bdtx modun 23

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (324.7 KB, 17 trang )

Đang xem: Bdtx modun 23

PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HUẾ
TRƯỜNG THCS NGUYỄN VĂN LINH
—-    —-

BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
NỘI DUNG 3: MODULE 23, 24, 28, 29
Năm học: 2015 – 2016

Giáo viên:
Tổ:

Năm học 2015 – 2016

TRƯỜNG THCS NGUYỄN VĂN LINH
Tổ:
——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————–

BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
NỘI DUNG 3: MODULE 23, 24, 28, 29
A. THÔNG TIN CÁ NHÂN
1. Họ và tên:
Giới tính:
2. Ngày tháng năm sinh:
Ngày vào ngành:

3. Trình độ chuyên môn:
4. Tổ chuyên môn:
Môn dạy:
5. Trình độ ngoại ngữ:
Trình độ tin học:
6. Chức vụ:
7. Kiêm nhiệm:
B. KẾT QUẢ BỒI DƯỠNG
Module 23: KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
Nội dung 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1. Phân biệt một số khái niệm về KTĐG kết quả học tập của học sinh
* Kết quả học tập của HS hay thành tích học tập của học sinh trong tiếng Anh
thường sử dụng các từ như “Achievement; Result; Learning Outcome”.
Theo Từ điển Anh Việt thì:
– “Achievement” có nghĩa là thành tích, thành tựu; sự đạt được, sự hoàn thành.
– “Result” có nghĩa là kết quả.
– “Learning Outcome” là kết quả học tập.
Các từ này thường được dùng thay thế cho nhau, tuy nhiên, từ chúng ta thường
gặp khi đọc tài liệu nói về kết quả học tập là “Learning Outcome”.
Trong cuốn “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của HS phổ
thông”, tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc đã đưa ra cách hiểu về KQHT như
sau:
“Kết quả học tập là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác
nhau trong thực tế cũng như trong khoa học.
(1). Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong
mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định.
(2). Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một học sinh so với các bạn học
khác.”
Theo Nguyễn Đức Chính thì: Kết quả học tập là mức độ đạt được kiến thức, kĩ
năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực nào đó (môn học).

Theo Trần Kiều, dù hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập cũng đều thể hiện ở
mức độ đạt được các mục tiêu của dạy học, trong đó bao gồm 3 mục tiêu lớn là: nhận
thức, hành động, xúc cảm.
Với từng môn học thì các mục tiêu trên được cụ thể hóa thành các mục tiêu về
kiến thức, kỹ năng và thái độ
Theo Norman E. Gronlund, trong cuốn “Measurement and Evaluation in
Teaching”, ông đã bàn đến “learning outcomes” như sau:
“Mục đích của giáo dục là sự tiến bộ của HS. Đây chính là kết quả cuối cùng
của quá trình học tập nhằm thay đổi hành vi của học sinh.

2

Khi nhìn nhận mục tiêu giáo dục theo hướng kết quả học tập, cần phải lưu tâm rằng
chúng ta đang đề cập đến những sản phẩm của quá trình học tập chứ không phải bản
thân quá trình đó.
Mối liên hệ giữa mục tiêu giáo dục (sản phẩm) và kinh nghiệm học tập (quá
trình) được thiết kế nhằm hướng tới những thay đổi hành vi theo như mong muốn.
* Kiểm tra là một tiến trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều
đã được hoạch định, đồng thời sửa chữa những sai lầm để đảm bảo việc đạt được mục
tiêu theo như kế hoạch hoặc các quyết định đã được đề ra.
* Đo lường là một quá trình đánh giá định lượng một đại lượng cần đo để có kết
quả bằng số so với đơn vị đo. Hoặc có thể định nghĩa rằng đo lường là hành động cụ
thể thực hiện bằng công cụ đo lường để tìm trị số của một đại lượng chưa biết biểu thị
bằng đơn vị đo lường.
* Đánh giá kết quả học tập là gì ?
Theo Đỗ Công Tuất, việc đánh giá HS nhằm các mục đích sau:
(1) Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học,
tình trạng kiến thức, kĩ năng, kỉ xão, thái độ của HS so với yêu cầu của chương trình;
phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót đó, giúp học sinh điều

chỉnh hoạt động học tập của mình.
(2) Công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của mỗi em HS
và cả tập thể lớp, tạo cơ hội cho các em có kĩ năng tự đánh giá, giúp các em nhận ra sự
tiến bộ của mình, khuyến khích động viên và thúc đẩy việc học tập ngày một tốt hơn.
(3) Giúp giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của
mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất
lượng và hiệu quả dạy học.
Như vậy việc đánh giá kết quả học tập của HS nhằm:
– Nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động học tập của HS.
– Tạo điều kiện nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động giảng
dạy của giáo viên.”
Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng, “Đánh giá kết quả học tập của
HS là đưa ra những nhận định, những phán xét về mức độ thực hiện mục tiêu giảng
dạy đã đề ra của HS. Từ đó đưa ra các giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy của thầy
và phương pháp học của trò, đưa ra các khuyến nghị góp phần thay đổi các chính sách
giáo dục.”
2. Mục đích, chức năng của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
* Vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh: Kiểm tra, đánh
giá có tầm quan trọng đặc biệt vì:
Thứ nhất: Kiểm tra là khâu cuối cùng, đồng thời cũng là khâu mở đầu cho một
chu trình tiếp theo của quá trình dạy học. Ở khâu cuối cùng, kiểm tra giúp GV đánh
giá được chất lượng học tập của HS đồng thời cũng giúp GV tự đánh giá việc giảng
dạy của mình. Ở khâu tiếp theo (tức là trước khi vào bài mới), kiểm tra giúp HS liên
kết mạch kiến thức, dựa trên kiến thức cũ để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức mới.
Thứ hai: Kiểm tra, đánh giá giúp GV hiểu rõ việc học tập của HS, phát hiện
những thiếu sót trong kiến thức, kĩ năng để kịp thời sửa chữa.
Thứ ba: Kiểm tra, đánh giá sẽ hình thành cho HS ý chí quyết tâm đạt kết quả
cao trong học tập.
Thứ tư: Kiểm tra đánh giá giúp HS hình thành và rèn luyện những kĩ năng trong
học tập và cuộc sống như nói, viết, cách trình bày một vấn đề khúc triết, rõ ràng.

* Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá

3

– Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi HS và tập
thể lớp, tạo cơ hội cho HS phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp HS nhận ra sự tiến bộ
của mình, khuyến khích động viên việc học tập.
– Giúp cho GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của
mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phân đấu không ngừng nâng cao chất lượng và
hiệu quả dạy học.
Như vậy, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định
hướng, điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực
trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
* Chức năng của việc kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra đánh giá có 3 chức năng cơ
bản:
1. Đánh giá: Xác nhận thành tích học tập của HS so với hs khác hoặc làm sáng
tỏ mức độ đạt hay chưa đạt được của hs về kiến thức, kỹ năng và thái độ so với mục
tiêu bài học.
2. Phát hiện lệch lạc: Trên cơ sở đánh giá kết quả học tập, GV có thể phát hiện
những mặt tốt, những mặt chưa tốt, điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn cúng như
tìm ra những nguyên nhân của những sai sót trong quá trình dạy học.
3. Điều chỉnh: Từ việc phát hiện những sai sót trong quá trình dạy học, GV có
thể tìm ra phương pháp điều chỉnh quá trình học tập của hs, đồng thời bổ sung hoàn
thiện hoạt động dạy học của mình.
Ba chức năng này liên kết đan xen, bổ sung và thống nhất với nhau. Qua việc
kiểm tra đánh giá này giúp hs tìm ra những điểm thành tích, sai sót của mình từ đó rút
kinh nghiệm cho bản thân. Chính nhờ những đánh giá này đã đem đến những giải pháp
cải thiện thực trạng nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học và thông qua đó điều chỉnh
phương pháp dạy học của GV và hướng cho HS cách tự đánh giá để điều chỉnh

phương pháp học tập một cách hiệu quả nhât.
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập rất cần thiết vì:
– Giúp GV nắm được tình hình học tập của HS, mức độ phân hóa về trình độ
học lực của HS trong lớp, có biện pháp giúp đỡ những HS yếu kếm, bồi dưỡng HS
giỏi.
– Giúp HS biết được khả năng học tập của HS so với mục tiêu bài học, xác định
nguyên nhân thành công cũng như không thành công trong việc tiếp thu kiến thức căn
bản.
– Giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đề ra những phương pháp đổi mới
phù hợp nhằm năng cao chất lượng giáo duc, cải thiện HS yếu, kém, giúp HS cách
năm được kiến thức căn bản nhất trong học tâp.
– Tạo cơ hội cho HS phát triển kỹ năng, giúp HS nhận ra sự tiến bộ của mình,
khuyến khích, động viên trong học tập, tinh thần phấn khởi dễ dàng tiếp thu được kiến
thức căn bản nhất.
Việc kiểm tra, đánh giá có nghĩa vô cùng quan trong đối với HS, GV, cán bộ
quản lý:
– Việc kiểm tra, đánh giá có hệ thống và thương xuyên cung cấp thông tin
ngược giúp người học điều chỉnh được hoạt động học hiệu quả.
– Giúp HS thấy được mình đã tiếp thu được kiến thức đã học ở mức độ nào, chỗ
nào cần bổ sung, chỗ nào cần điều chỉnh sai sót.
– Giúp HS tái hiện, ghi nhớ, khái quát hóa, hệ thông hóa nhăm phát triển tư duy
sáng tao, linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế.

4

– Giúp HS có tinh thần trách nhiệm cao, có ý chí vươn lên trong học tập, nâng
cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan tự mãn trong học tâp.
Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách trong đó phải đề cập
đến quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của hs. Điều này đóng vai trò quan

trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Kết quả kiểm tra đánh giá là cơ sở để
điều chỉnh hoạt động dạy và học hiệu quả.
Nếu đánh giá sai, kiểm tra sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo, gây
tác hại lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Kiểm tra, đánh giá đúng thực tế, chính
xác, khách quan giúp người học tự tin, hăng say nâng cao năng lực sáng tao trong học
tập. Giúp GV biết được mức độ điều chỉnh kịp thời phương pháp dạy cho phù hợp với
HS.
3. Thực hiện các bước cơ bản trong KTĐG kết quả học tập của học sinh
Tùy thuộc và đối tượng đánh giá, cấp độ và phạm vi đánh giá mà mỗi loại hình
đánh giá sẽ được tiến hành theo những bước khác nhau, nhưng nhìn chung đánh giá
thường bao gồm các bước sau:
Bước 1: Quyết định đánh giá. Trả lời câu hỏi: có cần phải đánh giá vấn đề này
không?
Bước 2: Xây dựng các tiêu chí đánh giá. Cần chỉ rõ mục tiêu đánh giá, các tình
huống được đánh giá và các biến số, các mức độ đạt được mục tiêu và mức độ dao
động của các biến số. Đánh giá sẽ càng có giá trị khi các tiêu chuẩn càng rõ ràng và
phù hợp. Ngoài ra, các tiêu chí đánh giá còn cần được thông báo cho các hs để tạo ra
sự thống nhất giữ người đánh giá và người được đánh giá.
Bước 3: Thu thập các thông tin thích đáng. Tùy theo những quyết định và
những tiêu chí đã được công nhận để xác định những thông tin cần thu nhập, những
tình huống và những công cụ cần thiết để đánh giá.
Bước 4: Đối chiếu các tiêu chí đã được thống nhất với các thông tin đã thu thập.
Cần lưu ý tỉ trọng giữa các tiêu chí và việc khái quát hóa các thông tin.
Bước 5: Kết luận phải thật chính xác trước khi công bố kết luận đó.
Bước 6: Đưa ra những nhận định về giá trị và đề xuất hướng phát triển hoặc
biện pháp để cải thiện tình hình.
4. Xác định yêu cầu đối với KTĐG kết quả học tập của học sinh
+ Thứ nhất: Tính quy chuẩn: Phải đảm bảo mục tiêu hoạt động dạy và học, đảm
bảo lợi ích người được đánh giá và phát triển được. Phải trả lời những câu hỏi sau:
– Mục tiêu đánh giá?

– Nội dung đánh gía?
– Tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá?
– Đánh giá bằng phương pháp, phương tiện nào?
– Ai đánh giá?
– Thời điểm đáng giá?
– Địa điểm đánh giá?
– Quyền lợi và trách nhiệm người được đánh giá?
– Tính pháp lý của việc đánh giá?
+ Thứ hai: Tính khách quan: Khách quan là yêu cầu đương nhiên của mọi cuộc
đánh giá. Nếu việc đánh giá khách quan sẽ có tác dụng kích thích động cơ và tính tích
cực học tập của người học. Đồng thời duy trì và phát triển mối quan hệ thân thiện,
đoàn kết giữa các hs. Ngược lại nếu đánh giá thiếu tính khách quan sẽ dễ nảy sinh các
tác động xấu, tiêu cực đến hoạt động của người học, làm giảm hiệu quả đích thực của
học tập. tính khách quan của việc đánh giá phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực nghiệp

5

vụ của người đánh giá phụ thuộc vào tính quy chuẩn của việc đánh giá và phụ thuộc
vào quan điểm, phương pháp, phương tiện đánh giá.
+ Thứ ba: Tính xác nhận và phát triển: Tính xác nhận là việc đánh giá phải
khẳng định được nội dung được đánh giá so với mục tiêu đánh giá và nguyên nhân của
hiện trạng đó, dựa trên những tư liệu khoa học chính xác và các lập luận xác đáng.
+ Thư tư: Tính nhân đạo và phát triển: giúp cho người được đánh giá không
chỉ nhận ra hiện trạng cái mình đạt được mà còn có niềm tin vào khả năng trong việc
tiếp tục phát triển hoặc khắc phục những điểm không phù hợp.
* Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thiếu khách quan, thiếu chính xác
trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS thường thể hiện ở:
– Công cụ kiểm tra, đánh giá; tổ chức kiểm tra, đánh giá.
– Tâm trạng, sức khỏe của các đối tượng được kiểm tra, đánh giá.

– Chủ quan của các chủ thể tham gia vào kiểm tra, đánh giá.
* Các xu hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập hiện nay là:
– Chuyển dần trọng tâm từ việc đánh giá kết quả cuối cùng sang đánh giá cả quá
trình.
– Chuyển từ xem xét đánh giá như là một hoạt động độc lập với quá trình dạy
học sang là một bộ phận tích hợp của quá trình dạy học.
– Chuyển từ giữ kín các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá sang công khai các tiêu
chuẩn, tiêu chí.
– Chuyển từ đánh giá các kỹ năng riêng lẻ đánh giá sang các kỹ năng tổng hợp.
– Từ đánh giá dựa trên ít thông tin sang dựa trên nhiều thông tin, đa dạng; người
học tự đánh giá và đánh giá từ các chủ thể khác nhau.
Nội dung 2: Các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1. Kiểm tra vấn đáp
1.1 Khái niệm: Kiểm tra miệng là phương pháp đánh giá rất phổ biến trong dạy học.
Trong đó GV đưa ra các câu hỏi ngắn để HS trả lời. HS có thể được chuẩn bị, hoặc
không được chuẩn bị trước câu hỏi. Căn cứ vào câu trả lời, GV có thể đo lường và
đánh giá các kết quả đạt được ở HS
a. Điểm mạnh
– Tính linh hoạt, cơ động
– Có thể kiểm tra trí nhớ, tư duy hay các phẩm chất tâm lý khác
– Có thể tiến hành trong và ngoài lớp học.
– Dùng để đánh giá HS trước, trong và kết thúc khóa học.
– Giá trị chẩn đóan các câu hỏi miệng khá cao, vì GV có điều kiện trao đổi với
từng HS và kích thích tư duy của họ
b. Hạn chế
– Phương pháp đánh giá mang đậm chất chủ quan của GV (cách đặt câu hỏi,
nhận xét và đánh giá tức thời)
– Khó so sánh giữa các HS
– Tốn nhiều thời gian trong quá trình kiểm tra
– Nhiều HS ngại tiếp xúc, ngại nói trước mặt GV, ảnh hưởng đến kết quả bài thi

1.2. Một số gợi ý khi sử dụng phương pháp đánh giá bằng vấn đáp.
– Xác định rõ ràng mục đích của bài kiểm tra vấn đáp
+ Nhằm mục đích gì
+ Đánh giá nhanh kiến thức của HS trong giờ học hay bài thi hết môn, cuối
khóa

6

– Câu hỏi nên được soạn trước để HS có thời gian chuẩn bị, nhất là đối với bài
thi cuối khóa.
– Dung lượng câu hỏi không quá dài. Nội dung phải phù hợp với mục tiêu đánh
giá. Không đề cập nhiều nội dung trong một câu hỏi. Hạn chế câu hỏi có tính chất học
thuộc. Khuyến khích các câu hỏi suy luận và kích thích tư duy của HS
– Câu hỏi rõ rang, nhất quán, ngôn ngữ chính xác
– Thái độ hỏi thi của GV có ảnh hưởng rất lớn đến câu trả lời của HS. Không
nên có thái độ quan tòa trong lúc hỏi thi. Có những câu hỏi phụ để gợi mở. Tối kị nhìn
người cho điểm.
2. Bài kiểm tra tự luận
2.1 Khái niệm: Bài kiểm tra (bài thi) dạng tự luận truyền thống là bài thi trong đó, hs
tự do viết câu trả lời ra giấy về một vấn đề cho trước. Dựa vào những câu trả lời được
viết ra , GV cần cho điểm hoặc xác định các mức độ kết quả bài thi.
– Phân biệt:
+ Bài thi tự luận: số lượng câu hỏi ít và có tính mở.
+ Trong bài trắc nghiệm tự luận ngắn: số lượng câu hỏi nhiều và có tính xác
định cao.
– Một số ưu điểm và hạn chế của bài kiểm tra tự luận:
+ Ưu điểm
– Có khả năng đo lường được các mục tiêu đã xác định trước.
– Khả năng độc lập suy nghĩ, phát huy tính sáng tạo trí tuệ và cảm xúc của HS

– Đánh giá được kiến thức và thái độ của HS
+ Hạn chế
– Nội dung bài thi khó bao quát tòan bộ chương trình, chỉ tập trung vào một số
ít phần chính.
– Khó xác định các tiêu chí đánh giá. Bài thi khó chấm và chấm lâu.
– Khó đảm bảo tính khách quan trong khâu chấm bài , mang tính chủ quan của
người chấm.
2.2 Một số gợi ý khi sử dụng phương pháp
– Xác định rõ ràng mục tiêu đánh giá
– Câu hỏi phải phù hợp với nội dung và mục tiêu học tập.
– Sắp xếp các câu theo trình tự từ dễ đến khó.
– Quy định thời gian và điểm cho mỗi câu hỏi
– Chấm bài phải có và chấm theo đáp án.
3. Bài kiểm tra trắc nghiệm
3.1 Khái niệm: Phương pháp đánh giá bằng bài thi trắc nghiệm là phương pháp sử
dụng bài trắc nghiệm làm công cụ để đánh giá kết quả học tập của HS
* Phân loại:
– Căn cứ vào giáo dục, ta chia thành hai loại:
+ TN năng lực: đo về năng lực của cá nhân (TN trí tuệ, TN năng khiếu…)
+ TN kết quả học tập: đánh giá tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ của HS.
– Căn cứ vào mục đích sử dụng kết quả TN:
+ TN đối chiếu: so sánh kết quả học tập giữa các HS
+ TN theo tiêu chí: xác định khả năng hay kết quả học tập của HS so với mục tiêu đề
ra ban đầu.
– Căn cứ vào nội dung môn học:
+ TN viết
+ TN phi ngôn ngữ

7

+ TN dùng lời
* Ưu điểm – hạn chế của Trắc nghiệm
+ Ưu điểm
– Bài TN có thể đo được dải khá rộng các mức độ kết quả học tập của HS – theo mục
tiêu: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá. Ngoài ra còn đo được các
mục tiêu cảm xúc và tâm vận của HS
– Tính khách quan cao.
– Tính bao quát về nội dung lẫn đối tượng cao
– Tiết kiệm thời gian (làm nhanh, dễ chấm, chấm nhanh…)
+ Hạn chế
– Khó đánh giá chiều sâu trong nhận thức của hs, đặc biệt là sức sáng tạo của HS
– Việc soạn thảo bài trắc nghiệm khó, đòi hỏi người soạn phải có kĩ thuật, kinh nghiệm
– Việc soạn thảo hình thành bài TN tốn nhiều thời gian, qua nhiều công đoạn
phức tạp, tốn kinh phí.
3.2 Các loại câu hỏi trắc nghiệm
* Câu hỏi lựa chọn: Câu hỏi lựa chọn là loại câu hỏi, trong đó có phần gốc và
phần trả lời. Phần gốc là một câu dẫn, tạo cơ sở cho sự lựa chọn. Phần trả lời là các
phương án cho sẵn, trong đó có một phương án đúng nhất theo nội dung của phần dẫn,
còn các phương án khác có tác dụng gây nhiễu. Trong một câu hỏi, tốt nhất là nên có
từ
4-5 phương án lựa chọn.
* Câu hỏi đúng – sai: Câu hỏi đúng – sai là loại câu khẳng định hoặc phủ định
về một vấn đề nào đó. HS phải đọc, suy nghĩ và nhận định lời khẳng định hoặc phủ
định đó là đúng hay sai.
– Câu hỏi đúng sai phù hợp để hỏi những sự kiện, thuật ngữ và các kiến thức có
quan hệ nhân quả. Dễ khuyến khích người trả lời phỏng đoán, không phù hợp khi dùng
đo các kiến thức có tính suy luận cao, vì vậy không nên dùng nhiều trong các bài trắc
nghiệm.
* Câu hỏi ghép đôi: Câu ghép đôi là câu hỏi có hai phần: phần dẫn và phần trả

lời. Phần dẫn thường ở bên trái, là các câu, các mệnh đề nêu thuật ngữ, nội dung, định
nghĩa…Phần trả lời là phần bên phải, cũng bao gồm các câu, mệnh đề…mà nếu được
ghép đúng vào mệnh đề dẫn ở bên trái sẽ trở thành một phương án đúng, một ý hoàn
chỉnh. Nhiệm vụ của hs là ghép mệnh đề có trong phần trả lời vào mệnh đề tương ứng
ở phần dẫn.
* Câu hỏi điền thế
* Câu hỏi ngắn
4. Phương pháp quan sát: Vấn đề đặt ra trong quan sát:
Khi nào thì quan sát?
Ai quan sát?
Quan sát như thế nào?
Những suy luận nào được rút ra khi thu được những thông tin khi quan sát.
Phương pháp quan sát
Quan sát khi nào thì hiệu quả nhất:
Quan sát HS trong tình huống giả định: khi HS thảo luận nhóm về một vấn đề
mà GV đưa ra.
Quan sát HS trong tình huống tự nhiên: những mẩu chuyện tình cờ, tình huống
diễn ra tự nhiên
* Ưu điểm đối với quan sát

8

– Thuận lợi để đánh giá thái độ, cung cấp cho GV những thông tin bổ sung có
giá trị mà những thông tin này khó đo được bằng các phương pháp khác
Quan sát thường xuyên có thể cung cấp một sự kiểm tra liên tục về sự tiến bộ của hs
– GV có thể sửa lỗi kịp thời cho HS
* Hạn chế
Kết quả quan sát phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan của người quan sát.
Những yếu tố chi phối ảnh hưởng đến sai sót khi quan sát: ấn tượng ban đầu của GV

về HS, GV không quan tâm tới ảnh hưởng của mình tới HS, GV không quan tâm tới
việc lí giải các hành vi của HS hoặc lí giải không đúng
* Yêu cầu đối với phương pháp quan sát
– Xác định trước những sự kiện cần quan sát nhưng cũng cần chú ý đến những
sự kiện bất thường.
– Quan sát và ghi chép đầy đủ về sự kiện đặt trong một tình huống cụ thể để sự
kiện trở nên có ý nghĩa hơn.
– Sự kiện xảy ra cần phải được ghi chép lại càng sớm càng tốt.
Mỗi bản ghi chỉ nên tập trung vào 1 sự kiện.
– Quan sát cần lựa chọn: nếu quan sát một tập thể thì cũng tập chung vào một
vài cá nhân: Hs cá biệt, hs chậm chạp, hs có những biệu hiện lạ
Tự nhận xét và đánh giá (đánh giá theo thang điểm 10): 9 điểm
Module 24: KỸ THUẬT KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC
Nội dung 1. Các kỹ thuật kiểm tra, đánh giá định kì kết quả học tập của học sinh
1. Những hạn chế của việc xây dựng đề kiểm tra hiện nay
– GV chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc xây dựng đề kiểm tra.
– Các bước ra đề chưa được chú ý đúng mức như: ma trận, đề, đáp án, thang
điểm.
– Kĩ thuật viết đề chưa chuẩn.
– Soạn đề thiếu chiều sâu.
– Đề ít ý đến chú tính sáng tạo, có sự phân hóa quá thấp hoặc quá cao.
2. Để biên soạn đề kiểm tra cần thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1. Xác định mục đích của đề kiểm tra
Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của HS sau khi
học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học nên người
biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào mục đích yêu cầu cụ thể của việc kiểm tra, căn
cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của hs để xây dựng
mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp.
Bước 2. Xác định hình thức đề kiểm tra: Đề kiểm tra (viết) có các hình thức
sau:

1) Đề kiểm tra tự luận;
2) Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan;
3) Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu
hỏi dạng trắc nghiệm khách quan.
Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp
lý các hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng
cao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của hs chính xác hơn.
Nếu đề kiểm tra kết hợp hai hình thức thì nên có nhiều phiên bản đề khác nhau
hoặc cho HS làm bài kiểm tra phần trắc nghiệm khách quan độc lập với việc làm bài

9

kiểm tra phần tự luận: làm phần trắc nghiệm khách quan trước, thu bài rồi mới cho HS
làm phần tự luận.
Bước 3. Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra)
Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức, kĩ năng
chính cần đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của hs theo các cấp độ: nhận
biết, thông hiểu và vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độ thấp và vận dụng ở cấp độ
cao).
Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số
điểm, số lượng câu hỏi và tổng số điểm của các câu hỏi.
Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn
cần đánh giá, lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng
mạch kiến thức, từng cấp độ nhận thức.
KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA
(Dùng cho loại đề kiểm tra TL hoặc TNKQ)
Cấp độ
Tên

Nhận biết

Thông
hiểu

Vận dụng
Cấp độ
thấp

Cấp độ
cao

Chủ đề 1

Số câu
Số điểm
Tỉ lệ %
Chủ đề 2
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ %
………….

Chuẩn KT,
KN cần
kiểm tra
(Ch)
Số câu
Số điểm

(Ch)

(Ch)

(Ch)

Số câu
Số điểm

Số câu
Số điểm

Số câu
Số điểm

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

Số câu
Số điểm

Số câu
Số điểm

Số câu

Số điểm

Số câu
Số điểm

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
%

Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
%

Số câu
… điểm=…%

Số câu
… điểm=…%

……………
Chủ đề n
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ %
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỉ lệ %

Số câu
Số câu
Số điểm
Số điểm
Số câu
Số điểm
%

Số câu
… điểm=…%
Số câu
Số điểm

KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA
(Dùng cho loại đề kiểm tra kết hợp TL và TNKQ)
Cấp

Nhận biết

Thông hiểu

Cấp độ thấp

độ
Tên
Chủ đề ( nội
dung, chương…)
Chủ đề 1

Số câu
Số điểm Tỉ lệ %

TNKQ
Chuẩn
KT, KN
cần kiểm
tra (Ch)
Số câu
Số điểm

Cộng

Vận dụng
Cấp độ cao

TL

TNKQ

TL

TNKQ

TL

TNK
Q

TL

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

Số câu
Số
điểm

Số câu
Số

điểm

Số
câu
Số

Số câu
Số điểm

Số
câu
Số

Số
câu
Số

Số
câu
Số

10

Số
câu

điểm

điểm

điểm

điểm

điểm
=…%

Chủ đề 2
Số câu
Số điểm Tỉ lệ %

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

Số câu

Số điểm

Số câu
Số
điểm

Số câu
Số
điểm

Số
câu
Số
điểm

Số câu
Số điểm

Số
câu
Số
điểm

Số
câu
Số
điểm

Số
câu

Số
điểm

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

(Ch)

Số câu
Số điểm

Số câu
Số
điểm

Số câu
Số
điểm

Xem thêm: Mẫu Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Vụ Mới Nhất 2020, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Vụ

Số
câu
Số
điểm

Số câu
Số điểm

Số
câu
Số
điểm

Số
câu
Số
điểm

Số
câu
Số
điểm

Số
câu

điểm
=…%

………….

……………
Chủ đề n
Số câu
Số điểm Tỉ lệ %

Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỉ lệ %

Số câu
Số điểm
%

Số câu
Số điểm
%

Số câu
Số điểm
%

Số
câu

điểm
=…%
Số
câu
Số
điểm

Các bước cơ bản thiết lập ma trận đề kiểm tra:
B1. Liệt kê tên các chủ đề (nội dung, chương…) cần kiểm tra;
B2. Viết các chuẩn cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy;
B3. Quyết định phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương…);
B4. Quyết định tổng số điểm của bài kiểm tra;
B5. Tính số điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương…) tương ứng với tỉ lệ %;
B6. Tính tỉ lệ %, số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng;
B7. Tính tổng số điểm và tổng số câu hỏi cho mỗi cột;
B8. Tính tỉ lệ % tổng số điểm phân phối cho mỗi cột;
B9. Đánh giá lại ma trận và chỉnh sửa nếu thấy cần thiết.
Bước 4. Biên soạn câu hỏi theo ma trận
Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo nguyên tắc: loại câu hỏi, số
câu hỏi và nội dung câu hỏi do ma trận đề quy định, mỗi câu hỏi TNKQ chỉ kiểm tra
một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm.
Để các câu hỏi biên soạn đạt chất lượng tốt, cần biên soạn câu hỏi thoả mãn các
yêu cầu sau: (ở đây trình bày 2 loại câu hỏi thường dùng nhiều trong các đề kiểm tra)
a. Các yêu cầu đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
1) Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình;
2) Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số điểm
tương ứng;
3) Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể;
4) Không nên trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa;
5) Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi hs;
6) Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những hs không nắm vững kiến thức;
7) Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch của hs;
8) Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu hỏi khác
trong bài kiểm tra;
9) Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn;
10) Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất;

11

11) Không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “không có
phương án nào đúng”.
b. Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận
1) Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng của chương trình;
2) Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số điểm
tương ứng;
3) Câu hỏi yêu cầu hs phải vận dụng kiến thức vào các tình huống mới;
4) Câu hỏi thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;
5) Nội dung câu hỏi đặt ra một yêu cầu và các hướng dẫn cụ thể về cách thực hiện yêu
cầu đó;
6) Yêu cầu của câu hỏi phù hợp với trình độ và nhận thức của hs;
7) Yêu cầu hs phải hiểu nhiều hơn là ghi nhớ những khái niệm, thông tin;
8) Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải truyền tải được hết những yêu cầu của cán bộ
ra đề đến hs;
9) Câu hỏi nên gợi ý về: Độ dài của bài luận; Thời gian để viết bài luận; Các tiêu chí
cần đạt.
10) Nếu câu hỏi yêu cầu hs nêu quan điểm và chứng minh cho quan điểm của mình,
câu hỏi cần nêu rõ: bài làm của hs sẽ được đánh giá dựa trên những lập luận logic mà
hs đó đưa ra để chứng minh và bảo vệ quan điểm của mình chứ không chỉ đơn thuần là
nêu quan điểm đó.
Bước 5. Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm
Việc xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm đối với bài kiểm tra cần
đảm bảo các yêu cầu:
Nội dung: khoa học và chính xác. Cách trình bày: cụ thể, chi tiết nhưng ngắn gọn và
dễ hiểu, phù hợp với ma trận đề kiểm tra.
Cần hướng tới xây dựng bản mô tả các mức độ đạt được để hs có thể tự đánh giá được

bài làm của mình (kĩ thuật Rubric).
Bước 6. Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra
Sau khi biên soạn xong đề kiểm tra cần xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra,
gồm các bước sau:
1) Đối chiếu từng câu hỏi với hướng dẫn chấm và thang điểm, phát hiện những sai sót
hoặc thiếu chính xác của đề và đáp án. Sửa các từ ngữ, nội dung nếu thấy cần thiết để
đảm bảo tính khoa học và chính xác.
2) Đối chiếu từng câu hỏi với ma trận đề, xem xét câu hỏi có phù hợp với chuẩn cần
đánh giá không? Có phù hợp với cấp độ nhận thức cần đánh giá không? Số điểm có
thích hợp không? Thời gian dự kiến có phù hợp không? (gv tự làm bài kiểm tra, thời
gian làm bài của gv bằng khoảng 70% thời gian dự kiến cho hs làm bài là phù hợp).
3) Thử đề kiểm tra để tiếp tục điều chỉnh đề cho phù hợp với mục tiêu, chuẩn chương
trình và đối tượng hs (nếu có điều kiện, hiện nay đã có một số phần mềm hỗ trợ cho
việc này, gv có thể tham khảo).
4) Hoàn thiện đề, hướng dẫn chấm và thang điểm.
Nội dung 2: Các kỹ thuật kiểm tra, đánh giá hỗ trợ cho dạy học có kết quả
1. Quan sát
Quan sát, trong giáo dục học, được hiểu là phương pháp tri giác có mục đích
một hiện tượng sư phạm nào đó, để thu lượm những số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể,
đặc trưng cho quá trình diễn biến của hiện tượng.

12

Đây là một phương pháp được sử dụng rộng rãi, có thể tiến hành trong lớp hoặc
ngoài lớp thuận lợi cho việc thu thập thông tin để đánh giá về thái độ về giá trị của học
sinh.
Để giúp cho việc quan sát có hệ thống, có thể dùng các kỹ thuật sau để ghi
chép, thu thập những biểu hiện của học sinh trong quá trình giáo dục:
– Ghi chép chuyện vặt.

– Phiếu kiểm kê.
1. 1 Ghi chép chuyện vặt
Trong quá trình quan sát học sinh, giáo viên có thể ghi lại những chuyện vặt bất
chợt gặp phải, nó phản ánh những nét độc đáo về tính cách thái độ , hành vi của học
sinh; những tình huống, những sự cố trong hoạt động dạy học và giáo dục.
Việc ghi chép chuyện vặt thích hợp với việc đánh giá các em học sinh nhỏ tuổi,
những học sinh có nhu cầu đặc biệt, những hứng thú…
Trong quá trình quan sát, người giáo viên có thể dành cho mỗi em học sinh (đối
tượng quan sát) một tờ phiếu hoặc vài trang sổ tay để lần lượt ghi vào những điều cần
thiết đã quan sát được.
Sau một thời gian ghi chép, giáo viên có thể điểm lại các phiếu, có nhận xét và
đưa ra các giải pháp giúp đỡ các em cho phù hợp.
1.2 Phiếu kiểm kê
Trong quá trình quan sát, để nắm được mức độ thành thạo của học sinh về một
kỹ năng nào đấy trong học tập, người giáo viên sử dụng phương pháp dùng phiếu kiểm
kê.
1.3 Thang xếp loại
Là một phiếu kiểm kê nhưng có yêu cầu cao hơn, điều này được thể hiện ở chỗ
học sinh được xếp hạng theo thang 3 hoặc 5 bậc hoặc theo thứ tự A, B, C, D, E.
2. Câu hỏi kiểm tra
Trong quá trình dạy học, người giáo viên sử dụng các câu hỏi nhằm mục đích
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để giúp người giáo viên có kỹ thuật xây dựng và sử dụng câu hỏi, cần chú ý một
điểm sau:
2.1 Kỹ thuật đặt câu hỏi
Để xây dựng các câu hỏi, người giáo viên cần tuân theo các yêu cầu sau:
– Xác định mục đích, yêu cầu, nội dung của việc kiểm tra đánh giá để xây dựng
một hệ thống các câu hỏi chính và câu hỏi phụ có tính chất gợi ý.
– Đặt câu hỏi với nội dung chính xác, rõ ràng, dễ hiểu thốâng nhất, sát trình độ
học sinh… với hình thức gọn gàng, sáng sủa.

– Những câu hỏi do giáo viên xây dựng phải có tác dụng tích cực, kích thích tính
tích cực, độc lập tư duy, phát triển hứng thú nhận thức cho học sinh.
– Tránh đặt những câu hỏi chỉ cần trả lời “có” hoặc “không” và những câu hỏi
đánh lừa học sinh.
2.2 Các loại câu hỏi
Trong thực tiển dạy học, các giáo viên thường xây dựng các loại câu hỏi sau
đây:
– Những câu hỏi đòi hỏi học sinh phải giải thích các hiện tượng mới.
– Những câu hỏi đòi hỏi học sinh phải so sánh các sự vật hiện tượng.
– Những câu hỏi đòi hỏi học sinh phải hệ thống hóa, khái quát tri thức đã tiếp thu
được.
– Những câu hỏi đòi hỏi học sinh phải chứng minh các sự vật, hiện tượng.

13

– Những câu hỏi đòi hỏi học sinh phải giải quyết những mâu thuẫn giữa những
sự vật, hiện tượng.
– Những câu hỏi đòi hỏi học sinh phải vận dụng những tri thức đã học để giải
quyết những vấn đề thực tế.
– Những câu hỏi có hình thức khác nhau song cùng hỏi một nội dung.
3. Bài tập
Trong quá trình dạy học, người giáo viên có thể đưa ra các bài tập để kiểm tra,
đánh giá việc học tập của các em học sinh.
Bài tập, theo Từ điển Tiếng Việt 1997 (trang 25), được hiểu là: Bài ra cho học
sinh làm để tập vận dụng những điều đã học
Như vậy, bài tập nhằm mục đích giúp học sinh tập vận dụng tri thức. Nhưng
không chỉ có vậy, bài tập còn giúp học sinh:
– Củng cố những tri thức đã tiếp thu trên lớp
– Mở rộng, đào sâu tri thức

– Phát triển óc thông minh, sáng tạo
3.1 Các loại bài tập
Trong quá trình dạy học, người giáo viên sử dụng nhiều loại bài tập tùy theo
cách phân loại. Có thể tham khảo mấy cách phân loại sau đây:
a. Dựa vào mục đích của bài tập
Dựa vào mục đích của bài tập đề ra, người ta có các loại bài tập sau:
– Bài tập nhằm củng cố trí thức đã học.
– Bài tập nhằm vận dụng tri thức vào thực tế, tình huống nhất định.
– Bài tập nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa những tri thức đã học.
– Bài tập nhằm phát huy trí thông minh, sáng tạo của học sinh.
b. Dựa vào địa điểm thực hiện bài tập
Bài tập mà học sinh thực hiện – Đó là một căn cứ để phân loại bài tập. Nếu dựa
vào căn cứ này thì bài tập có hai loại:
– Bài tập trên lớp
Trong dạy học, người giáo viên có thể ra cho học sinh những bài tập làm ngay
tại lớp ở bước củng cố tiết học. Qua đó giáo viên nhanh chóng nắm được kết quả việc
nắm vững tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo mới thu của học sinh.
Có thể đọc đề bài cho các em chép vào tập vở, cũng có thể giáo viên chép bài
tập lên bảng và yêu cầu học sinh làm bài tại chỗ. Giáo viên là người theo dõi tình hình
làm bài, sau đó chỉ định một vài học sinh lên bảng trình bày lời giải. Những học sinh
khác theo dõi bổ sung. Sau đó giáo viên sửa chữa, từng em đối chiếu với lời giải của
mình.
Cũng có thể học sinh trao đổi tập cho nhau để giúp nhau kiểm tra kết quả.
– Bài tập ở nhà
Mục đích của việc ra bài về nhà cho học sinh là giúp giáo viên nhanh chóng
nắm được kết quả học tập của học sinh.
Bài tập về nhà cần được sửa chữa tại lớp vào đầøu tiết học sau hoặc trong tiết
sửa bài tập.
Giáo viên có thể chọn một số bài vở của học sinh để kiểm tra và chấm điểm.
Cần phát triển kịp thời những thiếu sót của học sinh để bổ sung và có kế hoạch

giúp đỡ riêng đối với những em yếu kém để các em thuận lợi trong việc tiếp thu những
bài học tiếp theo.
– Bài tập phát triển óc tìm tòi, sáng tạo

14

Trong số các bài tập giáo viên ra cho học sinh giải, cần lưu ý phải có những bài
tập nhằm phát triển óc tìm tòi, sáng tạo của học sinh
Để phát triển tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo cho học sinh, có thể sử dụng
một số bài tập sau:
a. Những bài toán không có câu hỏi:
Trong những bài toán này, người ta cố ý không nêu ra câu hỏi, những nó được
suy ra một cách lôgíc từ những quan hệ toán học đã cho. Học sinh luyện tập hiểu lôgíc
của những mối quan hệ và phụ thuộc đó. Bài toán sẽ được giải sau khi học sinh phát
biểu được câu hỏi.
b. Bài toán thiếu dữ kiện
Trong những bài toán này, thiếu một số dữ kiện, vì thế không thể trả lời chính
xác câu hỏi đặt ra được. Học sinh phải phân tích bài toán và chứng minh tại sao không
thể trả lời chính xác câu hỏi của bài toán này được. Cần phải thêm những gì vào các
điều kiện của bài toán để giải được nó.
c. Bài tập thừa dữ kiện
Trong những bài toán này, người ta cố ý đưa vào những dữ kiện bổ sung, không
cần thiết, làm che lấp những chỉ số cần thiết để giải bài toán. Học sinh phải tách ra cái
cần thiết và chỉ ra cái thừa.
d. Những bài toán có nhiều cách giải
Loại bài toán có nhiều cách giải nhằm hình thành cho học sinh năng lực di chuyển từ
thao tác tư duy trí tuệ này sang thao tác tư duy trí tuệ khác, từ phương thức hành động
này sang phương thức hành động khác (rèn luyện tính mềm dẻo của tư duy)
e. Bài tập có nội dung thay đổi.

Loại bài tập này giúp học sinh hình thành năng lực di chuyển từ thao tác trí tuệ
đã được củng cố vững chắc sang thao tác khác.
f. Bài toán chứng minh.
Loại bài tập này giúp học sinh hình thành năng lực suy luận lôgíc và năng lực biện
luận.
g. Bài tập suy luận lôgíc, nhanh trí.
Loại bài tập này giúp học sinhphát triển kỹ năng suy luận lôgíc, sự nhanh trí.
4. Báo cáo nhỏ của học sinh
Trong quá trình dạy học, người giáo viên, dựa trên mục đích, nội dung, đặc
điểm môn học, những điều kiện cho phép mà có thể tạo cơ hội cho các em học sinh :
– Tường trình bài thực hành, thí nghiệm
– Biểu diễn một động tác thể dục
– Trình bày một ca khúc
– Giới thiệu một bức họa
– Tóm tắt một tài liệu tham khảo…
5. Học sinh tự đánh giá
Ngay từ những lớp dưới, đặc biệt khi học sinh ở những lớp trên, người giáo
viên cần hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá bản thân và tham gia đánh giá lẫn nhau.
Làm được điều này sẽ giúp cho các em :
– Thấy được những mặt mạnh, yếu của mình.
– Thấy được sự tiến bộ (hay thụt lùi) so với thời gian trước.
– Nâng cao ý thức trách nhiệm của bản thân đối với việc học tập, rèn luyện, tu
dưỡng …
Giáo viên có thể trao cho học sinh phiếu kiểm kê, thang xếp hạng, đáp án, biểu điểm
để học sinh tự đánh giá…

15

Ví dụ:

1. Phiếu học sinh tự đánh giá kỹ năng học tập của bản thân
Mức độ kỹ năng

Tốt Khá T.Bình Yếu Kém

1. Chuẩn bị cho bài mới
2. Ghi bài giảng
3. Đọc sách, tài liệu
4. Trả lời trên lớp
5. Nhận xét câu trả lời của bạn….

2. Phiếu đánh giá giờ dạy của giáo viên trong đợt thực tập
Mức độ Kỹ năng

Tốt Khá T.Bình Yếu Kém

Cấu trúc bài soạn
Trình bày bài soạn
Viết bảng
Đặt câu hỏi kiểm tra bài cũ
Dẫn dắt học sinh vào bài mới
Củng cố sơ bộ bài mới …

Tự nhận xét và đánh giá (đánh giá theo thang điểm 10): 9 điểm
Module 28: KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HỌC SINH
TRONG TRƯỜNG THCS
Nội dung 1: Vai trò của việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục học sinh THCS
Việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục học sinh trong nhà trường là quan
trọng và cần thiết, bởi kế hoạch giúp hiện thực hóa mục tiêu giáo dục của nhà trường
là hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh, giúp cán bộ quản lý và

giáo viên trong nhà trường biết được các hoạt động giáo dục cần phải thực hiện trong
năm, giúp việc kiểm tra đánh giá các hoạt động giáo dục một cách nhanh chóng và
chính xác.
Nội dung 2: Mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục
học sinh trong nhà trường THCS
Hiểu và có kỹ năng thiết kế mục tiêu các nội dung và sử dụng thành thạo các
phương pháp xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh là một yêu cầu quan trọng với ban
giám hiệu nhà trường. Qua các hoạt động này trước hết các kết quả phải đạt được các
công việc cần thiết, các cách thức tiến hành, các cách thức xây dựng giáo dục phù hợp
với đặc diểm tâm lý học sinh THCS.
Các nội dung trong kế hoạch hoạt động giáo dục:
– Xác định mục tiêu.
– Xây dựng kế hoạch.
– Lựa chọn phương thức.
– Thời gian.

16

– Địa điểm.
– Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch hoạt động.
Nội dung 3: Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục học sinh trong nhà trường THCS
Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục là một công việc quan trọng,
chiếm nhiều thời gian và công sức ở trường THCS. Một khi kế hoạch đã được xây
dựng, việc triển khai và tổ chức thực hiện việc cần làm tiếp theo.
Nội dung cần đánh giá:
– Mục tiêu của cuộc họp.
– Phân công thực hiện, sắp xếp nhân lực, phân bổ kinh phí và các điều kiện vật
chất chi việc thực hiện kế hoạch.
– Lập chương trình kế hoạch, tức kế hoạch cụ thể cho việc thực hiện các việc đã

nêu trong kế hoạch.
– Giao kế hoạch cho các bộ phận.
– Rà soát các kế hoạch, cần triển khai, phân công nhiệm vụ một cách hợp lý và
được ghi vào trong biên bản họp.
Tự nhận xét và đánh giá (đánh giá theo thang điểm 10): 9 điểm
Module 29: GIÁO DỤC HỌC SINH THCS THÔNG QUA CÁC
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
Nội dung 1: Vai trò của việc tổ chức các hoạt động giáo dục
Thông qua các hoạt động giáo dục giúp học sinh củng cố, bổ sung và mở rộng
thêm tri thức đã học, phát triển óc thẩm mỹ, tăng cường thể chất, nhận thức và xã hội,
ý thức công dân, tình yêu quê hương, đất nước. Giáo dục thái độ tích cực, tinh thần
đoàn kết, ý thức chủ động và mạnh dạn trong các hoạt động tập thể. Rèn luyện cho học
sinh các kĩ năng tự quản hoạt động ngoài giờ lên lớp, góp phần giáo dục tính tích cực
của người công dân tương lai.
Nội dung 2: Xây dựng các hoạt động giáo dục trong nhà trường
Giáo viên chuẩn bị:
+ Xác định rõ tên của chủ đề hoạt động hoặc tên của buổi sinh hoạt; lựa chọn
các hình thức hoạt động phù hợp.
+ Xây dựng yêu cầu giáo dục cần đạt được của hoạt động đó theo 3 yếu tố:
nhận thức, thái độ, kĩ năng hành vi.
+ Dự kiến nội dung và các hình thức hoạt động của tổ chức
+ Dự kiến người thực hiện: Học sinh làm gì, GV làm gì,các lực lượng giáo dục
khác tham gia vào phần việc nào.
+ Dự kiến thời gian tiến hành cho cả chủ điểm giáo dục, cho từng thời điểm cụ
thể.
+ Dự kiến địa điểm tiến hành.
+ Điều kiện, phương tiện vật chất cần thiết.
Nội dung 3: Tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục
Đây là bước thể hiện toàn bộ kết quả chuẩn bị của cả học sinh và giáo viên, là
bước thể hiện năng lực tổ chức tự quản hoạt động tập thể. Khi thực hiện kế hoạch hoạt

động cần chú ý những điều sau:
+ Chỉ đạo HS thực hiện theo đúng chương trình đã vạch.
+ Cần chú ý có thể nảy sinh những tình huống ngoài dự kiến. GVCN cần rèn
luyện cho đội ngũ tự quản đề phòng, có phương án giải quyết để khỏi bị động.
Tự nhận xét và đánh giá (đánh giá theo thang điểm 10): 9 điểm

17

Tài liệu liên quan

*

BÀI THU HOACH BDTX 2016 24 710 0

*

Bài thu hoạch BDTX modun 23,24,28,29 17 3 9

*

Bai thu hoach tu modun 3 den modun 10 28 636 1

*

bài thu hoạch bdtx thpt 32 695 0

*

Bai thu hoach BDTX ND1 9 541 3

*

Bai thu hoach BDTX ND2 2 5 477 2

*

Bai thu hoach BDTX ND2 6 525 0

*

Bài thu hoạch BDTX module THPT 23 50 544 0

*

BÀI THU HOẠCH BDTX THCS MODUL 24, 25, 26 11 1 1

Xem thêm: Tải Miễn Phí Danh Sách Số Điện Thoại Giám Đốc Free, Data Nhà Giàu

*

BÀI THU HOẠCH BDTX MODULE 18 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 17 626 2

Viết một bình luận