bài thu hoạch nghị quyết tw4 khóa 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (157.38 KB, 8 trang )

Đang xem: Bài thu hoạch nghị quyết tw4 khóa 12

ĐẢNG BỘ XÃ NGUYÊN HOÀ
CHI BỘ 7 TRƯỜNG THCS

*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Nguyên Hoà, ngày 10 tháng 3 năm 2017

BÀI THU HOẠCH
Kết quả học tập nghị quyết Hội nghị lần thứ tư
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XII)
Họ và tên: Đặng Hùng Cường
Chức vụ: Bí thư chi bộ
Sinh hoạt Đảng tại: Chi bộ 7 trường THCS
Đơn vị công tác: Trường THCS Nguyên Hoà
Sau khi học tập, quán triệt Nghị quyết TW4 khóa XII, bản thân tôi đã
nhận thức được những vấn đề sau:
I. Nhận thức của bản thân về Nghị Quyết TW4 khóa XII
Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban
hành 3 Nghị quyết và 1 kết luận:
(1)- Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng,
chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ;
(2)- Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 về một số chủ trương,
chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng
tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế;
(3)- Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 về thực hiện có hiệu quả
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối
cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới)
(4)- Kết luận số 09-KL/TW ngày 19/10/2016 về tình hình kinh tế – xã hội,
ngân sách nhà nước năm 2016; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân

sách nhà nước năm 2017.
Thực trạng, những điểm mới, thời cơ thách thức, mục tiêu, giải pháp
được nêu trong Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ.
1. Về thực trạng
1.1. Nhìn một cách tổng thể:
– Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo cách
mạng, hơn 86 năm qua Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách
mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh
đốn và ngày càng lớn mạnh.
– Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã giành được
hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX.
1.2. Trong thời kỳ đổi mới:

– Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ
chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
– Giữ vững ổn định chính trị;
– Phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước;
– Tăng cường quốc phòng – an ninh;
– Mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của nước ta trên
trường quốc tế;
– Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
1.3. Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết

quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong
đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng
viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và
lịch sử vẻ vang của Đảng ta – Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu
của dân tộc Việt Nam anh hùng.
1.4. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng
đã tạo được những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị (03 nội dung):
– Quá trình tự phê bình và phê bình đã góp phần đấu tranh với những suy
nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn,
đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực.
– Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và
tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, được nhân dân đồng
tình, ủng hộ.
– Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn
biến”, “tự chuyển hoá” đạt được một số kết quả; tích cực đấu tranh phòng,
chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.
Những kết quả đó đã góp phần quan trọng vào thành công của đại hội
đảng bộ các cấp, Đại hội XII của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV,
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021.
1.5- Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết
điểm (06 nội dung)
– Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng kết thực
tiễn, giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa
đáp ứng yêu cầu.
– Nội dung sinh hoạt đảng ở nhiều nơi còn đơn điệu, hình thức, hiệu quả
chưa cao.
– Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp,
thậm chí có nơi mất sức chiến đấu.
– Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém.
– Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính

tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát
thực tế, cơ sở.

– Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn
chặn, đẩy lùi sự suy thoái.
1.6. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, một số việc chưa đạt
mục tiêu, yêu cầu đề ra (05 nội dung)
– Tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức;
– Việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của
người đứng đầu với tập thể cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng.
– Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn
biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm
trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.
– Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả
một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty.
– Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất
cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự
chuyển hoá”
2. Nguyên nhân.
2.1. Nguyên nhân khách quan: (03 nội dung)
– Tác động từ khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới; từ mặt trái
của kinh tế thị trường, những hoạt động lợi dụng sự phát triển của khoa học
công nghệ thông tin, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
– Những khó khăn, thách thức của các nước đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa; nhiều vấn đề mới, phức tạp phát sinh từ thực tiễn.
– Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến
hoà bình”, và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo
tình hình; cổ suý cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa;

đồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động
2.2- Nguyên nhân chủ quan: (08 nội dung)
– Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận
cán bộ, đảng viên: Trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu
dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động
trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị
cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình
trước Đảng, trước dân.
– Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng
chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục,
truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình
trạng suy thoái, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và những hậu quả
gây ra. Sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu.
Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp
tình hình thực tế. Chưa chú trọng xây dựng, tuyên truyền, nhân rộng những mô
hình mới, điển hình tiên tiến, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực.
– Một số nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nội dung chưa sát
thực tiễn, thiếu tính khả thi và thiếu chế tài xử lý. Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng,

người đứng đầu các cấp chưa có quyết tâm chính trị cao; việc cụ thể hoá các
nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban
Bí thư thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn
vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên; một
số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tiên
phong, gương mẫu. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm còn nương nhẹ, nể
nang, thiếu cương quyết. Chưa có cơ chế khen thưởng những tập thể, cá nhân tổ
chức thực hiện nghị quyết sáng tạo, có hiệu quả và xử lý nghiêm những tập thể,
cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc.

– Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích
ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời. Tổ
chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Cơ
chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở. Thiếu cơ chế
để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực, giảm
sút uy tín, trì trệ trong công tác, kém hiệu quả trong phòng ngừa, đấu tranh
chống tham nhũng, tiêu cực. Chậm ban hành quy định xử lý tổ chức, cá nhân có
biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.
– Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ: Còn nể nang, cục bộ. Một số cơ chế,
chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng; chính sách tiền lương,
nhà ở chưa tạo được động lực cống hiến cho cán bộ, công chức.
– Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng: Chưa nghiêm, còn có biểu
hiện “nhẹ trên, nặng dưới”. Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt
chẽ. Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê
bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu
tranh phê bình. Sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công
tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử chưa chặt chẽ, xử lý chưa đủ
nghiêm minh. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt
yêu cầu; việc kê khai tài sản, thu nhập còn hình thức.
– Chưa chủ động và thiếu giải pháp phù hợp để định hướng thông tin: Trong
bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển
mạnh mẽ. Việc quản lý thông tin còn lỏng lẻo, thiếu giải pháp đủ mạnh để đấu
tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc
của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.
– Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
chính trị – xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân: Trong đấu tranh, ngăn
chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên còn hạn
chế, hiệu quả chưa cao.
3. Những điểm mới:
3.1. Nhận diện rõ về biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Trong văn kiện Đại hội XI (2011), lần đầu tiên Đảng ta nhận định: “Trong
nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI
nhận định các thế lực thù địch thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đến
Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục nhận định: “những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự

chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và sự
quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp
Điểm mới của Đại hội XII so với Đại hội XI đã chỉ rõ địa chỉ của “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên
chức, nhưng Đại hội XII vẫn chưa chỉ rõ biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ là gì. Chính vì thế, việc kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết
Trung ương 4 chưa chỉ rõ được bộ phận “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là ai
Điểm mới của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đó là:
(1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện
“đa nguyên chính trị, đa đảng”
(2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển
“xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
(3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng
Việt Nam; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa
đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước
(4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội
bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội
để nói xấu, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi

ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân
(5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối
với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính hóa” quân đội và công an; xuyên tạc
đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công
an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an
(6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ
hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ
chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước
(7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của
Đảng và Nhà nước, thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất
lợi trong quan hệ Việt Nam với các nước
(8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ
thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ
súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội.
Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch
sử, hạ thấp uy tín của Đảng
(9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân
chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các
dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo
với Đảng và Nhà nước
3.2. Chỉ rõ mối quan hệ giữa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức
lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng như hậu quả của nó.

Nghị quyết đã chỉ ra những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó,
nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường
xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm,
đường lối của Đảng; sa sút ý chí chiến đấu; không còn ý thức hết lòng vì nước,
vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng

các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi,
hám danh, tham nhũng, ham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu,
xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân
Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tất yếu dẫn tới “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Quá trình này diễn ra nhanh chóng, Nghị quyết đã
chỉ rõ chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể
dẫn tới tiếp tay hoặc kết cấu với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng
và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có quan hệ chặt chẽ với “diễn biến hòa
bình”. “Diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đến lượt
nó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, trong đó “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhân tố bên trong quan trọng nhất
Những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay làm giảm sút vai trò lãnh đạo của
Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với
Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ
4. Những nhiệm vụ, giải pháp mới để ngăn chặn, đẩy lùi những biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Nghị quyết đã đề ra mục tiêu, quan điểm, trong đó có quan điểm: Kiên
quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ
động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân,
trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt,
người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp
để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có
hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận xã hội để củng cố
niềm tin của nhân dân đối với Đảng
Nghị quyết đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy
lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó có
những nhiệm vụ, giải pháp mới sau:
Một là, hàng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết

rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”; các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam
kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình
Hai là, phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ
quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh chống suy thoái, “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”
Ba là, hàng năm, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; tự phê bình
và phê bình; sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý; hiệu quả đấu tranh,

khắc phục suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là những tiêu chí quan
trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức và cán bộ, đảng viên
Bốn là, hoàn thiện quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm
sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến
lược. Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ
động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối,
phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Quân ủy
Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương trong đấu tranh, chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa”
Năm là, các cấp ủy, tổ chức Đảng tăng cường công khai công tác kiểm tra,
giám sát và công khai kết quả để góp phần đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Sáu là, xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm
trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có lời nói và việc làm thể hiện “tự
diễn biến” nghiêm trọng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức Đảng phải chịu trách
nhiệm nếu không kịp thời phát hiện hoặc phát hiện mà chậm xử lý đối với các
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Bảy là, tăng cường công tác dân vận của Đảng và chính quyền; phát huy
vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội nhằm
đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong

cán bộ, đảng viên
Tám là, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm
túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại
trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện
suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.
Chín là, xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản
ánh, tố giác và tích cực đấu tranh chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
II. Liên hệ thực tế:
Quan điểm và trách nhiệm cá nhân đối với việc thực hiện nghị quyết.
* Về tư tưởng chính trị:
– Luôn giữ vững quan điểm, lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh
– Luôn chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, đồng thời vận động gia đình và người thân thực hiện tốt các qui
định của địa phương nơi cư trú
– Nghiêm túc học tập và nghiên cứu các chuyên đề về tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh.
+ Bản thân không phai nhạt lý tưởng cách mạng, luôn tin tưởng vào chủ
nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc. Nhận thức
đúng đắn tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị, học tập chủ
nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương đường lối, nghị quyết
của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước.
+ Chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức của Đảng, gương mẫu
trong công tác, không né tránh trách nhiệm, tận tâm tận tụy trong công việc.
* Phẩm chất đạo đức lối sống:

+ Sống vì nhân dân, vì người nghèo, không thực dụng, cơ hội, vụ lợi.
+ Không bệnh thành tích, không háo danh, phô trương.
+ Không: tham ô, tham nhũng, vụ lợi, không lợi dụng chức vụ tiếp tay cho

tham nhũng, tiêu cực.
+ Không chạy chức, không lợi dụng quyền lực để trục lợi.
+ Không đánh bạc, rượu chè, không mê tín, không tham gia tổ chức tôn giáo…
– Có lối sống lành mạnh, giản dị, trung thực. Luôn giữ gìn sự đoàn kết
trong trong cơ quan và nơi cư trú.
– Luôn lắng nghe tâm tư nguyện vọng của CB, GV, NV.
3. Đề xuất, kến nghị những giải pháp để tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ tư BCH TW Đảng khóa XII trong thời gian tới:
Để tổ chức, thực hiện tốt nội dung của Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ tư XII BCH TW Đảng khóa XII trong thời gian tới, tôi đề xuất một
số nhiệm vụ và giải pháp như sau:
– Một là: Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tập trung làm rõ và nêu cao
tinh thần trách nhiệm cá nhân, gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, nói đi đôi với
làm, nêu gương về đạo đức, lối sống. Lãnh đạo phải là người nhận nhiệm vụ khó
khăn, không né tránh trách nhiệm, không đẩy việc khó, đẩy trách nhiệm cho cấp
dưới và giành việc dễ, giành quyền lợi về cho mình. Từng cá nhân một phải luôn
tự nâng cao kỹ năng lãnh đạo quản lý, tự nâng cao năng lực quản lý hành chính
nhà nước sao cho phù hợp với năng lực chuyên môn, phải chú trọng phát triển
năng lực quản lý nhà nước hơn nữa để từ đó đề ra các hoạt động thực hiện công
tác chuyên môn phù hợp với các chính sách của Đảng, Nhà nước có liên quan,
ảnh hưởng lớn đến mọi người.
– Hai là: Tự phê bình và phê bình thẳng thắn, dân chủ, nghiêm túc, chân
thành. Thực hiện nghiêm túc Quy định về những điều Đảng viên không được
làm. Làm tốt việc kiểm điểm hàng năm sao cho công bằng, dân chủ, không trù
dập, để có căn cứ xem xét, sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên trong chi bộ nhằm
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
– Ba là: Tôn trọng, lắng nghe và giải quyết những tâm tư, nguyện vọng
của nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là căn cứ quan
trọng để tổ chức xem xét cán bộ.

Xem thêm: doremon bong chay tap 7

– Bốn là: Thực hiện tốt việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính
trị “tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương, đạo đức, phong cách đạo
đức Hồ Chí Minh”. Thực hiện tốt các nguyên tắc sinh hoạt Đảng. Với truyền
thống, bản chất tốt đẹp của Đảng, được nhân dân, cán bộ, công chức đồng tình,
ủng hộ, nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi nghị quyết này, tạo bước
chuyển biến mới trong công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng
trong sạch, vững mạnh, đưa đất nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước, hội nhập và phát triển toàn diện đất nước với mục tiêu: “Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Người viết thu hoạch

Tài liệu liên quan

*

Bài thu hoạch Nghị quyết TW6 (khóa XI) 7 2 23

*

bai thu hoach nghi quyet TW6 khoa XI 4 1 4

*

Bài thu hoạch nghị quyết đại hội xii của Đảng năm 2016 9 10 153

*

BÀI THU HOẠCH NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG 10 20 45

*

Bài thu hoạch Nghị quyết Đại hội XII của Đảng liên hệ ngành y 3 4 29

*

Tổng hợp Bài thu hoạch Nghi quyết TW4 ( Hay nhất năm 2016) 19 1 2

*

BAI THU HOẠCH NGHI QUYET TW4 KHOA XII 10 1 2

*

Bai thu hoach nghi quyet TW4 khoa XII 4 1 9

*

BÀI THU HOẠCH NGHỊ QUYẾT TW4 – KHÓA 12 4 1 10

Xem thêm: doremontap30

*

Bài thu hoạch nghị quyết TW4 khoá XII (Rất Hay) 8 3 63

Viết một bình luận