Fidic Tiếng Việt + Tiếng Anh), Hợp Đồng Fidic (Dịch Sang Tiếng Việt)

BỐI CẢNH CHO SỰ THAY ĐỔI

Trong lĩnh vực xây dựng, hình thức hợp đồng xây dựng tiêu chuẩn phổ biến, chẳng hạn như Bộ Hợp Đồng Màu Cầu Vồng Tái Bản Lần Đầu Tiên xuất bản bởi Hiệp Hội Các Kỹ Sư Tư Vấn Quốc Tế (FIDIC) đã đóng vai trò quan trọng trong suốt gần hai thập kỷ qua. Được xuất bản lần đầu năm 1999, các hợp đồng này đã được chấp nhận rộng rãi bởi các kỹ sư, chủ đầu tư, luật sư xây dựng và những người sử dụng hợp đồng FIDIC hoặc các dạng hợp đồng dựa trên cơ sở của hợp đồng FIDIC khắp nơi.

Đang xem: Fidic tiếng việt

Sau 17 năm được áp dụng trong thực tiễn, Sách Đỏ, Sách Vàng và Sách Bạc của lần tài bản đầu tiên này này được rà soát lại bởi FIDIC và được giới thiệu tại Hội Thảo Sử Dụng Hợp Đồng Quốc Tế vào ngày 05 tháng 12 năm 2017, được biết đến như là Hợp Đồng Bộ Màu Cầu Vồng Tái Bản Lần II hoặc gọi tắt là Hợp Đồng FIDIC 2017.

Hợp Đồng FIDIC được rà soát lại với mong muốn đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của những chủ thể sử dụng hợp đồng, do đó được kỳ vọng sẽ chứa đựng những đặc điểm nổi bật của những hợp đồng nói chung và hợp đồng xây dựng tiến bộ nói riêng, chẳng hạn củng cố cơ chế và công cụ quản lý dự án, đẩy mạnh vai trò của Nhà Tư Vấn, cân bằng việc phân chia rủi ro, rõ ràng, mạch lạc và chắc chắn trong các diễn đạt và diễn giải các quy định hợp đồng, phản ánh các tập quán quốc tế tiến bộ, điều chỉnh các vấn đề đặt ra bởi các chủ thể sử dụng hợp đồng phát sinh khi sử dụng các hợp đồng FIDIC 1999; tích hợp những tiến bộ mới nhất trong hợp đồng FIDIC, cụ thể là Sách Ánh Kim<1>. Những mục đích trên sẽ là chủ đề chính cho các thay đổi trong hợp đồng FIDIC 2017 và là hướng dẫn để hỗ trợ việc đọc hiểu các hợp đồng.

Phần tiếp theo của bản tin này sẽ tiếp cận một vài thay đổi nổi bật trong hợp đồng FIDIC 2017 so với các hợp đồng tương ứng trong ấn phẩm 1999.

NHỮNG THAY ĐỔI NỔI BẬT TRONG SÁCH ĐỎ, VÀNG VÀ BẠC

Vấn Đề Mẫu Hợp Đồng Điều Khoản Nội Dung
Tổng Số Các Điều Khoản<2> Tất cả Hợp đồng FIDIC năm 2017 chứa 21 điều – nhiều hơn một điều so với ấn phẩm 1999. Một vài điều cũ được bổ sung thêm các khoản mới; tuy nhiên cấu trúc chung của các hợp đồng có vẻ không thay đổi nhiều so với ấn phẩm trước.
Thứ Tự Của Các Định Nghĩa Tất cả

Trong phiên bản trước, các định nghĩa được sắp xếp thành nhóm theo chủ đề: hợp đồng; ngày tháng, thử nghiệm, giai đoạn và hoàn thành; tiền và thanh toán; công việc và hàng hóa; và các định nghĩa khác. Để tra nghĩa của một thuật ngữ, người dùng đã phải thực hiện hai bước: đầu tiên, tìm kiếm thuật ngữ cần tra tại “Danh sách các định nghĩa theo thứ tự bảng chữ cái” để tìm ra điều khoản mà thuật ngữ này được định nghĩa; và bước thứ hai, đọc diễn giải về thuật ngữ đó tại điều khoản vừa tìm được.

Còn trong phiên bản mới này, các định nghĩa được liệt kê theo thứ tự bảng chữ cái sẵn. Phương pháp này có những ưu và nhược điểm của nó. Một mặt, nó giúp tiết kiệm thời gian nếu người dùng biết chính xác cách viết của thuật ngữ cần tìm nhưng sẽ bất tiện nếu họ chỉ biết chủ đề của thuật ngữ đó.

Các Điều Kiện Chung Sách Đỏ và Sách Bạc

Các Sách này thêm Phần B – Các quy định đặc biệt, bên cạnh Phần A – Dữ liệu hợp đồng trong Điều Kiện Riêng để đáp ứng yêu cầu cụ thể của nhiều Chủ Đầu Tư, đặc biệt là các cơ quan công quyền cho các điều kiện đặc biệt của hợp đồng, hoặc quy trình cụ thể khác biệt so với những điều kiện hoặc quy trình được quy định tại Điều Kiện Chung<3>. Điều này làm Điều Kiện Riêng của Sách Đỏ tương tự như Hợp đồng FIDIC Ánh Kim 2008.
Thông Báo Tất cả Điều 1.3 <Thông Báo> Mỗi hợp đồng FIDIC đề cập đến việc Thông báo khoảng 80 lần. “Thông Báo” được tách ra khỏi phương thức liên lạc khác thành một Khoản riêng biệt. Trong khi các phương thức liên lạc khác phải tham chiếu đến quy định mà nó được ban hành, Thông Báo không cần thủ tục này<4>.
Giới Hạn Trách Nhiệm Tất cả Điều 1.15 <Giới hạn trách nhiệm> Quy định về Giới Hạn Trách Nhiệm đã được chuyển từ Khoản 17.6 sang 1.15 trong phiên bản 2017 mà theo đó các tổn thất gián tiếp hoặc kéo theo đã được loại bỏ. Kết quả là, các thiệt hại do chậm trễ hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, và do sơ suất đã không được tính đến trong mức giới hạn trách nhiệm cộng dồn.

Bên cạnh đó, FIDIC cũng đưa ra thuật ngữ “sơ suất quá rõ ràng” cho mục đích áp dụng quy định này. Việc xuất hiện của thuật ngữ này trong hợp đồng FIDIC 2017 đã làm phát sinh một số vấn đề cho việc áp dụng trong phạm vi quốc tế vì các cách tiếp cận khác nhau của các quốc gia thông luật và dân luật đối với thuật ngữ này.

Vai trò của Nhà Tư Vấn Sách Đỏ và Sách Vàng Điều 3 <Nhà Tư Vấn>

Vai trò của Nhà Tư Vấn được củng cố đáng kể trong việc quản lý dự án để đảm nhận được các thủ tục chi tiết và giới hạn thời gian khắt khe hơn<5>.

Số lượng các khoản trong Điều 3 gia tăng từ 3 lên 8 khoản. Trong đó, Khoản 7 <Thỏa Thuận hoặc Quyết Định> được chú ý hơn cả. Như tên gọi, Khoản này điều chỉnh các thỏa thuận và quyết định.

Đối với “Thỏa Thuận”, Nhà Tư Vấn được yêu cầu khuyến khích việc bàn bạc giữa các bên để có thể đạt được sự đồng thuận. Khi ban hành một quyết định bất kỳ, Nhà Tư Vấn phải “trung lập” giữa Các Bên theo các thủ tục chi tiết quy định tại Khoản này và sẽ không được xem như hành động vì Chủ Đầu Tư như là đại diện của Chủ Đầu Tư<6>. Sự “công bằng” của Nhà Tư Vấn cũng đã được đề cập trong các ấn bản trước nhưng được nâng lên ở mức độ mới trong ấn bản này.

Hợp Đồng Thầu Phụ Sách Đỏ Điều 5 <Thầu Phụ> Sách Đỏ quy định hai loại nhà thầu phụ là nhà thầu chỉ định và nhà thầu khác. Trong ấn bản 1999, hai loại nhà thầu phụ này được quy định trong hai Điều khác nhau: Điều 4 cho các thầu phụ khác; và Điều cho nhà thầu phụ chỉ định. Đến phiên bản 2017 này thì hai quy định này được gộp chung làm một điều khoản – Điều 5 <Thầu Phụ>.

Xem thêm: Iq – Online Practice Courses Retired

Cảnh báo trước Tất cả Khoản 8.4 <Cảnh Báo Trước>

Khoản này quy định các sự kiện mà mỗi Bên cần thông báo sớm cho nhau trước những vấn đề tiềm ẩn có thể xảy ra. Quy định này được kỳ vọng sẽ làm giảm thiểu tranh chấp giữa các bên bằng việc khuyến khích các bên giải quyết các vấn đề tranh cãi ngay từ sớm khi mà các tranh chấp này vẫn còn đơn giản, do đó hạn chế việc phát triển lên nghiệm trọng<7>.

Tuy nhiên, hợp đồng không quy định về giới hạn thời gian cho việc cảnh báo trước, cũng không có chế tìa rõ ràng cho việc vi phạm quy định này<8>.

Gia hạn thời hạn hoàn thành Tất cả Điều 8.5 <Gia Hạn Thời Hạn Thoàn Thành> Những thay đổi được tạo ra phổ biến trong những sự kiện gia hạn thời hạn hoàn thành bao gồm bổ sung một vài sự kiện, ví dụ việc trì hoãn gây ra bởi các đơn vị cung cấp tiện ích<9> và bởi việc gia tăng hơn 10% khối lượng tạm tính<10>. Hơn nữa, theo quy định tại điều khoản đã được điều chỉnh này, nhà thầu không bắt buộc phải đưa ra các khiếu nại riêng biệt đối với các khiếu nại gia hạn thời hạn hoàn thành (EOT) đối với những trì hoãn gây ra bởi các trường hợp thuộc Phát Sinh<11>.
Chấm dứt vì sự thuận tiện của Chủ Đầu Tư Tất cả Điều 15.5 <Chấm Dứt Vì Sự Thuận Tiện Của Chủ Đầu Tư> Hợp Đồng FIDIC 2017 đã tạo nên một thay đổi đáng kể đối với khung pháp lý cho quy định chấm dứt vì sự thuận tiện của Chủ Đầu Tư. Cụ thể, Điều 15.6 <Đánh Giá Sau Khi Chấm Dứt Vì Sự Thuận Tiện Của Chủ Đầu Tư> của ấn bản 2017 đã làm mất đi lợi ích của Nhà Thầu do chấm dứt vì sự thuận tiện theo Điều 15.5 <Chấm Dứt Vì Sự Thuận Tiện Của Chủ Đầu Tư>. Hơn nữa, theo Điều 15.5 của phiên bản 2017, khi chấm dứt hợp đồng vì sự thuận tiện Chủ Đầu Tư được phép giao công việc cho một nhà thầu khác trong khi điều này bị cấm theo Điều 15.5 <Chủ Đầu Tư Được Phép Chấm Dứt Hợp Đồng> trong FIDIC 1999.
Gia Tăng Nghĩ Vụ Bồi Thường Đối Với Cả Chủ Đầu Tư Và Nhà Thầu Sách Vàng Điều 17.4 <Bồi Thường Bởi Nhà Thầu>

Bên cạnh các thiệt hại bồi thường bởi Nhà Thầu được liệt kê tại Điều 17.1 <Bồi Thường Thiệt Hại> của phiên bản 1999, Nhà Thầu trong phiên abnr 2017 phải bồi thường cho Chủ Đầu Tư “tất cả các hành vi, lỗi lầm hoặc sự thiếu sót Nhà Thầu gây ra khi thực hiện nghĩa vụ thiết kế của Nhà Thầu mà kết quả là Công Trình khi được hoàn thành, không phù hợp với mục đích ban đầu được định ra <…>”

Đối với Chủ Đầu Tư, ngoài việc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 17.1 <Bồi Thường Thiệt Hại> trong các phiên bản trước, Hợp Đồng FIDIC 2017 quy định rằng Chủ Đầu Tư phải bồi thường cho những mất mát hoặc tổn thất đối với tài sản gây ra bởi Nhân Sự của Chủ Đầu Tư hoặc các đại diện.

Sự Kiện Ngoại Lệ Tất cả Điều 18 <Sự Kiện Ngoại Lệ> Hợp Đồng FIDIC 2017 có sự thay đổi trong thứ tự các điều khoản, cụ thể Điều 18 và Điều 19, quy định về <Bảo Hiểm> và <Bất Khả Kháng> trong phương bản trước. Quy định về Bảo hiểm được điều chỉnh bởi Điều 19 trong khi Bất Khả Kháng được quy định tại Điều 18 và đổi tên thành Những Sự Kiện Ngoại Lệ. Tuy nhiên, định nghĩa của sự kiện ngoại lệ thì có bản chất giống Bất Khả Kháng trong các phiên bản trước và sự phân chia rủi ro thì vẫn không thay đổi.

Thay đổi này có thể xuất phát từ sự khác biệt trong cách mà bất khả kháng được tiếp cận trong thông luật và dân luật. Trong hệ thống thông luật, có có một định nghĩa rõ ràng và chính thức cho Bất Khả Kháng trong khi thuật ngữ này có mặt trong bộ luật dân sự của các quốc gia dân luật. Do đó, quy định này có thể gây trở ngại cho việc sử dụng hợp đồng trong các quốc gia theo hệ thống thông luật vì họ đã có quan niệm về bất khả kháng từ trước đó và dường như không thật sự xem xét ngụ ý của hợp đồng FIDIC về thuật ngữ này<12>.

Thủ Tục Khiếu Nại Mới Tất cả Điều 20 <Khiếu Nại Của Chủ Đầu Tư Và Khiếu Nại Của Nhà Thầu>

Hợp đồng FIDIC 1999, Điều 20 <Khiếu Nại, Tranh Chấp Và Trong Tài> được tách thành Điều 20 <Khiếu Nại Của Chủ Đầu Tư Và Khiếu Nại Của Nhà Thầu> và Điều 21 <Tranh Chấp Và Trọng Tài>. Lý do cho sự thay đổi này là để phân biệt giữa việc thực hiện Khiếu Nại và đưa ra Tranh Chấp. Trong khi thực hiện Khiếu Nại có nghĩa là yêu cầu một quyền lợi có được theo hợp đồng, đưa ra Tranh Chấp phát sinh nếu Khiếu Nại bị từ chối (một phần hoặc toàn bộ) hoặc không được xem xét đến.

Tại hợp đồng FIDIC trước đó, khiếu nại của Nhà Thầu được quy định tại Điều 20.1 <Khiếu Nại Của Nhà Thầu> và khiếu nại của Chủ Đầu Tư tại Điều 2.5 <Khiếu Nại Của Chủ Đầu Tư> với sự khác nhau về nghĩa vụ. Tại phiên bản này – Tải bản lần thứ hai, thủ tục khiếu nại chỉ được quy định tại Điều 20 <Khiếu Nại Của Chủ Đầu Tư Và Nhà Thầu> trong đó nghĩa vụ của mỗi bên là tương đương nhau.

Ban Phân Xử Và Giảm Thiểu Tranh Chấp Tất cả Điều 21 <Tranh Chấp Và Trong Tài>

Ban Phân Xử Tranh Chấp (DAB) đã được đổi tên thành Ban Phân Xử Và Giảm Thiếu Tranh Chấp (DAAB). Việc thay đổi này có thể xem là một biểu hiện rõ ràng của việc gia tăng sự tập trung vào việc hạn chế tranh chấp hơn là giải quyết chúng vì “phòng bệnh hơn chữa bệnh” và không phải mọi khiếu nại đều dẫn đến tranh chấp.

Để đạt được mục đích trên, trong ấn bản mới, tất cả DAAB sẽ là DAAB cố định. Họ được cùng chỉ định bởi các bên từ khi bắt đầu có hợp đồng (trong vòng 28 ngày sau khi Nhà Thầu nhận được Thư Trap Thầu) và phụ trách trong suốt thời hạn của dự án, họp hành với các bên vào những thời điểm đã được ấn định trước, thay vì làm việc trên cơ sở vụ việc như ấn bản trước.

So với phiên bản năm 1999, phiên bản 2017 được đánh giá là khắt khe và mang tính quy tắc, tạo thêm khó khăn cho chủ đầu tư và nhà thầu khi tuân theo trong khi không tạo được sự thay đổi trong việc phân chia rủi ro<13>.

 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ SỰ THAY ĐỔI

Phiên bản thứ hai của bộ hợp đồng màu cầu vồng này đánh dấu sự nâng cấp của ấn bản đầu tiên. Không giống với những phiên bản trước đó, người ta cần cẩn thận hơn khi soạn thảo Điều Kiện Riêng, đặc biệt là Phần B – Điều kiện đặc biệt vì bản chất khác biệt của nó.

Bên cạnh việc ra mắt phiên bản này, câu hỏi liệu rằng nó có thuận tiện hơn và đem lại nhiều lợi ích hơn khi sử dụng so với các phiên bản trước cũng được các chủ thể sử dụng cân nhắc. Cho đến nay, câu trả lời vẫn còn gây tranh cãi trong thực tiễn hoạt động của lĩnh vực xây dựng. Trước hết, mục tiêu của việc thay đổi lần này là tiến bộ và đáng được đón nhận; tuy nhiên, phải cần thời gian để thấy được hiệu quả và thành tựu của nó cũng như là lợi ích mà nó mang lại.

Xem thêm: Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Thcs Nam, Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Hki Năm Học 2019

Như chúng ta đều biết, việc sử dụng phiên bản hợp đồng FIDIC nào là hoàn toàn do sự lựa chọn của người dùng bất kể có sự xuất hiện thêm của ấn bản nào đi nữa. Do đó, quyết định lựa chọn phiên bản áp dụng phụ thuộc vào người dùng trên cơ sở xem xét các ngữ cảnh và vị thế cụ thể của họ trong hợp đồng và các yêu cầu cụ thể.

Viết một bình luận