Đề Cương Thảo Luận Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Trung Cấp Chính Trị

Lý luậnCodingMS OfficeMS AccessTài liệu họcEnglishKỹ sư Xây dựngSoftwareĐầu tưEnjoyKIỂM TRA – TRẮC NGHIỆMTRẮC NGHIỆM VỀ ĐẦU TƯ CÔNGTRẮC NGHIỆM VỀ GIÁM SÁTTRẮC NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG

*

ByThanhVL Apr 16, 2019 đề cương thảo luận, lý luận chính trị, quản lý hành chính, quản lý hành chính nhà nước, TCLLCT, trung cap, trung cấp LLCT

*

Tải file tại đây:

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN LẦN 1

Câu 1.

Đang xem: đề cương thảo luận môn quản lý hành chính nhà nước

Có ý kiến cho rằng: “Thực thi quyền hành pháp là nội dung cơ bản nhất của hoạt động QLHCNN.” Dựa trên kiến thức đã học, theo anh, chị ý kiến này có đúng không? Vì sao?Trả lời:

Khái niệm QLNN (SGK trang 8-9):

Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực NN có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của nhà nước.

– Chủ thể QLNN là các cơ quan nhà nước thuộc BMNN, gồm 5 cơ quan: CTN, CQQLNN, CQHCNN, CQXX, CQKS tham gia vào quá trình tổ chức quyền lực NN về Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp theo quy định của pháp luật.

+ Lập pháp: Là làm luật, xây dựng luật và ban hành những văn bản luật được áp dụng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

+ Hành pháp: Thực thi pháp luật (Gồm 2 chức năng: Lập quy và Hành chính).

+ Tư pháp: Bảo vệ pháp luật.

– NN sử dụng các công cụ quản lý chủ yếu là pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội.

Khái niệm QLHCNN (SGK trang 9):

QLHCNN là sự tác động có tổ chức và có điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ TW đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của NN, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự, an ninh và thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp:Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội và HĐND các cấp) thực thi chức năng lập pháp.Cơ quan HCNN (Chính phủ và UBND các cấp) thực thi chức năng hành pháp.

Quan hệ giữa CQQLNN và CQHCNN: Cơ quan HCNN

Đặc điểm của hành pháp:

Trong quá trình thực thi quyền hành pháp, các CQQLHCNN tiến hành các hoạt động: Lập quy hành chính; ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính; kiểm tra, đánh giá; cưỡng chế hành chính. Nói cách khác, các CQQLHCNN thực hiện 2 chức năng chính là lập quy (chấp hành) và hành chính (điều hành).

Hoạt động Lập quy HC: Các CQQLHCNN có thẩm quyền ban hành các VBQPPL dưới luật để cụ thể hóa các quy định pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Hoạt động lập quy hành chính tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý, điều hành của các CQQLHCNN, cụ thể:

+ Chính phủ có thẩm quyền ban hành NĐ, NQ liên tịch.

+ Thủ tướng CP có thẩm quyền ban hành QĐ.

+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền ban hành thông tư, thông tư liên tịch.

+ UBND các cấp có thẩm quyền ban hành QĐ, CT.

Hoạt động hành chính:

Hoạt động HC là hoạt động tổ chức thực hiện – phổ biến, tuyên truyền, kiểm tra, xử phạt, giải quyết các mối quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý HCNN nhưng phải dựa trên quy định của pháp luật (HC nội bộ và HC nhà nước) (Vở viết).

+ Ban hành và tổ chức thực hiện các QĐHC: Là quyền ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính giúp hệ thống hành chính vận động và phát triển theo yêu cầu chung của xã hội, đồng thời duy trì sự vận động và phát triển của các đối tượng tham gia vào quá trình kinh tế, xã hội theo mục tiêu quản lý đã định trước (SGK).

+ Hoạt động kiểm tra đánh giá: Trong quản lý điều hành HC, các cơ quan quản lý HC phải thường xuyên tiến hành việc kiểm tra và đánh giá hiệu quả mọi mặt hoạt động của các đối tượng quản lý. Kiểm tra, đánh giá là biện pháp bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các đối tượng quản lý, góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của XH (SGK).

+ Hoạt động cưỡng chế HC: Thực hiện cưỡng chế HC góp phần thực hiện hiệu quả các chức năng HC khác. Trong quá trình điều hành, nhiều trường hợp để các đối tượng quản lý chấp hành các quy định của pháp luật, các cơ quan QLHCNN phải tiến hành cưỡng chế HC (SGK).

￿ Quyền lập quy và quyền HC có mối quan hệ mật thiết với nhau và thống nhất tạo thành quyền HP, để cụ thể quyền hành pháp, cơ quan HCNN trong quá trình hoạt động của mình có thể ban hành các QĐ quản lý HCNN. Lập quy và hành chính có quan hệ biện chứng – Lập quy là cơ sở pháp lý của hành chính, hành chính là thực tiễn của lập quy vì hành chính phải dựa trên văn bản lập quy và nó cũng tác động trở lại lập quy. Khi các VBQPPL không thể áp dụng vào thực tế thì phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hoặc bãi bỏ hoặc hủy bỏ. Do đó, việc ban hành VBQPPL phải xuất phát từ thực tiễn à 2 đặc điểm lập quy và hành chính có mối quan hệ tác động qua lại với nhau.

Ví dụ: Mở phòng mạch cần giấy phép hành nghề. Cơ quan kiểm tra phải căn cứ vào VBQPPL để kiểm tra, xử phạt nếu vi phạm.

Câu 2. Phân tích quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt. Cho ví dụ minh họa.

Định nghĩa Quản lý hành chính nhà nước là gì? SGK

QLHCNN là sự tác động có tổ chức và có điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ TW đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của NN, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự, an ninh và thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính chủ động và sáng tạo và linh hoạt.

Điều này thể hiện ở việc các chủ thể quản lý căn cứ vào tình hình, đặc điểm của từng đối tượng quản lý cụ thể để đề ra các biện pháp quản lý thích hợp. Ví dụ như đối với đồng bào các dân tộc thiểu số thì các quy định về luật cũng như chính sách và việc áp dụng cũng có sự khác biệt đối với những đối tượng khác. Ví dụ như một số dân tộc người phụ nữ có tập tục búi tóc cao và như vậy khi tham gia giao thông thì họ không thể đội mũ bảo hiểm nhưng cũng không thể phạt họ như đối với các đối tượng khác. Hơn nữa, hầu hết các trường hợp vi phạm luật do thói quen phong tục tập quán của họ hay do thiếu hiểu biết pháp luật do trình độ nhận thức còn thấp của một bộ phận người dân tộc thiểu số đều được xử lý hết sức nhẹ nhàng trên tinh thần giảng giải và phân tích cho họ hiểu pháp luật của nhà nước và về những vi phạm của họ chứ ít có sự xử phạt nghiêm khắc hay cưỡng chế thi hành đối với những lỗi vi phạm hành chính thông thường. Điều này thể hiện sự linh hoạt, sáng tạo và khôn khéo của chủ thể quản lý hành chính.

Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính để điều chính các hoạt động quản lý nhà nước. Ví dụ như việc sửa đối hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã được thực hiện trên tinh thần lấy ý kiến đóng góp của toàn thể nhân dân, sau đó quốc hội sẽ thảo luận và thống nhất các điều luật và sự thay đổi cuối cùng để có một bản hiến pháp đầy đủ toàn diện và phù hợp nhất với tình hình thực tế và nguyện vọng của nhân dân. Việc quyết định lấy ý kiến của toàn thể nhân dân tham gia sửa đối hiến pháp thay vì một bộ phận chuyên thực hiện việc nghiên cứu, sửa đổi hiến pháp như trước đây thể hiện sự chủ động và sáng tạo của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Hoạt động hành chính nhà nước được đảm bảo về phương diện tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.

 Tất cả các cơ quan nhà nước đều tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng hoạt động này chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Đứng đầu là Chính phủ sau đến các Bộ và cơ quan ngang bộ và UBND các cấp.

Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có mục tiêu chiến lược, có chương trình và có kế hoạch để thực hiện mục tiêu.

Giống như hoạt động quản lý nói chung, hoạt động quản lý hành chính cũng có mục tiêu chiến lược, được cụ thể hóa bằng các mục tiêu nhỏ hơn, đồng thời có kế hoạch, chương trình và biện pháp để thực hiện mục tiêu đó. Ví dụ như thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo thì Chính phủ sẽ cụ thể hóa mục tiêu lớn này bằng các mục tiêu nhỏ hơn như mcuj tiêu đến năm 2015 không còn hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%, tăng tỷ lệ lao động có việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp… Để thực hiện mục tiêu nhỏ này thì Chính phủ lại có các chương trình và kế hoạch nhỏ hơn trên nhiều mặt để thực hiện mục tiêu ví dụ như các chương trình 134, 135…

Quản lý hành chính nhà nước chủ yếu do đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện (công vụ).

Câu 3. Anh (chị) hãy phân tích mối quan hệ giữa chủ thể QLHCN với đối tượng QLHCNN. Cho ví dụ minh họa.

– Chủ thể quản lý: là các cá nhân, tổ chức có một quyền lực nhất định buộc các đối tượng quản lý phải tuân thủ các quy định do mình đề ra để đạt được những mục tiêu đã định trước.

– Khách thể quản lý: là trật tự quản lý mà chủ thể quản lý bằng sự tác động lên các đối tượng quản lý bằng các phương pháp quản lý và công cụ quản lý nhất định mong muốn thiết lập được để đạt được những mục tiêu định trước.

Trong hoạt động QLHCNN luôn luôn có: Chủ thể và khách thể.

Nhìn bên ngoài, chủ thể và khách thể có mâu thuẫn nhau. Nhưng thực chất nó có mối quan hệ với nhau.

– Chủ thể QLHCNN.

Chủ thể QL về mặt CT-XH là nhân dân lao động, có quyền tham gia QL NN và XH là sự nghiệp toàn dân. Nhà nước là tổ chức Chính trị do ND bầu ra, ủy quyền, trau quyền hành để QL XH.

Chủ thể QL về mặt pháp lý là Hệ thống các CQ HCNN, các CB.CC trong hệ thống đó.

Đặc điểm của chủ thể QLHCNN.

. Chủ thể QLHCNN có tính quyền lực NN, phải gắn liền thẩm quyền, tách rời thẩm quyền thì không có chủ thể.

. Lĩnh vực hoạt động QL rất rộng, bao gồm tất cả lĩnh vực KT-CT-XH.

. QL chủ yếu thông qua các quyết định QL và hành vi HC.

– Khách thể QLHCNN.

Khách thể QLHCNN là những gì mà hoạt động QL hướng tới, tác động tới. Bao gồm:

– Trật tự QL trên tất cả các lĩnh vực của đời sống KT-XH.

– Là hành vi hoạt động của con người.

Đặc điểm của khách thể QLHCNN.

– Được phân thành nhiều loại, mỗi loại có đặc điểm riêng. Phân loại khách thể để có phương pháp QL riêng cho từng loại.

– Khách thể luôn luôn vận động, có khả năng tự điều chỉnh để thích nghi với hoàn cảnh và môi trường của điều kiện hoạt động.

– Hiểu được các mặt của khách thể, công tác QLHCNN tạo được sự vững chắc và ổn định XH, tạo điều kiện cho khách thể luôn luôn vận động và phát triển.

Là nhu cầu con người của XH.

* Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể.

– Chủ thể QL làm nảy sinh ra các tác động QL. Khách thể QL chịu tác động của chủ thể để sản sinh ra các giá trị VC và tinh thần đáp ứng nhu cầu của XH.

– Chủ thể QL tồn tại chính là vì nhu cầu XH và vì khách thể QL, nếu không quan tâm đến khách thể thì chủ thể tồn tại và hoạt động không có mục đích.

– Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể QL, nhân dân lao động vừa là chủ thể vừa là khách thể.

– Bất kỳ CQ nào, một công chức lãnh đạo nào dù ở vị trí cao nhất cũng vừa là chủ thể, vừa là khách thể.

Câu 4. Anh, chị hãy phân tích nguyên tắc: “Tiếp công dân phải bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời, thủ tục đơn giản, thuận tiện”? Liên hệ thực tiễn tại cơ quan đơn vị hoặc địa phương nơi anh (chị) làm việc, sinh sống.

Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật. Việc tiếp công dân phải được tiến hành tại nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời, thủ tục đơn giản, thuận tiện, giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo theo quy định của pháp luật, bảo đảm khách quan, bình đẳng, không phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân; tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật.

Quy chế gồm 4 chương và 21 điều, quy định trách nhiệm tổ chức tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ tiếp công dân theo quy định trên địa bàn.

Bên cạnh đó, Quy chế còn quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân; quyền và nghĩa vụ của công dân khi đến trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân; thống nhất quản lý công tác tổ chức tiếp công dân trong phạm vi toàn tỉnh.

Xem thêm: Thông Tư 50/2017/Tt-Bca

Quy chế yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan hành chính Nhà nước có nhiệm vụ tiếp công dân theo quy định phải bố trí trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân có vị trí thuận lợi, đảm bảo các điều kiện vật chất cần thiết để công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân phải niêm yết nội quy tiếp công dân và Quy chế tổ chức tiếp công dân; lịch tiếp công dân định kỳ và đột xuất.

Việc tiếp công dân phải được tiến hành tại nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiếp công dân phải bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo theo quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, bình đẳng, không phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân.

Nghiêm cấm gây phiền hà, sách nhiễu hoặc cản trở người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; thiếu trách nhiệm trong việc tiếp công dân; làm mất hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu do người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cung cấp; phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân.

Tại cơ sở việc tiếp công dân giải quyết hồ sơ được thực hiện theo đúng nguyên tắc mọi thắc mắc sai trái hay các vấn đề phản ảnh điều được xử lý bằng hình thức gửi thư vào hòm thư tại ủy ban nhân dân phường hay gửi các nội dung qua tổ trưởng và Ban điều hành khu phố hay lên trực tiếp ủy ban nhân dân. Các vấn đề điều được giải quyết sau thời gian nhận đơn hay thắc mắc gì từ hai đến ba ngày nếu cần thiết thì giải quyết liền vấn đề cần thiết. Và hàng tuần hai ngày thứ hai và thứ tư là lãnh tiếp công dân bên cạnh đó một tháng 1 lần và kết mỗi quý là đối thoại trực tiếp giữa các lãnh đạo phường và các đoàn thể, các ngành có liên quan với nhân tại địa phương.

Câu 5. Phân biệt khiếu nại và tố cáo? Cho ví dụ minh họa.

Khiếu nại và tố cáo là hai từ khá quen thuộc trong pháp luật hành chính, không chỉ quen thuộc trong phạm vi pháp luật, mà cuộc sống thường nhật vẫn thường sử dụng chúng, thế nhưng, bản chất của 2 từ này hoàn toàn khác nhau. Làm sao để hiểu rõ thế nào là khiếu nại, thế nào là tố cáo? Trường hợp nào người ta sử dụng từ khiếu nại, trường hợp nào người ta sử dụng từ tố cáo?

Dưới đây là bảng phân biệt giữa 2 cụm từ trên, giúp dễ dàng nhận định trường hợp nào là khiếu nại, trường hợp nào là tố cáo.

Tiêu chí Khiếu nại Tố cáo
Khái niệm Là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Là việc công dân theo thủ tục quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Luật điều chỉnh Luật khiếu nại 2011 Luật tố cáo 2011
Mục đích hướng tới Nhằm hướng tới lợi ích, đi đòi lại lợi ích mà chủ thể khiếu nại cho là họ đã bị xâm phạm Nhằm hướng tới việc xử lý hành vi vi phạm và người có hành vi vi phạm
Chủ thể thực hiện quyền – Công dân.– Cơ quan, tổ chức.– Cán bộ, công chức, – Công dân
Đối tượng – Quyết định hành chính.– Hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.– Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. – Hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Yêu cầu về thông tin Không quy định người khiếu nại chịu trách nhiệm về việc khiếu nại sai sự thật Người tố cáo phải trung thực và chịu trách nhiệm về việc tố cáo sai sự thật nếu cố tình, thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu cáo, vu khống theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999.
Thái độ xử lý Không được khuyến khích Được khuyến khích
Khen thưởng Không có quy định Được khen thưởng theo Nghị định 76/2012/NĐ-CP với các giải:– Huân chương Dũng cảm.– Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.– Bằng khen của các Bộ, cơ quan ngang Bộ…Riêng với việc tố cáo hành vi tham nhũng còn được xét tặng thưởng với số tiền lên đến 3.45 tỷ đồng theo Thông tư liên tịch 01/2015/TTLT-TTCP-BNV.
Kết quả giải quyết Quyết định giải quyết.(Nhằm trả lời cho người khiếu nại về những thắc mắc của họ nên phải ra quyết định giải quyết thể hiện sự đánh giá và trả lời chính thức của cơ quan nhà nước.Quyết định giải quyết khiếu nại bắt buộc phải được gửi đến người khiếu nại) Xử lý tố cáo(Nhằm xử lý một thông tin, kết quả xử lý thông tin và giải quyết tố cáo đó có thể sẽ rất khác nhau.Xử lý tố cáo chỉ được gửi đến người tố cáo chỉ khi họ có yêu cầu)
Thời hiệu thực hiện 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.15 ngày kể từ ngày cán bộ, công chức, viên chức nhận được quyết định xử lý kỷ luật với trường hợp khiếu nại lần đầu. Không quy định thời hiệu
Các trường hợp không thụ lý đơn Không có quy định cụ thể – Tố cáo về vụ việc đã được người đó giải quyết mà người tố cáo không cung cấp thông tin, tình tiết mới;– Tố cáo về vụ việc mà nội dung và những thông tin người tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật;– Tố cáo về vụ việc mà người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không đủ điều kiện để kiểm tra, xác minh hành vi vi phạm pháp luật, người vi phạm.
Hậu quả pháp lý phát sinh khi rút đơn Cơ quan nhà nước chấm dứt giải quyết.

Cơ quan nhà nước không chấm dứt xử lý.

Ví dụ:

– Khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính không đúng thẩm quyền, sai nội dung, không đúng quy định. Vụ Café Xin Chào…

– Đơn thư tố cáo ông Nguyễn Văn A tham gia đường dây cá độ, tham ô tài sản nhà nước… gây nhũng nhiễu ….

Câu 6. Kiểm tra hành chính là gì? Nhận xét thực trạng kiểm tra hành chính của chính quyền cơ sở.

Kiểm tra hành chính do hệ thống hành chính nhà nước thực hiện là một trong các loại hình kiểm tra đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước (bên cạnh hoạt động kiểm tra do các cơ quan, tổ chức Đảng tiến hành). Đây là hoạt động kiểm tra mang tính nội bộ hệ thống, diễn ra thường xuyên và rất quan trọng bởi nó là một chức năng của hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước (CQ HCNN), góp phần hoàn thiện các quy trình, thủ tục trong thực thi công việc, đảm bảo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc. Để đảm bảo được mục tiêu đề ra, hoạt động kiểm tra hành chính phải được đảm bảo bởi rất nhiều điều kiện, trong đó, tuân thủ quy trình kiểm tra là một điều kiện quan trọng. Tuân thủ quy trình đề ra khi tiến hành kiểm tra hành chính còn giúp đảm bảo được tính pháp chế, khách quan trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Quy trình chung trong kiểm tra hành chính

Quy trình trong kiểm tra hành chính là trình tự các bước cùng với các thủ tục tương ứng mà hệ thống cơ quan hành chính nhà nước nhất thiết phải tiến hành trong công tác kiểm tra theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động của mình.

Quy trình kiểm tra hành chính có thể khái quát thành các bước sau:

– Bước 1: Xác định vấn đề cần kiểm tra

– Bước 2: Lập kế hoạch kiểm tra

– Bước 3: Chuẩn bị kiểm tra

– Bước 4: Tổ chức thực hiện kiểm tra

– Bước 5: Kết thúc kiểm tra

– Bước 6: Xử lý kết quả kiểm tra

– Bước 7: Đánh giá, tổng kết hoạt động kiểm tra

Thực trạng thực hiện quy trình kiểm tra hành chính

Tuân thủ và thực hiện tốt quy trình kiểm tra hành chính là một yêu cầu bắt buộc trong quá trình kiểm tra của bất kỳ chủ thể nào có thẩm quyền kiểm tra. Nó đảm bảo cho việc kiểm tra được tiến hành chặt chẽ, rõ ràng, chủ động, đúng quy định trong phạm vi thẩm quyền để đạt được hiệu quả cao nhất của cuộc kiểm tra.

Tuy vậy, trong thực tế kiểm tra hành chính của nội bộ hệ thống cơ quan hành chính không phải ở đâu và lúc nào cũng đã thực hiện tốt quy trình kiểm tra được cấp có thẩm quyền quy định.

Thứ nhất, việc xác định các vấn đề cần kiểm tra phần lớn vẫn dựa trên cơ sở các nội dung kiểm tra đã được xác định trước trong kế hoạch kiểm tra thường xuyên hàng năm đã được phê duyệt, chưa bám sát vào thực tế tình hình diễn biến của đối tượng quản lý. Do vậy, hoạt động kiểm tra hành chính đôi khi được tiến hành mang tính hình thức (đặc biệt là kiểm tra trong nội bộ của một cơ quan), chưa căn cứ đúng vào tình hình diễn biến thực tế quản lý, thực thi nhiệm vụ của đối tượng để kịp thời có sự kiểm tra hướng dẫn hoặc phát hiện, ngăn ngừa những sai phạm nảy sinh.

Thứ hai, việc lập kế hoạch kiểm tra sau khi xác định được vấn đề kiểm tra đã được tiến hành, tuy nhiên chất lượng kế hoạch được lập ở một số cơ quan còn chưa cao.

Cụ thể, trong kế hoạch được lập chưa đề cập chi tiết đến quy trình và phương pháp tiến hành kiểm tra, chưa đề cập đến phương án dự phòng để lường trước được các tình huống có thể xảy ra trong quá trình kiểm tra. Đối với kế hoạch kiểm tra của người có thẩm quyền kiểm tra trong nội bộ cơ quan, kế hoạch kiểm tra đôi khi được lập sơ sài, chưa rõ về yêu cầu kiểm tra và phương pháp tiến hành.

Thứ ba, hiện nay trừ các hoạt động kiểm tra chức năng thì phần lớn hoạt động kiểm tra hành chính vẫn được tiến hành trên cơ sở xem xét báo cáo của đối tượng kiểm tra. Chủ thể bị kiểm tra lại mang nặng tâm lý là kiểm tra xử lý vi phạm nên trong báo cáo của đối tượng kiểm tra đôi khi không thể hiện được hết thực tế của vấn đề. Do đó, dẫn đến việc đánh giá, nhận xét của chủ thể kiểm tra cũng chưa sát thực, đồng thời thông qua việc kiểm tra để hướng dẫn công việc hầu như không được chú ý.

Thứ tư, trong nhiều cuộc kiểm tra khi tiến hành, chủ thể công bố quyết định kiểm tra chưa giải thích rõ quyền, nghĩa vụ của người kiểm tra và của người bị kiểm tra. Điều này dễ dẫn đến sự đối phó từ phía đối tượng kiểm tra, sự quan liêu, hạch sách và thậm chí “đòi hỏi”, “vòi vĩnh” từ phía người có thẩm quyền kiểm tra, làm sai lệnh kết quả kiểm tra.

Thứ năm, việc quy định khi xử lý kết quả kiểm tra nếu đối tượng thực hiện tốt và cá nhân trong quá trình thực hiện công tác kiểm tra có thành tích thì được khen thưởng kịp thời rất ít khi được thực hiện trên thực tế, thông thường được lồng ghép vào đánh giá khen thưởng cuối năm.

Giải pháp để thực hiện tốt quy trình kiểm tra hành chính

Từ thực trạng nêu trên, để thực hiện tốt quy trình kiểm tra hành chính trong nội bộ hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, mỗi cấp, ngành, cơ quan, trên cơ sở quy định chung về hoạt động kiểm tra hành chính cần thiết phải quy chế hóa thành quy trình kiểm tra cụ thể phù hợp với điều kiện đặc thù của cấp, ngành, cơ quan mình.

Quy định pháp luật mang tính chất điều chỉnh chung, để vận dụng vào điều kiện cụ thể của từng ngành, từng cơ quan cần thiết phải quy chế hóa nhằm tạo ra quy trình đảm bảo tính sát thực, cụ thể, tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi cho quá trình kiểm tra cũng như giám sát, đánh giá được quá trình kiểm tra.

Hai là, nâng cao tính chủ động nhận thức và thực hiện quy trình kiểm tra của cả chủ thể và đối tượng kiểm tra, coi kiểm tra là hoạt động tất yếu, cần thiết của hoạt động quản lý. Từ đó, nâng cao tính trách nhiệm và tạo ra sự phối hợp hiệu quả giữa chủ thể và đối tượng trong suốt quá trình kiểm tra hành chính. Chủ thể kiểm tra hay bị kiểm tra cần nắm chắc quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của mình được quy định để thực thi đúng chức trách, giúp quy trình kiểm tra diễn ra nghiêm túc và hiệu quả.

Ba là, chủ thể kiểm tra cần xây dựng một cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin quản lý nhanh và hiệu quả để xác định đúng và kịp thời vấn đề cần kiểm tra. Cơ quan chức năng, người có thẩm quyền trong quá trình lãnh đạo, điều hành, quản lý cần kịp thời nắm bắt thông tin và dự kiến được diễn biến tiếp theo của sự việc nhằm quyết định vấn đề cần kiểm tra, chuẩn bị các điều kiện và thời điểm kiểm tra cho phù hợp.

Bốn là, trong xử lý kết quả kiểm tra, bên cạnh việc xử lý các vi phạm cũng cần quan tâm nhiều hơn đến việc khen thưởng kịp thời. Trong các quy định về hoạt động kiểm tra nên có phần quy định về vấn đề này. Khen thưởng đúng người, đúng việc và kịp thời về vật chất và tinh thần là động lực quan trọng giúp cho các cá nhân và tập thể phấn đấu thực thi và hoàn thành tốt công vụ của mình.

Năm là, biện pháp quan trọng mang tính quyết định là phải nâng cao năng lựcchuyên môn, đạo đức công vụ và kỹ năng kiểm tra của các chủ thể kiểm tra. Đây là biện pháp mang tính tổng thể đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước nói chung và công tác kiểm tra hành chính nhà nước nói riêng thể hiện được đúng bản chất và ý nghĩa của nó.

Kiểm tra trong nội bộ của hệ thống cơ quan hành chính là hình thức tự kiểm tra của chính hệ thống hành chính nhà nước, là một trong những biện pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước. Đây là một giai đoạn, một mắt xích của chu trình quản lý hành chính nhà nước, do vậy, chất lượng, hiệu quả của hoạt động này là tiền đề quan trọng cho thành công của các giai đoạn khác, để có thể đưa ra được các quyết định quản lý đúng đắn, phù hợp.

Việc đề ra và thực hiện quy trình kiểm tra hành chính là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Thực hiện tốt quy trình kiểm tra hành chính là yêu cầu và cũng là điều kiện để có được kết quả kiểm tra sát thực. Do đó, trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, mỗi cá nhân, cơ quan cần nhận thức rõ ràng và đầy đủ quy trình, thủ tục kiểm tra hành chính trước hết trong phạm vi chuyên môn ngành, lĩnh vực của mình để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra khi được giao thực hiện hay phối hợp thực hiện. Đề ra một quy trình kiểm tra khoa học, phù hợp và được thực hiện tốt chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cho hoạt động kiểm tra.

Câu 7. Ông A (sinh năm 1965), ngụ tại phường X trong cùng một lần vi phạm đã thực hiện hai hành vi vi phạm hành chính. Một hành vi có mức xử phạt từ 1 đến 3 triệu, một hành vi có mức xử phạt từ 2 đến 5 triệu). Các yếu tố khác đều phù hợp với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Chủ tịch UBND phường X đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của Ông A nêu trên, với mức phạt là 5,5 triệu đồng. Anh (chị) hãy xác định:

Chủ tịch UBND phường ra quyết định xử phạt đúng hay sai? Có phù hợp thẩm quyền không? Vì sao?Trình tự, thủ tục xử phạt vụ việc nêu trên được thực hiện như thế nào?Chủ tịch UBND phường ra quyết định xử phạt đúng hay sai? Có phù hợp thẩm quyền không? Vì sao?:

Trả lời: Chủ tịch phường X đã ra quyết định xử phạt là đúng, tuy nhiên với mức phạt 5,5 triệu đồng là vượt thẩm quyền quy định đối với Chủ tịch cấp xã (tối đa 5 triệu đồng).

Trình tự, thủ tục xử phạt vụ việc nêu trên được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Chủ tịch phường X gửi văn bản cấp trên Chủ tịch Huyện/Quận đề nghị xử phạt.

Câu 8. Trong các nhiệm vụ cải cách hành chính, nhiệm vụ nào còn bất cập tại cơ quan của các anh (chị), vì sao? Hãy nêu nguyên nhân và đề xuất giải pháp.

Định nghĩa cải cách hành chính là gì: SGK Các nhiệm vụ cải cách hành chính:

Thứ nhất: Cải cách thể chế:

a) Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp;

b) Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư và văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, cụ thể và khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật;

c) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thành quả của đổi mới, của phát triển kinh tế – xã hội;

d) Hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định rõ sự tồn tại khách quan, lâu dài của các hình thức sở hữu, trước hết là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; sửa đổi đồng bộ thể chế hiện hành về sở hữu đất đai, phân định rõ quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền của người sử dụng đất;

đ) Tiếp tục đổi mới thể chế về doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là xác định rõ vai trò quản lý của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện thể chế về tổ chức và kinh doanh vốn nhà nước;

e) Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xã hội hóa theo hướng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung ứng các dịch vụ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh;

g) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp;

h) Xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng và về quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.

Giảm bớt thủ tục hành chính tạo tính thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp

Thứ hai: Cải cách thủ tục hành chính:

a) Cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân, doanh nghiệp;

b) Trong giai đoạn 2011 – 2015, thực hiện cải cách thủ tục hành chính để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững. Một số lĩnh vực trọng tâm cần tập trung là: Đầu tư; đất đai; xây dựng; sở hữu nhà ở; thuế; hải quan; xuất khẩu, nhập khẩu; y tế; giáo dục; lao động; bảo hiểm; khoa học, công nghệ và một số lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo yêu cầu cải cách trong từng giai đoạn;

c) Cải cách thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, các ngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước;

d) Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật;

đ) Công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính bằng các hình thức thiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất cách tính chi phí mà cá nhân, tổ chức phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước; duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;

e) Đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp và nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ tục hành chính; giảm mạnh các thủ tục hành chính hiện hành; công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện;

g) Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

Thứ ba: Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước:

a) Tiến hành tổng rà soát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế hiện có của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ quan, tổ chức khác thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương và địa phương (bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước); trên cơ sở đó điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; chuyển giao những công việc mà cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc làm hiệu quả thấp cho xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận;

b) Tổng kết, đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương nhằm xác lập mô hình tổ chức phù hợp, bảo đảm phân định đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sát thực tế, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn phù hợp.

Hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm quản lý thống nhất về tài nguyên, khoáng sản quốc gia; quy hoạch và có định hướng phát triển; tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra; đồng thời, đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực của từng cấp, từng ngành;

c) Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tập trung tại bộ phận tiếp nhận, trả kết quả thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020;

d) Cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; chất lượng dịch vụ công từng bước được nâng cao, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, y tế; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 80% vào năm 2020.

Mức độ hài lòng của nhân dân cũng là chuẩn để đánh giá cải cách hành chính

Thứ tư: Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức:

a) Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước;

b) Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân thông qua các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có hiệu quả;

c) Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức, kể cả cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý;

d) Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm;

đ) Hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực, sở trường của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống;

e) Hoàn thiện quy định của pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức tương ứng với trách nhiệm và có chế tài nghiêm đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức;

g) Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng theo các hình thức: Hướng dẫn tập sự trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng bắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểu trước khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàng năm;

h) Tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản, bảo đảm được cuộc sống của cán bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội.

Sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ phụ cấp ngoài lương theo ngạch, bậc, theo cấp bậc chuyên môn, nghiệp vụ và điều kiện làm việc khó khăn, nguy hiểm, độc hại.

Đổi mới quy định của pháp luật về khen thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ và có chế độ tiền thưởng hợp lý đối với cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành xuất sắc công vụ;

i) Nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

Thứ năm : Cải cách tài chính công:

a) Động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội; tiếp tục hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, các chính sách về thu nhập, tiền lương, tiền công; thực hiện cân đối ngân sách tích cực, bảo đảm tỷ lệ tích lũy hợp lý cho đầu tư phát triển; dành nguồn lực cho con người, nhất là cải cách chính sách tiền lương và an sinh xã hội; phấn đấu giảm dần bội chi ngân sách;

b) Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty; quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ nước ngoài; giữ mức nợ Chính phủ, nợ quốc gia và nợ công trong giới hạn an toàn;

c) Đổi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ chế xây dựng, triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo hướng lấy mục tiêu và hiệu quả ứng dụng là tiêu chuẩn hàng đầu; chuyển các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; phát triển các doanh nghiệp khoa học, công nghệ, các quỹ đổi mới công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm; xây dựng đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng nhân tài khoa học và công nghệ;

d) Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chế cấp ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước;

đ) Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, dân số – kế hoạch hóa gia đình, thể dục, thể thao.

Đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; từng bước thực hiện chính sách điều chỉnh giá dịch vụ sự nghiệp công phù hợp; chú trọng đổi mới cơ chế tài chính của các cơ sở giáo dục, đào tạo, y tế công lập theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch. Chuẩn hóa chất lượng dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế; nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo, khám chữa bệnh, từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh; có lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.

Thứ sáu: Hiện đại hóa hành chính: ứng dụng tin học hóa vào cải cách hành chính

a) Hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước để đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau;

b) Ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công;

c) Công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet. Xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức và cá nhân, đáp ứng yêu cầu đơn giản và cải cách thủ tục hành chính;

d) Thực hiện có hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng trong các cơ quan hành chính nhà nước;

đ) Thực hiện Quyết định số 1441/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đầu tư trụ sở cấp xã, phường bảo đảm yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước;

e) Xây dựng trụ sở cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương hiện đại, tập trung ở những nơi có điều kiện.

Trong các nhiệm vụ cải cách hành chính, nhiệm vụ nào còn bất cập tại cơ quan của anh chị? Nêu nguyên nhân và đề xuất giải pháp?

Câu 9. Hãy đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ, công chức, viên chức tại cơ quan, đơn vị?

Việc đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung cơ bản của công cuộc cải cách hành chính được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã thực hiện nhiều hoạt động cải cách trong công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, đội ngũ cán bộ, công chức còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Cơ cấu, chất lượng của đội ngũ công chức vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước. Một trong các nguyên nhân sâu xa dẫn đến những hạn chế trên là do công tác quản lý cán bộ, công chức còn nhiều bất cập, hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.

Do đó, tiếp tục đổi mới công tác quản lý đội ngũ công chức trong nền công vụ là một yêu cầu có tính tất yếu khách quan, vừa mang tính cấp thiết và vừa mang tính kế thừa, thường xuyên, liên tục và lâu dài trong các giai đoạn phát triển của đất nước

Công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức bao gồm nhiều nội dung, công việc với các khâu: tuyển dụng, sử dụng, bố trí, giám sát, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng, thực hiện chính sách chế độ đối với cán bộ, công chức, xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng, đãi ngộ nhân tài, thu hút nhân tài vào nền công vụ. Trong các nội dung này, có những khâu theo trình tự, nhưng cũng có những khâu tiến hành song song, đan xen nhau, có quan hệ tương hỗ với nhau…. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến 2 nội dung cơ bản của công tác quản lý công chức, đó là đổi mới công tác tuyển dụng công chức và đổi mới công tác đánh giá công chức – đây là hai nội dung được đánh giá là khó và yếu nhất tồn tại nhiều năm qua. Để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá công chức đóng góp một phần đáng kể cho chiến lược quản lý nguồn nhân lực công cho đất nước hiện tại cũng như trong dài hạn.

Đổi mới công tác tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý công chức, có tính quyết định cho sự phát triển một cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước. Trong quá trình vận hành của nền công vụ, việc tuyển dụng được những công chức giỏi thì nhất định nền công vụ sẽ hoạt động đạt kết quả cao hơn vì công chức nhà nước là nhân tố quyết định đến sự vận hành của một nền công vụ. Như Bác Hồ đã từng nói: “cán bộ là gốc của mọi công việc“.

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã đổi mới căn bản việc quản lý công chức về nội dung tuyển dụng công chức, đó là việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế và thông qua thi tuyển theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh. Hình thức thi, nội dung thi tuyển công chức phải phù hợp với ngành, nghề, đảm bảo lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng. Luật cũng quy định hình thức tuyển dụng thông qua xét tuyển với các trường hợp đặc biệt.

Như vậy, việc tuyển dụng công chức trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian tới phải thực sự xuất phát từ nhu cầu công việc, vì việc tìm người thay vì người để sắp xếp, bố trí việc. Để làm được điều này phải kết hợp đồng bộ cùng với các giải pháp khác như các cơ quan nhà nước phải xây dựng được hệ thống danh mục vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức của cơ quan, tổ chức mình, từ đó mới có cơ sở để tuyển dụng đúng người, đúng việc, đúng số lượng, đảm bảo cơ cấu hợp lý.

Công tác tuyển dụng phải luôn đặt ở trạng thái “động”, có sự liên thông nhất định giữa nguồn nhân lực khu vực công với nguồn nhân lực khu vực tư. Do đó, việc xây dựng vị trí việc làm với bản mô tả công việc của mỗi vị trí chức danh với những nhiệm vụ hết sức cụ thể, chi tiết, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc, các ứng xử cần thiết cho từng vị trí, để từ đó mới có cơ sở tuyển dụng nguồn nhân lực “đúng người” đáp ứng được yêu cầu của vị trí việc làm. Tiếp tục nghiên cứu quy định cho phép các cơ quan hành chính được ký hợp đồng lao động có thời hạn tối đa nhất định đối với một số vị trí việc làm để tuyển dụng được công chức đáp ứng ngay yêu cầu của hoạt động công vụ, đó là cơ sở, nền tảng để từng bước đổi mới chế độ công vụ, công chức theo hướng năng động, linh hoạt. Cơ chế hợp đồng lao động có thời hạn nhất định sẽ tạo ra khả năng linh hoạt hơn trong thay đổi nhân sự, đồng thời cũng buộc nhiều công chức đang làm việc phải làm việc tích cực hơn. Qua đó tạo sự liên thông, thu hút nhân tài từ khu vực tư nhân vào khu vực công tốt hơn.

Xem thêm: Mẫu Thông Báo Ngừng Cung Cấp Hàng Hóa, Thông Báo Tạm Ngừng Thực Hiện Hợp Đồng

Để công tác tuyển dụng mang tính “động” và “mở” đòi hỏi công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực phải trên cơ sở các hoạt động phân tích, đánh giá về nguồn nhân lực hiện tại để dự báo về nguồn nhân lực tương lai, các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến nền công vụ. Ngoài ra, việc tuyển dụng mới công chức cần gắn với việc cơ cấu lại tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế công chức theo mục tiêu đổi mới về chất, thay thế mạnh những người không đáp ứng được yêu cầu thực thi công vụ trong nền hành chính hiện đại. Có như vậy mới xây dựng được nền công vụ “mở”, nghĩa là có tuyển dụng vào nếu đáp ứng được yêu cầu của vị trí việc làm và vị trí việc làm còn trống, có cơ chế chuyển ra (cho thôi việc, chuyển vị trí công tác khác…) nếu không còn đáp ứng được yêu cầu công việc.

Một trong những giải pháp thực hiện thời gian vừa qua do Bộ Nội vụ đi đầu, cũng đã và đang phối hợp cùng một số bộ, ngành và địa phương hiện nay nhằm nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức và thi nâng ngạch công chức, là ứng dụng công nghệ tin học vào thi tuyển công chức bước đầu đã thu được một số kết quả khả quan, được dư luận đánh giá cao. Việc ứng dụng công nghệ tin học vào tuyển dụng công chức không phải là mới đối với các quốc gia có nền công vụ phát triển nhưng là mới đối với

Viết một bình luận