã được xác đ ịnh mà người nghiên c ứukhông cần tiên đoán ảnh hưởng của chúng. Các nghiệm thức còn lại sẽ được so sánh với nghi ệmthức đối chứng hoặc so sánh giữa các cặp nghiệm thức với nhau . * Biến phụ thuộc (còn gọi là chỉ tiêu thu thập): là nh ững ch ỉ tiêu đo đ ạc và b ị ảnh h ưởng trongsuốt quá trình thí nghiệm, hay có thể nói kết quả đo đ ạc ph ụ thu ộc vào s ự thay đ ổi c ủa bi ến đ ộclập. Thí dụ: khi nghiên cứu sự sinh trưởng c ủa cây mía, các bi ến ph ụ thu ộc ở đây có th ể baogồm: chiều cao cây, số lá, trọng lượng cây,… và kết quả đo đ ạc c ủa bi ến ph ụ thu ộc ở cácnghiệm thức khác nhau có thể khác nhau.Thí dụ:Đề tài: “Ảnh hưởng của liều lượng phân N trên năng suất lúa Hè Thu” có các biến như sau:+ Biến độc lập: liều lượng phân N bón cho lúa khác nhau. Các nghi ệm thức trong thí nghi ệm cóthể là 0, 20, 40, 60 và 80 kgN/ha. Trong đó nghiệm thức “đối chứng” không bón phân N.+ Biến phụ thuộc: có thể là số bông/m2, hạt chắt/bông, trọng lượng hạt và năng suất hạt (t/ha).Xác định các biến trong thí nghiệm dựa trên mối quan hệ “nhân-quả” của giả thuyếtKết quả quan sát lệ thuộc vào nguyên nhân gây ảnh hưởng. Dựa vào m ối quan hệ trong gi ảthuyết đặt ra, người nghiên cứu dễ dàng xác định được yếu tố nào ảnh h ưởng đến s ự ki ện quansát. Thí dụ, “Ảnh hưởng của nồng độ NAA trên sự đậu trái của xoài Cát Hòa Lộc”. Ở đây, t ỷ l ệđậu trái (kết quả) khác nhau là do ảnh hưởng của các n ồng độ NAA (nguyên nhân) khác nhau.Như vậy, biến độc lập là biến mà người nghiên cứu có ý định làm thay đổi (n ồng đ ộ NAA khácnhau) và biến phụ thuộc ở đây là sự đậu trái hay tỷ lệ rụng trái ở các nghi ệm th ức có n ồng đ ộNAA khác nhau.Bố trí thí nghiệm để thu thập số liệu nghiên cứuĐối tượng khảo sátĐể chọn đối tượng khảo sát trong thí nghiệm, công vi ệc đầu tiên là phải xác đ ịnh qu ần th ể(population) mà người nghiên cứu muốn đo đạc để thu th ập k ết qu ả. M ột qu ần th ể bao g ồmnhiều cá thể mang các thành phần và đặc điểm khác nhau mà ta mu ốn kh ảo sát. Đ ối t ượng kh ảosát thường được chia làm hai nhóm:a) Nhóm khảo sát: đối tượng được đặt ra trong giả thuyết.b) Nhóm đối chứng: so sánh với nhóm khảo sát.Khung mẫu (sample frame)Để bố trí và thu thập số liệu thí nghiệm nghiên cứu thì công vi ệc tr ước tiên là thi ết l ập khungmẫu. Khung mẫu cần xác định các cá thể trong quần thể mục tiêu (target population), c ỡ m ẫu vàphương pháp lấy mẫu.Trong trường hợp thiết lập khung mẫu sai thì mẫu chọn sẽ không đại di ện cho quần thể mụctiêu và số liệu thu thập sẽ không đại diện cho quần thể. Có ba trường hợp tạo ra khung mẫu sai: * Khung mẫu chứa quá nhiều cá thể, mà trong đó có cá th ể không n ằm trong qu ần th ể m ụctiêu. * Khung mẫu chứa quá ít cá thể, mà trong đó có cá thể nằm và không nằm trong quần thể mụctiêu. * Khung mẫu chứa tập hợp các cá thể không đúng hay khung mẫu không n ằm trong qu ần th ểmục tiêu.Hai giai đoạn tạo khung mẫu: 1. Xác định các cá thể trong quần thể mục tiêu và cỡ mẫu. Thí d ụ, c ỡ m ẫu c ủa 100 h ộ gia đìnhở thành phố và 150 gia đình ở nông thôn. 2. Chọn phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hoặc không ngẫu nhiên. Thí d ụ: trong nghiên c ứuđiều tra, mẫu ngẫu nhiên thì vị trí chọn mẫu có thể dựa vào bản đồ ranh gi ới gi ữa các vùng, l ậpdanh sách hộ gia đình theo số nhà, danh bạ điện thoại n ếu có, … sau đó ch ọn ph ương pháp l ấymẫu.Phương pháp lấy mẫuTrước khi đi vào chi tiết về phương pháp lấy m ẫu, c ần hi ểu các đ ịnh nghĩa có liên quan đ ếnphương pháp, trình bày trong Bảng 5.1.Bảng 5.1 Các định nghĩa có liên quan đến phương pháp lấy mẫu Quần thể (population) Một tập hợp các đối tượng khảo sát (người, cá thể, nhân v ật, sinh vật,…) và ch ứacác đặc tính cần nghiên cứu hay khảo sát. Quần thể mục tiêu(target population) Mang đặc tính nào đó và được đánh giá qua mẫu; hoặc mang các đặc tính c ầnnghiên cứu và đại diện cho toàn quần thể. Thí dụ, khi nghiên c ứu về vi ệc sử dụng các bếp lònấu ăn, thì quần thể mục tiêu hầu hết là người phụ nữ. Mẫu (sample) Một phần hoặc tập hợp nhỏ cá thể của quần thể mục tiêu được chọn đại diệncho quần thể để khảo sát nghiên cứu. Mẫu không xác suất (non-probability sample) Phương pháp trong đó việc chọn mẫu không có xác suất đồng đ ều hay các cá th ểtrong quần thể không có cơ hội được chọn như nhau. Mẫu xác suất (probability sample) Phương pháp chọn mẫu trong đó mỗi cá thể có một xác su ất đặc tr ưng c ủa m ẫuvà thường bằng nhau. Hầu hết việc lấy mẫu xác suất sử dụng cách lấy mẫu ngẫu nhiên đ ể tạora mỗi cá thể trong quần thể có cơ hội được chọn như nhau.Mục đích của tất cả các phương pháp lấy mẫu là đạt được m ẫu đại di ện cho c ả qu ần th ểnghiên cứu. Khi chọn phương pháp lấy mẫu thì cần hiểu rõ các đặc tính c ủa qu ần th ể nghiêncứu để xác định cỡ mẫu quan sát đại diện và để đánh giá tương đối chính xác quần thể.Trong nghiên cứu, không thể quan sát hết toàn bộ các cá thể trong qu ần th ể, mà ch ỉ ch ọn m ột s ốlượng đủ các cá thể đại diện hay còn gọi là m ẫu thí nghi ệm. Ph ương pháp ch ọn m ẫu thí nghi ệmrất quan trọng, bởi vì có liên quan tới sự biến động hay đ ộ đ ồng đ ều c ủa m ẫu. Có hai ph ươngpháp chọn mẫu: (1) Chọn mẫu không xác suất (không chú ý t ới đ ộ đ ồng đ ều) và (2) ch ọn m ẫuxác suất (đề cập tới độ đồng đều).* Chọn mẫu không có xác suấtPhương pháp chọn mẫu không xác suất là cách lấy mẫu trong đó các cá th ể c ủa m ẫu đ ược ch ọnkhông ngẫu nhiên hay không có xác suất lựa chọn giống nhau. Điều này thể hiện trong cách ch ọnmẫu như sau: * Các đơn vị mẫu được tự lựa chọn mà không có phương pháp. * Các đơn vị mẫu rất dễ dàng đạt được hoặc dễ dàng ti ếp c ận. Thí d ụ ch ọn nh ững h ộ trênnhững con đường dễ đi. * Các đơn vị mẫu được chọn theo lý do kinh tế, thí dụ trả tiền cho sự tham dự. * Các đơn vị mẫu được quan tâm bởi người nghiên cứu trong cách “đi ển hình” c ủa qu ần th ểmục tiêu. Thí dụ người nghiên cứu chỉ quan tâm đến các nhân vật đi ển hình trong qu ần th ểnghiên cứu, để so sánh với các nhân vật khác. * Các đơn vị mẫu được chọn mà không có sự thi ết kế rõ ràng (thí d ụ: ch ọn 50 ng ười đ ầu tiênđến buổi sáng).Phương pháp chọn mẫu không có xác suất thường có độ tin c ậy th ấp. M ức đ ộ chính xác c ủacách chọn mẫu không xác suất tùy thuộc vào sự phán đoán, cách nhìn, kinh nghi ệm c ủa ng ườinghiên cứu, sự may mắn hoặc dễ dàng và không có cơ sở thống kê trong việc chọn mẫu.* Chọn mẫu xác suấtCơ bản của việc chọn mẫu xác suất là cách lấy mẫu trong đó việc chọn các cá th ể c ủa m ẫu saocho mỗi cá thể có cơ hội lựa chọn như nhau, n ếu như có m ột s ố cá th ể có c ơ h ội xu ất hi ệnnhiều hơn thì sự lựa chọn không phải là ngẫu nhiên. Đ ể t ối ưu hóa m ức đ ộ chính xác, ng ườinghiên cứu thường sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên.* Các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên- Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản (simple random)Cách đơn giản nhất của việc chọn các cá thể của mẫu trong cách chọn mẫu ngẫu nhiên là s ửdụng xác suất. Việc lựa chọn n các cá thể từ một quần thể sao cho các cá thể có c ơ h ội b ằngnhau hay một xác suất bằng nhau trong phương pháp nầy. Thí dụ: Một trường học có 1.000 sinhviên, người nghiên cứu muốn chọn ra 100 sinh viên để nghiên c ứu v ề tình tr ạng s ức kh ỏe trongsố 1.000 sinh viên. Theo cách chọn mẫu đơn giản thì chỉ c ần vi ết tên 1.000 sinh viên vào trongmẫu giấy nhỏ, sau đó bỏ tất cả vào trong một cái thùng và r ồi rút ng ẫu nhiên ra 100 m ẫu gi ấy.Như vậy, mỗi sinh viên có một cơ hội lựa chọn như nhau và xác suất ch ọn ngẫu nhiên m ột sinhviên trên dễ dàng được tính. Thí dụ trên ta có quần thể N = 1.000 sinh viên và c ỡ m ẫu n = 100sinh viên. Như vậy, sinh viên của trường được chọn trong cách lấy m ẫu ngẫu nhiên s ẽ có xácsuất là n/(N x 100) hay 100/(1000 x 100) = 10%.Một cách chọn mẫu ngẫu nhiên khác là sử dụng bảng số ngẫu nhiên trong sách th ống kê phép thínghiệm hoặc cách chọn số ngẫu nhiên bằng các chương trình thống kê trên máy tính.Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trong các thí nghiệm lấy m ẫu trong th ực t ế đ ược th ể hi ệntrong hình 5.1.Hình 1Hình 5.1 Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trong thực tế- Chọn mẫu phân lớp (stratified samples)Chọn mẫu phân lớp được thực hiện khi quần thể m ục tiêu đ ược chia thành các nhóm hay phânlớp. Trong phương pháp lấy mẫu phân lớp, tổng quần thể (N) đầu tiên được chia ra thành L l ớpcủa các quần thể phụ N1, N2 … NL, như vậy:Hình 2Để áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân lớp thì trước tiên người nghiên cứu c ần n ắm các thông tinvà các số liệu nghiên cứu trước đây có liên quan đến cách lấy mẫu phân lớp. Sau đó, ngườinghiên cứu sẽ xác định cỡ mẫu và chọn ngẫu nhiên các cá thể trong mỗi lớp.Thí dụ: khi nghiên cứu về mức độ giàu nghèo c ủa m ột vùng nghiên c ứu có 4 huy ện (4 phân l ớp),mỗi huyện có số hộ gia đình khác nhau được biết trong Bảng 5.2. Người nghiên c ứu mu ốn th ựchiện 200 cuộc phỏng vấn hộ gia đình trong vùng nghiên cứu, như vậy c ỡ mẫu của m ỗi huyện sẽđược tính theo tỷ lệ phần trăm trong Bảng 5.2 như sau:Bảng 5.2 Thí dụ về cách chọn mẫu phân lớp Huyện Số hộ trong mỗi lớp Tỷ lệ hộ trong mỗi lớp (%) Cỡ mẫu phỏng vấn ỡ mỗi lớp A 250 25 50 B 150 15 30 C 400 40 80 D 200 20 40 1000 100 200Nếu như số hộ của 4 huyện gần như nhau, người nghiên c ứu ch ỉ c ần ch ọn 50 cu ộc ph ỏng v ấntrong mỗi huyện và sau đó chọn mẫu ngẫu nhiên trong mỗi lớp.Cũng trong nghiên cứu trên, nếu người nghiên c ứu không phân chia các huy ện ra thành các l ớp,thì phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phỏng vấn hộ gia đình trong vùng nghiên c ứu s ẽ sai và s ốliệu thu thập sẽ không đại diện cho vùng nghiên cứu, do mẫu có thể tập trung ở m ột huyện nàođó.Một số nghiên cứu thường được chia lớp trong quần thể mục tiêu gồm: * Phân lớp quần thể mục tiêu là các thành phố, tỉnh, huyện; * phân lớp theo vùng sinh thái khác nhau; * phân lớp quần thể mục tiêu là các hộ gia đình theo mức độ giàu nghèo, trình độ học vấn, …; *…Trong phương pháp chọn mẫu phân lớp, các quần thể phụ là các vùng chia ph ụ hay các lô đ ượcchia trong Hình 5.2 khi đã xác định các yếu tố nh ư lo ại đất, d ạng đ ời s ống th ực v ật ho ặc d ạngđịa hình, … Các điểm được chọn ngẫu nhiên trong mỗi vùng phụ được thể hiện trong Hình 5.2.Hình 3Hình 5.2 Phương pháp chọn mẫu phân lớp- Chọn mẫu hệ thống (systematic samples)Đôi khi cách chọn đơn vị mẫu ngẫu nhiên không tốt hơn cách ch ọn m ẫu h ệ th ống. Trong ch ọnmẫu hệ thống, cỡ mẫu n được chọn (có phương pháp tính xác suất tương tự) từ một quần thể N.Cách lấy mẫu hệ thống là khung mẫu giống như là 1 “hàng” của các đ ơn v ị m ẫu, và m ẫu nh ư làmột chuổi liên tiếp của các điểm số có khoảng cách bằng nhau theo hàng dọc.Thí dụ chọn mẫu hệ thống như sau: muốn nghiên cứu 1 thành viên trong m ỗi nhóm có 10 cá th ể,quần thể có 10 nhóm (tổng cá thể của quần thể là 100), đánh số cá th ể t ừ 1-100. Lúc này nhóm 1được đánh số từ 1-10; nhóm 2 từ 11-20; nhóm 3 từ 21-30; …nhóm 10 từ 91-100.Trước tiên cần sắp xếp thứ tự các đơn vị mẫu (thí dụ theo th ứ t ự gia tăng trong tr ường h ợp này).Sau đó chọn điểm đầu tiên bất kỳ có giá trị lý do khách du lịch tới Cần thơ như sau: 60% với lý do đi nghĩ mát, vui ch ơi; 20% lý do thăm b ạnbè, gia đình; 15% lý do kinh doanh và 5% lý do hội họp. Người nghiên c ứu d ự tính c ỡ m ẫu mu ốnphỏng vấn 500 khách du lịch, và chọn những nơi có nhiều khách du l ịch nh ư khách s ạn, n ơi h ộihọp, khu vui chơi giải trí,… Như vậy tỷ lệ mẫu để muốn phỏng vấn đạt được cho mỗi lý do(chỉ tiêu) nêu trên sẽ tương ứng tỷ lệ là 300, 100, 75 và 25 khách du l ịch. N ếu nh ư ch ỉ tiêu 300khách du lịch đến với lý do vui chơi, giải trí được trả lời chưa đủ thì ph ải ti ếp t ục ph ỏng v ấncho tới khi đạt được đủ chỉ tiêu.Thuận lợi của lấy mẫu chỉ tiêu áp dụng trong một vài nghiên c ứu là chi phí th ực hi ện nghiên c ứutương đối rẽ và dễ (do không cần phải thiết lập khung mẫu). Bất lợi của việc chọn mẫu chỉ tiêulà không đại diện toàn bộ quần thể, do lấy mẫu không xác su ất nh ư ch ọn ưu tiên ph ỏng v ấnkhách du lịch đến trước, chọn nơi có nhiều khách lui tới, khách ở khách sạn, … và vì v ậy m ức đ ộtin cậy phụ thuộc vào kinh nghiệm hay sự phán đoán của người nghiên cứu và sự nhi ệt tình c ủangười trả lời phỏng vấn.Để tăng mức độ tin cậy, người nghiên cứu c ần thực hi ện cu ộc ph ỏng v ấn b ước đ ầu đ ể ki ểm trangười trả lời có rơi vào các chỉ tiêu hay không. Chọn m ẫu ch ỉ tiêu ít đ ược áp d ụng trong cácnghiên cứu phát triển, nhưng đôi khi đựoc sử dụng trong m ột vài nghiên c ứu nh ỏ mang các đ ặctính quan sát.* Chọn mẫu không gian (spatial sampling)Người nghiên cứu có thể sử dụng cách lấy mẫu n ầy khi hiện tượng, sự vật đ ược quan sát có s ựphân bố mẫu theo không gian (các đối tượng khảo sát trong khung m ẫu có v ị trí không gian 2hoặc 3 chiều). Thí dụ lấy mẫu nước ở sông, đất ở sườn đồi, ho ặc không khí trong phòng. Cáchchọn mẫu như vậy thường gặp trong các nghiên cứu sinh học, địa chất, địa lý.Lấy mẫu theo sự phân bố này yêu cầu có sự gi ống nhau v ề không gian qua các ph ương phápngẫu nhiên, hệ thống và phân lớp. Kết quả c ủa m ột mẫu ch ọn có th ể đ ược bi ểu di ễn nh ư m ộtloạt các điểm trong không gian hai chiều, giống như là bản đồ.Xác định cỡ mẫuMục đích của việc xác định cỡ mẫu là để giảm đi công lao động và chi phí làm thí nghiệm vàđiều quan trọng là chọn cỡ mẫu như thế nào mà không làm m ất đi các đ ặc tính c ủa m ẫu và đ ộtin cậy của số liệu đại diện cho quần thể.Việc xác định cỡ mẫu là một cách lấy thống kê theo độ ý nghĩa, nh ưng đôi khi quá trình này cũngđược bỏ qua và người nghiên cứu chỉ lấy cỡ mẫu có tỷ lệ ấn định (như c ỡ mẫu 10% c ủa qu ầnthể mẫu). Dĩ nhiên, đối với quần thể tương đối lớn, thì vi ệc ch ọn c ỡ m ẫu có t ỷ l ệ nh ư v ậytương đối chính xác đủ để đại diện cho quần thể. Việc tính toán là làm sao xác đ ịnh m ột kích c ỡmẫu tối thiểu mà vẫn đánh giá được tương đối chính xác quần thể. Chọn c ỡ m ẫu quá l ớn ho ặclớn hơn mức tối thiểu thì tốn kém còn chọn cở mẫu dưới mức tối thiểu lại ít chính xác.Trước khi xác định cỡ mẫu, phải thừa nhận mẫu cần xác định từ quần thể có sự phân phối bìnhthường. Để xác định cỡ mẫu tối thiểu cần phải đánh giá trung bình qu ần th ể μ. Khi chúng ta thuthập số liệu từ mẫu và tính trung bình mẫu. Trung bình mẫu này thì khác với trung bình quần th ểμ. Sự khác nhau giữa mẫu và quần thể được xem là sai số. Sai số biên (The margin of error) d th ểhiện sự khác nhau giữa trung bình mẫu quan sát và giá trị trung bình của quần thể μ được tínhnhư sau: d = z α / 2 σ n d = z α / 2 σ n size 12{d=` { size 24{z} } rSub { size 8{ {α} slash {2} } } “.” { {σ} over { sqrt {n} }} } {} : sai số biên mong muốnZ/2: giá trị ngưỡng của phân bố chuẩnn : cỡ mẫuσ : độ lệch chuẩn quần thểHình 5Sau đó chúng ta có thể tính cỡ mẫu cần thiết dựa trên kho ảng tin c ậy và sai s ố biên. C ỡ m ẫuđược tính qua chuyển đổi công thức trên là: n = z α / 2 σ d n = z α / 2 σ d size 12{n=` { size 24{ left < {z} rSub { size 10{ {α} slash {2} } } "." { {σ} over{ sqrt {d} } } right >} } rSub {} } {}Để tính được n thì phải biết σ , xác định khoảng tin cậyHình 6và giá trị trung bình μ trong khoảng ±d. Giá trị Z/2 được tính qua Bảng 5.3.Bảng 5.3 Giá trị Z/2 1-  0,80 0,85 0,90 0,95 0,99 Z/2 1,28 1,44 1,645 1,96 2,85Theo qui luật, nếu như cỡ mẫu n Đánh giá sự biến đ

Viết một bình luận