bài thu hoạch học tập nghị quyết trung ương 8 khóa 12

Bài thu hoạch Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là bài thu hoạch dành cho các Đảng viên sau khi kết thúc hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng cộng sản Việt Nam.

Đang xem: Bài thu hoạch học tập nghị quyết trung ương 8 khóa 12

Những nội dung trong các Nghị quyết tại hội Nghị trung ương 13 sẽ là đề tài dành cho các cán bộ Đảng viên làm bài thu hoạch. Dưới đây là mẫu bài thu hoạch và gợi ý viết bài thu hoạch về kết quả học tập, quán triệt các Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII. Mời các bạn cùng tham khảo:

Bài thu hoạch học tập Nghị quyết Đại hội lần thứ 13 của Đảng

Bài thu hoạch Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Chuyên đề học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Bài thu hoạch Nghị quyết TW12 khóa XII của Đảng viên

Bài thu hoạch Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Họ và tên:………………………………………………………………..

Sinh hoạt tại chi bộ:…………………………………………………..

Sau khi tiếp thu những nội dung cơ bản Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cộng sản Việt Nam, tôi viết bản thu hoạch một số nội dung sau đây:

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT

1. Về kết cấu

Nghị quyết gồm có 2 phần chính, gồm:

+ Phần 1: Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII

+ Phần 2. Tầm nhìn và định hướng phát triển

2. Về nội dung

+ Các văn kiện được thông qua tại Đại hội XIII được xây dựng trên cơ sở tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn; kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Các văn kiện đã tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng gắn với việc nhìn lại 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991; tổng kết 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025; xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045.

+ Mục tiêu tổng quát được xác định: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

+ Mục tiêu cụ thể: Nghị quyết đại hội XIII của Đảng để ra 3 mục tiêu cụ thể như sau:

Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

+ Nghị quyết nêu rõ định hướng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025; Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 và 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII.

Cụ thể là: Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bên cạnh đó tập trung kiểm soát đại dịch COVD-19, tiêm chủng đại trà vắc xin COVID-19 cho cộng đồng; phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh; có chính sách hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp trong nông nghiệp; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh chấp dân sự, khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước.

Giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam.

Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là sự gương mẫu tuân theo pháp luật, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị-xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên; tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.

Quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên; bảo vệ, cải thiện môi trường; chủ động, tích cực triển khai các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai khắc nghiệt.

+ 3 khâu đột phá chiến lược

Nghị quyết nêu 3 đột phá chiến lược được xác định là: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả.

Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính, hợp tác công-tư; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật.

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xem thêm: bảng dán phiếu bé ngoan

Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số.

II. LIÊN HỆ THỰC TIỄN

Sau khi học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng cộng sản Việt Nam, bản thân liên hệ với vị trí công tác như sau:

1. Về địa phương nơi cư trú

……………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………..

2.Về phía đơn vị

……………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………..

3. Về bản thân

……………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………..

III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1.Đề xuất, kiến nghị giải pháp để thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng cộng sản Việt Nam gắn với Nghị quyết đại hội của cơ quan, đơn vị

+ Ban hành chương trình hành động, kế hoạch để cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan.

+ Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ.

+ Thường xuyên, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

+ Khen thưởng, động viên kịp thời cán bộ, đảng viên có thành tích tốt trong thực hiện nhiệm vụ cũng như phê bình, kiểm điểm các cá nhân thực hiện không tốt.

2. Đề xuất, kiến nghị với cấp trên

Thường xuyên kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức cơ sở Đảng, cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ trong triển khai thực hiện Nghị quyết để kịp thời chỉ đạo, giải quyết các vướng mắc phát sinh cũng như có giải pháp phù hợp với từng thời điểm.

Xem thêm: Hướng Dẫn Cách Làm Bài Thu Hoạch Bdtx Modun 4 5 Module), Bài Thu Hoạch Bdtx Modun 23,24,28,29

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN

……., ngày….. tháng….. năm 2021

NGƯỜI VIẾT THU HOẠCH

Chuyên đề học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Hội nghị triển khai quán triệt 5 chuyên đề, nội dung các chuyên đề tập trung vào những vấn đề cốt lõi, nhận thức mới, tư duy mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, gồm:

Chuyên đề 1: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, do đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương truyền đạt. Chuyên đề 2: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025, do đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ truyền đạt. Chuyên đề 3: Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, do đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương truyền đạt. Chuyên đề 4: Những nhận thức mới và tư duy mới về quốc phòng Việt Nam, do đồng chí Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng truyền đạt. Chuyên đề 5: Những nhận thức mới và tư duy mới về an ninh quốc gia, do đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an truyền đạt.

Bài thu hoạch Nghị quyết TW12 khóa XII của Đảng viên

ĐẢNG BỘ………………………

CHI BỘ…………………………

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

……, ngày….. tháng….. năm 2020

BÀI THU HOẠCH
HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT CÁC NỘI DUNG HỘI NGHỊ LẦN THỨ MƯỜI HAI BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA XII)

Họ và tên:…………………………………………………………………….

Chức vụ Đảng, chính quyền: ………………………………………….

Đơn vị công tác: ……………………………………………………………

NỘI DUNG THU HOẠCH

I. Nhận thức về các nội dung Hội nghị Trung ương 12 khóa XII của Đảng

Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu của họp Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII được triển khai quán triệt tại Đảng bộ……………….. Bản thân tôi nhận thức được:

Chương trình làm việc toàn khoá, từ ngày 11/5 đến ngày 14/5/2020, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII họp Hội nghị lần thứ 12 để thảo luận, cho ý kiến về: Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII của Đảng; Phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026; Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2019; Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng năm 2019 và một số vấn đề quan trọng khác.

Trong bốn ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc hội nghị, Ban Chấp hành TW đã giải quyết khối lượng lớn công việc, đã thống nhất cao về các nội dung như:

1. Về tổng kết công tác nhân sự Đại hội XIII

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cao Báo cáo của Bộ Chính trị về tổng kết công tác nhân sự Đại hội XII và nhấn mạnh: Công tác chuẩn bị nhân sự được tiến hành chặt chẽ, thận trọng, đúng quy định; bảo bảo sự lãnh đạo toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương. Việc bầu được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương cơ bản đảm đảm cơ cấu, số lượng, chất lượng, có sự hài hoà, hợp lý giữa kế thừa,, ổn định và đổi mới, phát triển. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên tất cả các lĩnh vực; góp phần quan trọng nâng cao vai trò, vị thế, tiềm lực, uy tín của đất nước và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập cơ bản trong công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá XII: Tiêu chuẩn ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tính lượng hóa chưa cao; tiêu chí đặc thù để phân biệt giữa các nhóm chức danh chưa thật rõ. Việc xác định, phân bổ số lượng ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở một số nơi chưa thực sự sát với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị. Còn có sự khác nhau về độ tuổi tái cử giữa các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng công tác ở địa phương với các đồng chí công tác ở các cơ quan Trung ương, Quy trình giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương có điểm còn thiếu chặt chẽ; chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng trong việc giới thiệu nhân sự tham gia ứng cử Ban Chấp hành Trung ương; chưa quy định rõ trách nhiệm của người đề cử tại Đại hội và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất nên có trường hợp không đủ tiêu chuẩn, điều kiện vẫn được đề cử vào danh sách bầu cử, cá biệt có trường hợp đã trúng cử. Công tác thẩm định đối với một số nhân sự thiếu chặt chẽ, chưa khách quan, nhất là nhân sự được đề cử tại Đại hội và Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương khoá XII; cá biệt còn để “lọt” cả người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, không có trong phương án nhân sự vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Hiện tượng vận động, tranh thủ phiếu giới thiệu, phiếu bầu còn diễn ra phức tạp, ảnh hưởng không tốt đến sự tôn nghiêm của Đại hội và quá trình lựa chọn nhân sự, kết quả bầu cử. Việc thực hiện quy chế, nội quy của Đại. hội chưa nghiêm túc; tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, sự tự giác”” của một số đại biểu còn chưa cao.

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất với Bộ Chính trị về nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trên là: (1) Do nhận thức tầm quan trọng, ý thức, tổ chức kỷ luật và trách nhiệm chính trị của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể” lãnh đạo, người đứng đầu các cấp về công tác nhân sự đại hội chưa thực sự đầy đủ, sâu sắc, toàn diện. (2) Hệ thống các quy chế, quy định về công tác cán bộ, bầu cử còn thiếu chặt chẽ, đồng bộ, nhất là quy định trong việc giới thiệu, đề cử, nhận đề cử tại Đại hội; chưa có quy định, chế tài về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và biện pháp cụ thể để phát hiện, phòng, chống, ngăn chặn chạy chức, chạy quyền một cách có hiệu quả. (3) Đánh giá cán bộ vẫn là khâu khó, còn hạn chế, nhưng chậm được khắc phục; thiếu cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu quả để thẩm định, rà soát, “sàng lọc” những người không còn đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và phát hiện, giới thiệu những cán bộ thực sự có đức, có tài tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

Viết một bình luận