bài thu hoạch bdtx module 24 tiểu học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (418.83 KB, 42 trang )

Đang xem: Bài thu hoạch bdtx module 24 tiểu học

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG ………

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——————–BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
Module TH7: Xây dựng môi trường học tập thân thiện
Năm học: …………..
Họ và tên: ………………………………………………………………………………………………………………
Đơn vị: …………………………………………………………………………………………………………………
I. Một số khái niệm cơ bản
1. Kiểm tra
Là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về
biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện
làm cơ sở cho việc đánh giá.
1.1. Kiểm tra định tính
Là phương thức thu thập thông tin về kết quả học tập và rèn luyện của học sinh bằng cách
quan sát và ghi nhận xét dựa theo các tiêu chí giáo dục đã định.
1.2. Kiểm tra định lượng
Là phương thức thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh bằng số như điểm số
hoặc số lần thực hiện của những hoạt động nào đó.
Cách và phương tiện ghi nhận kết quả học tập của học sinh bằng điểm hay số lần thực
hiện theo những quy tắc đã tính trong kiểm tra là mang tính chất định lượng. Điểm số vẫn
chỉ là những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ học lực của mỗi học sinh mang ý nghĩa
định tính. Bản thân điểm số không có ý nghĩa về mặt định lượng. Ví dụ: Không thể nói
trình độ của học sinh đạt điểm 8 là cao gấp đôi học sinh đạt điểm 4 (thang điểm 10).
2. Đánh giá kết quả học tập

Là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán
đoán về trình độ và phẩm chất của người học, hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy
học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình
kiểm tra.
Đánh giá kết quả học tập được hiểu là đánh giá học sinh về học lực và hạnh kiểm thông

qua quá trình học tập các môn học cũng như các hoạt động khác trong phạm vi của nhà
trường.
3. Đo lường
Chỉ việc ghi nhận và mô tả kết quả làm bài kiểm tra của mỗi học sinh bằng một số đo,
dựa trên những quy tắc đã định.
4. Lượng giá
Là đưa ra những thông tin ước lượng trình độ kiến thức, kĩ năng của người học bằng cách
dựa vào các số đo đã có.
– Lượng giá theo chuẩn: So sánh tương đối kết quả đo lường được với chuẩn chung của
một tập hợp học sinh.
– Lượng giá theo tiêu chí: Là đối chiếu kết quả đo lường được với những tiêu chí đã đề ra.
5. Trắc nghiệm
Là công cụ hoặc quy trình có tính hệ thống được dùng để đo lường các hành vi học tập
(ví dụ như tóm ý, giải thích, tính toán)
II. Chức năng của đánh giá kết quả học tập ở tiểu học
1. Chức năng quản lí
Thể hiện qua hai phương diện đó là: (1) Xếp loại hoặc tuyển chọn người học; (2) duy trì
và phát triển chuẩn chất lượng.
2. Chức năng kiểm soát và điều chỉnh hoạt động dạy và học
Đối với giáo viên và nhà trường, đánh giá nhằm kiểm soát các hoạt động ngay trong quá
trình dạy và học, sau đó ra quyết định điều chỉnh, cải tiến dạy học là cơ chế đảm bảo cho
việc phát triển chất lượng dạy học.
Đối với học sinh, thông tin kiểm tra đánh giá nhận được (điểm số, nhận xét) từ giáo viên

và tự đánh giá của bản thân giúp người học kiểm soát, điều chỉnh việc học của mình.
3. Chức năng giáo dục và phát triển người học
Động viên: Quá trình đánh giá kết quả học tập được thực hiện một cách hiệu quả sẽ có tác
dụng phát triển động cơ học tập (lòng mong muốn học tập cho sự phát triển của bản thân)
cho học sinh.
=> Hoạt động kiểm tra phải thực hiện thường xuyên và thông tin làm căn cứ cho đánh giá
phải đa dạng, cụ thể và khách quan.

Đánh giá góp phần phát triển toàn diện để chuẩn bị cho người học vào đời: Muốn việc
đánh giá có thể góp phần phát triển toàn diện cho người học cần phải thực hiện một cách
hệ thống và nhất quán những vấn đề sau:
=> Đánh giá phải xác định được khối lượng học tập hợp lí cho học sinh để không đẩy các
em vào thế học thuộc lòng, học đối phó, học chỉ để có điểm, chỉ để biết chứ không để
hiểu và áp dụng.
=> Kết quả học tập cần được đánh giá một cách hiệu quả, đáng tin cậy để có tác dụng
hướng dẫn và khuyến khích các phương pháp học tập tích cực, ủng hộ các thói quen học
tập có giá trị.
=> Phương pháp, công cụ kiểm tra đánh giá cần đa dạng (trắc nghiệm, tự luận, học nhóm,
trò chơi, bài tập giải quyết vấn đề, làm đề án…) để kích thích người học tự bổ sung, phát
triển những kiến thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống cũng như cho nghề nghiệp về sau.
Ngoài các kĩ năng học tập, đánh giá cũng góp phần phát triển cho người học những kĩ
năng và phẩm chất xã hội như: kĩ năng giao tiếp, làm việc hợp tác, ý thức cộng đồng,
lòng tự trọng…Đây là những nhân tố quan trọng đối với con người trong xã hội hiện nay,
giúp cho học sinh biết cách sống, cách làm việc với những người xung quanh.
III. Ý nghĩa của đánh giá kết quả học tập ở tiểu học.
1. Đối với học sinh
Việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành thường xuyên, có hệ thống sẽ giúp học sinh:
Có hiểu biết kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” bên trong. Điều chỉnh hoạt động
học tập của chính mình. Điều trình bày trên được thể hiện ở ba mặt sau:

– Về mặt giáo dưỡng
Việc kiểm tra, đánh giá giúp các em học sinh thấy được:
Tiếp thu bài học ở mức độ nào?
Cần phải bổ khuyết những gì?
Có cơ hội nắm chắc những yêu cầu của từng phần trong chương trình học tập.
– Về mặt phát triển
Thông qua việc kiểm tra, đánh giá, học sinh có điều kiện để tiến hành các hoạt động trí
tuệ như:
Ghi nhớ

Tái hiện
Chính xác hóa
Khái quát hóa
Hệ thống hóa
Hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xão vận dụng tri thức đã học
Phát triển năng lực chú ý
Phát triển năng lực tư duy sáng tạo.
Như vậy, nếu việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành tốt nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho học sinh phát triển năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học giải
quyết những tình huống thực tế.
– Về mặt giáo dục
Kiểm tra, đánh giá nếu được tổ chức tốt sẽ mang ý nghĩa giáo dục đáng kể. Việc kiểm tra,
đánh giá tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh:
Hình thành nhu cầu, thói quen tự kiểm tra, đánh giá, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong
học tập và ý chí vươn tới những kết quả học tập ngày càng cao, đề phòng và khắc phục tư
tưởng sai trái như “trung bình chủ nghĩa”, tư tưởng đối phó với thi cử; nâng cao ý thức kỷ
luật tự giác, không có thái độ và hành động sai trái với thi cử. Củng cố được tính kiên
định, lòng tự tin vào sức lực khả năng của mình, đề phòng và khắc phục được tính ỷ lại,
tính tự kiêu, tự mãn, chủ quan; phát huy được tính độc lập sáng tạo, tránh được chủ nghĩa

hình thức, máy móc trong kiểm tra.
Nâng cao ý thức tập thể, tạo được dư luận lành mạnh, đấu tranh với những tư tưởng sai
trái trong kiểm tra, đánh giá, tăng cường được mối quan hệ thầy trò…
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định: Việc kiểm tra, đánh giá học sinh có các tác dụng
đối với học sinh như sau:
Giúp học sinh phát hiện và điều chỉnh thực trạng hoạt động học tập.
Củng cố và phát triển trí tuệ cho các em. Giáo dục cho học sinh một số phẩm chất đạo
đức nhất định .
2. Đối với giáo viên
Việc kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ giúp cho người giáo viên những “thông tin ngược
ngoài” , từ đó có sự điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp. Cụ thể như sau:

– Kiểm tra, đánh giá, kết hợp theo dõi thường xuyên các em tạo điều kiện cho người giáo
viên:
Nắm được cụ thể và tương đối chính xác trình độ năng lực của từng học sinh trong lớp do
mình giảng dạy hoặc giáo dục, từ đó có những biện pháp giúp đỡ thích hợp, trước là đối
với học sinh khá giỏi và học sinh yếu kém, qua đó mà năng cao chất lượng học tập chung
của cả lớp.
– Kiểm tra, đánh giá được tiến hành tốt sẽ giúp giáo viên nắm được:
Trình độ chung của cả lớp hoặc khối lớp Những học sinh có tiến bộ rõ rệt hoặc sa sút đột
ngột. Qua đó, động viên hoặc giúp đỡ kịp thời các em này.
– Kiểm tra, đánh giá tạo cơ hội cho thầy giáo xem xét có hiệu quả những việc làm sau:
Cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà người giáo viên đang tiến
hành. Hoàn thiện việc dạy học của mình bằng con đường nghiên cứu khoa học giáo dục.
3. Đối với cán bộ quản lý giáo dục
Kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ cung cấp cho cán bộ quản lý giáo dục các cấp những thông
tin cần thiết về thực trạng dạy- học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp
thời, uốn nắn những sai lệch nếu có; khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay đảm bảo
thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Qua phần trình bày trên, có thể khẳng định: Kiểm tra,

đánh giá học sinh có ý nghĩa về nhiều mặt, trong đó quan trọng nhất vẫn là đối với chính
bản thân từng em học sinh.
IV. Nguyên tắc đánh giá kết quả học tập ở tiểu học
A. Nguyên tắc đánh giá học lực và hạnh kiểm của học sinh theo Quy định đánh giá xếp
loại học sinh tiểu học
Quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học (Ban hành kèm theo quyết định số
30/2005/QĐ-BGD & ĐT) đưa ra 4 nguyên tắc đánh giá học lực và hạnh kiểm của học
sinh tiểu học.
1. Kết hợp đánh giá định lượng và đánh giá định tính trong đánh giá và xếp loại
Kết hợp đánh giá định lượng và đánh giá định tính trong đánh giá kêt quả học tập nhằm
đảm bảo tính khách quan và toàn diện trong quá trình đánh giá.
Nguyên tắc này nhấn mạnh trọng tâm đổi mới đánh giá ở tiểu học hiện nay đó là bên cạnh
đánh giá thiên về định lượng trước đây còn tăng cường sử dụng các hình thức đánh giá
định tính để tạo điều kiện cho trẻ phát triển về mặt nhân cách và trí tuệ.

Giáo viên không nên chỉ căn cứ vào điểm số của các bài kiểm tra định kì để đánh giá học
sinh mà phải kết hợp với kiểm tra thường xuyên, kết hợp với những ghi nhận quan sát
hàng ngày để đánh giá đúng thực chất trình độ của học sinh.
Ở các môn đánh giá định lượng như Toán, Tiếng Việt, cùng với điểm số, giáo viên phải
đưa ra những nhận xét để giúp học sinh biết mình đã đạt những gì và chưa đạt những gì.
2. Thực hiện công khai, công bằng, khách quan, chính xác và toàn diện
Nguyên tắc này bao hàm các nguyên tắc truyền thống trong đánh giá kết quả học tập như
đảm bảo tính khách quan – chính xác, tính công bằng, tính công khai, tính toàn diện.
3. Coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến bộ của học sinh
“Coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến bộ của học sinh” là nội dung cốt lõi của
nguyên tắc đảm bảo tính nhân văn và tính giáo dục trong đánh giá học sinh. Quan điểm
coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến bộ của học sinh trong khi đánh giá thể
hiện cách tiếp cận nhấn mạnh mục đích phát triển của giáo dục và dạy học ở tiểu học,
đồng thời phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh nhỏ.

4. Phát huy tính năng động, sang tạo khả năng tự học, tự đánh giá của học sinh, xây dựng
niềm tin, rèn luyện đạo đức theo truyền thống của Việt Nam
Theo hướng phát triển các phương pháp dạy học tíchcực hiện nay, để đào tạo học sinh
chủ động, sáng tạo, có khả năng tự học và tự đánh giá bản thân, việc kiểm tra đánh giá
không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, rèn luyện các kĩ năng đã học mà còn
khuyến khích khả năng vận dụng sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến về thái độ và xu
hướng hành vi của học sinh trước các vấn đề của đời sống gia đình và cộng đồng Việt
Nam. Đó là cách tiếp cận phát triển trong dạy học và đánh giá.
Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập nhằm tạo một phương thức đột phá, góp phần
quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
=> Bốn nguyên tắc trên đã bao quát được các nguyên tắc về đánh giá kết quả học tập mà
nhiều tài liệu về lí luận giáo dục đã đề ra.
B. Nguyên tắc đánh giá kết quả học tập theo lí luận giáo dục
1. Nguyên tắc khách quan
Là những quy tắc cần được thực hiện trong khi kiểm tra và đánh giá để đảm bảo cho kết
quả thu thập được ít chịu ảnh hưởng từ những yếu tố khác khác với mục tiêu và nội dung
cần đánh giá.

Các quy tắc thực hiện nguyên tắc khách quan gồm:
– Kết hợp nhiều phương pháp và kĩ thuật đánh giá khác nhau như: đánh giá định tính với
đánh giá định lượng; kĩ thuật đánh giá truyền thống với đánh giá hiện đại.
– Bảo đảm môi trường, cơ sở vật chất không ảnh hưởng đến việc thực hiện các bài tập
đánh giá của học sinh.
– Kiểm soát các yếu tố khác ngoài khả năng thực hiện bài tập đánh giá của học sinh có thể
ảnh hưởng đến kết quả làm bài hay thực hiện hoạt động của các em (sức khỏe, tâm lí lúc
làm bài, độ dài của bài kiểm tra, ngôn ngữ diễn đạt của bài kiểm tra, yếu tố quen thuộc…).
– Những phán đoán giá trị và quyết định về việc học của học sinh phải đuwocj xây dựng
trên ba cơ sở:
+ Kết quả học tập thu thập được một cách hệ thống trong quá trình dạy học

+ Các tiêu chí đánh giá với các mức độ đạt được một cách rõ ràng.
+ Sự kết hợp và cân bằng giữa hai loại đánh giá: thường xuyên và tổng kết (đánh giá quá
trình và đánh giá sản phẩm).
2. Nguyên tắc công bằng
Là hệ thống các quy tắc cần được thực hiện trong đánh giá kết quả học tập nhằm đảm bảo
rằng những học sinh thực hiện các hoạt động học tập với cùng một mức độ và thể hiện
cùng một nỗ lực trong học tập sẽ nhận được những đánh giá kết quả như nhau.
Một số quy tắc nhằm đảm bảo tính công bằng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập
– Giúp mỗi học sinh có thể tích cực vận dụng phát triển kiến thức và kĩ năng đã học.
– Đề bài kiểm tra phải cho mọi học sinh cơ hội chứng tỏ khả năng áp dụng những kiến
thức, kĩ năng mà các em đã học vào đời sống hằng ngày và giải quyết vấn đề.
– Đảm bảo rằng hình thức bài kiểm tra là quen thuộc với mọi học sinh (mọi học sinh phải
biết cách làm)
– Ngôn ngữ sử dụng trong bài kiểm tra đơn giản, rõ ràng, phù hợp với trình độ của học
sinh, bài kiểm tra không chứa những hàm ý đánh đố học sinh.
– Xây dựng thang điểm hay thang đánh giá cẩn thận để việc chấm điểm hay xếp loại và
ghi nhận xét kết quả phản ánh đúng khả năng làm bài của người học.
3. Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện
Là hệ thống các quy tắc cần được thực hiện trong quá trình đánh giá thành quả học tập

của học sinh tiểu học nhằm đảm bảo kết quả học sinh đạt được qua kiểm tra phản ánh
được các mặt đức – trí – thể – mĩ cũng như nhiều mức độ nhận thức khác nhau trong hoạt
động học tập.
Những quy tắc đảm bảo tính toàn diện:
– Nội dung kiểm tra cần bao quát được toàn bộ nội dung trọng tâm.
– Công cụ đánh giá cần đa dạng
– Mục tiêu đánh giá bao quát nhiều loại kiến thức, kĩ năng và các mức độ nhận thức.
– Công cụ kiểm tra không chỉ đánh giá kiến thức, kĩ năng môn học mà còn đánh giá các
phẩm chất và kĩ năng xã hội.

4. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống trong quá trình đánh giá kết quả học tập đòi hỏi:
– Việc xác định và làm rõ các mục tiêu, tiêu chí đánh giá phải đặt ở mức ưu tiên cao hơn
công cụ và tiến trình đánh giá.
– Chuẩn đánh giá phải phù hợp với mục tiêu và chương trình dạy học trong từng giai đoạn
cụ thể, với mọi đối tượng học sinh, với điều kiện dạy học cụ thể của số đông các trường
bình thường.
– Kĩ thuật đánh giá phải được lựa chọn dựa trên mục đích đánh giá.
– Đánh giá phải phản ánh đúng giá trị của người học, về việc học.
-Tiến trình đánh giá đi từ việc thu thập tư liệu, thông tin đến việc đưa ra những kết luận
về việc học của học sinh phải được tường minh.
– Mục tiêu và phương pháp đánh giá phải tương thích với mục tiêu và phương pháp giảng
dạy
– Kết hợp kiểm tra thường xuyên với kiểm tra tổng kết.
– Độ khó các bài tập hay hoạt động đánh giá phải ngày càng cao theo sự phát triển cấp
lớp.
5. Nguyên tắc đảm bảo tính công khai
Học sinh cần được biết các tiêu chuẩn và yêu cầu đánh giá của các nhiệm vụ hay bài tập,
bài kiểm tra mà học sinh sẽ thực hiện. Học sinh cần được biết cách tiến hành các nhiệm
vụ ấy để có thể đạt được tốt các tiêu chuẩn và yêu cầu đã định.
6. Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục

– Đánh giá nhất thiết phải góp phần nâng cao việc học tập của học sinh.
– Qua đánh giá học sinh thấy được sự tiến bộ của bản thân, những gì cần cố gắng hơn
trong môn học cũng như nhận thấy sự khẳng định của giáo viên về khả năng của họ.
7. Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển.
– Công cụ đánh giá tạo điều kiện cho học sinh khai thác vận dụng kiến thức, kĩ năng liên
môn.
– Phương pháp và công cụ đánh giá góp phần kích thích dạy học phát huy tính tự lực, chủ

động và sáng tạo của học sinh trong học tập, chú trọng thực hành, rèn luyện và phát triển
kĩ năng.
– Đánh giá hướng đến việc duy trì sự phấn đấu và tiến bộ của người học, góp phần phát
triển động cơ học tập đúng đắn cho người học.
– Đánh giá đúng góp phần phát triển lòng tự tin, tự trọng và hướng phấn đấu trong học tập,
hình thành năng lực tự đánh giá cho học sinh.
Nội dung
Đánh giá kết quả học tập trên 3 lĩnh lực: kiến thức, kĩ năng, thái độ và mục tiêu dạy học
là cơ sở để xây dựng nội dung đánh giá kêt quả học tập ở học sinh.
V. Nội dung đánh giá kết quả học tập ở tiểu học.
A. Vai trò của mục tiêu dạy học đối với việc xác lập nội dung đánh giá kết quả học tập
1. Mục tiêu dạy học
1.1. Khái niệm
Mục tiêu dạy học là các kết quả học tập mà nhà trường trông mong người học đạt được
sau khi học tập.
Mục tiêu học tập gồm hai loại: Mục tiêu thành thạo và mục tiêu phát triển (Theo
Gronlund, 1985 và Dương Thiệu Tống, 1998).
– Mục tiêu thành thạo: Là kết quả học tập ở trình độ tối thiểu mà mọi học sinh cần đạt một
cách đồng loạt từ một khóa học hay một môn học, là kết quả học tập mà học sinh nhất
thiết phải đạt nếu như học sinh muốn có thể học được ở các lớp kế tiếp. Các mục tiêu này
thường bao gồm những kiến thức đơn giản mà học sinh phải nắm vững vào cuối một giai
đoạn học tập.
– Mục tiêu phát triển: Là kết quả học tập phức tạp hơn các mục tiêu thành thạo như: khả

năng hiểu, ứng dụng, tư duy phê phán, giải quyết vấn đề…
Khi đã đạt được các kết quả học tập phát triển, học sinh có thể vận dụng chúng sang
những tình huống học tập mới, phức tạp và đa dạng theo hướng tăng tiến liên tục về trình
độ. Với mục tiêu phát triển, học sinh chẳng bao giờ có thể đạt được một cách đầy đủ vào
một thời điểm cụ thể.

1.2. Các thành tố của mục tiêu dạy học
Mục tiêu dạy học bao gồm ba thành tố: kiến thức, kĩ năng và thái độ, chúng có mối quan
hệ tác động lẫn nhau.
Trong ba lĩnh vực mục tiêu này, mục tiêu nhận thức thường chiếm vị trí cốt lõi trong các
nội dung kiểm tra kết quả học tập. Theo Bloom, trong linhc vực nhận thức có sáu mức độ
khác nhau, mỗi mức độ được thể hiện bởi một số khả năng và kĩ năng riêng biệt như sau:
Biết; thông hiểu; ứng dụng; phân tích; tổng hợp; đánh giá.
1.3. Kết quả học tập cần đánh giá
Sơ đồ diễn giải kết quả học tập cần đánh giá ở tiểu học:
Đánh giá xếp loại học sinh tiểu học về học lực lực và hạnh kiểm.
Kết quả học lực được thể hiện qua các môn học. Căn cứ vào chương trình của mỗi môn
học, các chuẩn về kiến thức, kĩ năng và thái độ được xác lập. Hệ thống chuẩn về kiến
thức, kĩ năng, thái độ của môn học được xem là trình độ chuẩn tối thiểu mà mỗi học sinh
cần phải đạt được sau khi học môn học ấy. Hệ thống chuẩn đó là căn cứ để giáo viên xây
dựng hay chọn lựa các công cụ kiểm tra và đánh giá học sinh.
Hạnh kiểm là những phẩm chất đạo đức được thể hiện trong việc làm và hành vi ứng xử
của học sinh đối với mọi người. Các việc làm và hành vi ứng xử được thể hiện qua bốn
nhiệm vụ của học sinh trong Điều lệ nhà trường tiểu học. Thái độ trong mục tiêu học tập
được bao hàm trong hạnh kiểm của học sinh và tác động qua lại với hạnh kiểm. => Sự
phân định hạnh kiểm của học sinh với thái độ trong học lực là tương đối. Vì vậy, giáo
viên cần nhận ra mối quan hệ biện chứng giữa thái độ và hạnh kiểm để có thể đưa ra
những nhận xét cụ thể và toàn diện về phẩm chất nhân cách của học sinh.
Sơ đồ diễn giải mở rộng kết quả học tập cần đánh giá theo văn bản “Quy định đánh gíá và
xếp loại học sinh Tiểu học” (Theo Quyết định 30)
2. Vai trò của việc xác lập mục tiêu dạy học trong đánh giá kết quả học tập
2.1. Mục tiêu dạy học là cơ sở thiết kế các hoạt động dạy học và nội dung đánh giá kêt
quả học tập

Nội dung môn học

Kinh nghiệm của HS
Kthức, knăng, thái độ HS
=> Mục tiêu dạy học được xác lập từ ba nguồn: (1) nội dung dạy hoc; (2) kinh nghiệm
học sinh; (3) kiến thức – kĩ năng – thái độ mà chương trình muốn học sinh lĩnh hội. Xác
định mục tiêu/ kết quả học tập cần đạt là bước đầu tiên trong quá trình giảng dạy, đồng
thời cũng là điều chủ yếu trong tiến trình đánh giá việc học của học sinh. Sự đánh giá hợp
lí đòi hỏi tiến trình đánh giá phải liên quan đến các kết quả cần đạt.
2.2. Xác lập các kết quả học tập một cách rõ ràng và cụ thể sao cho có thể quan sát và đo
lường được là cơ sở đảm bảo cho việc chọn lựa và xây dựng công cụ, kĩ thuật đánh giá
thích hợp.
Việc xác định cụ thể và rõ ràng các kết quả cần đạt trong dạy học hỗ trợ cho việc truyền
đạt ý định giảng dạy đến người học, cho việc lựa chọn những phương pháp và tài liệu dạy
học xác đáng, cho việc theo dõi sự tiến bộ học tập của học sinh, đặc biệt là cho việc chọn
lựa và xây dựng những quy trình, kĩ thuật đánh giá thích hợp.
2.3. Xem xét sự tương thích giữa kết quả học tập cần đánh giá với kĩ thuật cần đánh giá là
cơ sở đảm bảo hiệu quả và giá trị của kết quả kiểm tra đánh giá.
Xem xét mối liên hệ phù hợp và chặt chẽ giữa các mục tiêu dạy học đã định với các tiến
trình, hình thức kiểm tra là một phương thức để đảm bảo tính giá trị của những công cụ
đánh giá.
Mô hình tóm tắt quá trình quan hệ tương tác giữa mục tiêu dạy học, các kết quả học tập
cụ thể cần đánh giá với các kĩ thuật đánh giá:
Mục tiêu tổng quát
(Các kết quả học tập học sinh cần đạt định hướng cho giảng dạy)
Các kết quả học tập chuyên biệt
(Các loại khả năng/ kĩ năng của học sinh mà chúng ta sẵn sàng chấp nhận như chứng cứ
cho việc thực hiện được các mục tiêu đã đề ra)
Các kĩ thuật đánh giá
Các tiến trình đánh giá nhằm đưa ra được các mẫu hành vi/ khả năng như đã miêu tả
trong phần các kết quả học tập.
Trong quá trình thực hiện kiểm tra đánh giá, việc liên kết các kĩ thuật đánh giá với các kết

quả học tập cần khảo sát về cơ bản là một quá trình phân tích và phán đoán logic.
Quá trình đánh giá hợp lí đòi hỏi phải nỗ lực để đạt được sự hòa hợp giữa các kĩ thuật
đánh giá với các kết quả học tập cần khảo sát. Vậy, khi thiết lập công cụ đánh giá chúng
ta cần xem lại nhiều lần các công cụ này để:
– Điều chỉnh, sửa chữa sai sót về nội dung, về cách diễn đạt, tránh những cách diễn đạt tối
nghĩa hay vượt xa yêu cầu định kiểm tra.
– Đặc biệt, xem xét mối liên hệ giữa mỗi câu trắc nghiệm với một kết quả học tập chuyên
biệt đã định.
B. Nội dung đánh giá
1. Đánh giá kiến thức
Nội dung mỗi môn học nhìn chung bao gồm các loại kiến thức sau: Sự kiện chi tiết, khái
niệm, nguyên tắc, phương pháp hay tiến trình.
1.1. Sự kiện chi tiết
Là kiến thức trả lời cho các câu hỏi như Ai? ; Việc gì?; Ở đâu?…
Việc học các sự kiện chi tiết là cơ sở quan trọng cho các kiểu học khác, học sinh khó có
thể hoạt động trong thế giới nếu như họ không biết nhiều sự kiện.
1.2. Khái niệm
Khái niệm sinh hoạt: là các khái niệm ngẫu nhiên, tự nhiên mà có.
Khái niệm khoa học: được hình thành một cách có ý thức thông qua học tập. Khái niệm
khoa học là những kiến thức về dấu hiệu, những thuộc tính chung của sự vật hay hiện
tượng. Theo Phạm Minh Hạc “Phát triển khái niệm khoa học là chìa khóa mở cửa toàn bộ
lịch sử sự phát triển trí tuệ của trẻ ”.
Khái niệm chỉ một ý nghĩ phản ánh ở dạng khái quát các sự vật hay sự kiện, hiện tượng
trong hiện thực có cùng một số đặc điểm hay tính chất nào đó.
Căn cứ vào tính chất của nội hàm khái niệm có khái niệm trưừ tượng và khái niệm cụ thể.
– Khái niệm trừu tượng: tính sáng tạo, lòng yêu thương, hạnh phúc, vẻ đẹp tâm hồn…
– Khái niệm cụ thể: chiều cao, tốc độ, nông thông, thành thị, nhà, cá…
1.3. Nguyên tăc

Có 4 loại nguyên tắc giải thích mối quan hệ giữa các khái niệm. Mỗi nguyên tắc được
miêu tả như sau:

– Quan hệ nhân quả: Mối quan hệ này hình thành cơ sở của trình độ tư duy ở mức độ cao,
đặc biệt là tư duy phê phán. Nguyên tắc nhân quả có khi mang tình tương đối, có khi
mang tính tuyệt đối. Ví dụ: hút thuốc lá sẽ làm giảm tuổi thọ => điều này có thể không
đúng với một số trường hợp (quan hệ nhân quả tương đối); gió to thì sóng lớn (quan hệ
nhân quả tuyệt đối).
– Tương quan giữa hai khái niệm: theo nguyên tắc này người học có thể phỏng đoán được
điều gì đó. Ví dụ: Người cao có xu hướng nặng cân hơn người thấp (dựa theo mối tương
quan giữa chiều cao và cân nặng).
– Quy luật xác suất: có thể dùng sự phân bố xác suất để đưa ra những phỏng đoán. Chẳng
hạn dựa vào số liệu thống kê hàng năm, vào mùa hè có nhiều học sinh ở các tiệm iternet,
người học có thể phỏng đoán rằng nhiều học sinh thích chơi trò chơi điện tử vào những
ngày hè.
– Chân lí: Là một sự thật được mọi người chấp nhận là đúng. Ví dụ: mặt trời mọc đằng
đông và lặn ở đằng tây.
1.4. Phương pháp và tiến trình
TIến trình là một chuỗi các hành động thể chất hoặc tinh thần dẫn đến một kết quả. Tiến
trình có thể đơn giản, hoặc có thể phức tạp. Việc giảng dạy hay đánh giá một tiến trình
mà người học lĩnh hội được là một việc làm phức tạp. Ví dụ tiến trình làm sản phẩm; tiến
trình giải một bài toán; tiến trình làm một bài tập làm văn…
2. Đánh giá kĩ năng
2.1. Kĩ năng trí tuệ
Kĩ năng trí tuệ còn gọi là kĩ năng nhận thức bao gồm hiểu, vận dụng giải quyết vấn đề, tư
duy phê phán, tư duy sáng tạo. Với kĩ năng hiểu và vận dụng, bảng phân loại và miêu tả
các mục tiêu dạy học của Bloom có thể giúp ta hình dung ra nhiều hành động trí tuệ cụ
thể liên quan đến kĩ năng này.
2.2. Kĩ năng thể chất

Kĩ năng thể chất là phương thức hành động sử dụng những vận động cơ để thực hiện một
nhiệm vụ học tập có thể dễ dàng nhìn thấy. Theo Romizowski có hai kiểu kĩ năng thể chất:
kĩ năng thể chất tái tạo và kĩ năng thể chất sáng tạo.
– Kĩ năng tái tạo được thực hiện theo một khuôn khổ hay quy trình có sẵn không thể biến
đổi, đòi hỏi áp dụng của những tình huống với thao tác chuẩn mực như: đánh máy, viết
chữ, chạy, thực hiện các động tác thể dục…

– Ngược lại với kĩ năng thể chất tái tạo, kĩ năng thể chất sáng tạo được thực hiện theo một
khuôn khổ có thể biến đổi, và đòi hỏi người thực hiện phải định ra kế hochj và biện pháp
thực hiện. Trong quá trình thực hiện các kĩ năng thể chất sáng tạo, ngơpif thực hiện phải
điều chỉnh liên tục kế hoạch và biện pháp cho phù hợp với môi trường hay tình huống
xảy ra vốn không thể đoán trước như: vẽ, đàn, chơi thể thao, làm thí nghiệm…
2.3. Kĩ năng xã hội
Kĩ năng xã hội được xem là những kĩ năng đực dùng khi tương tác với người khác trong
cộng đồng. Các kĩ năng này có đặc điểm là có định hướng, tương quan và thích hợp với
tình huống thực tế.
Căn cứ trên mối quan hệ với đối tượng tương tác, nhiều nhà nghiên cứu phân kĩ năng xã
hội thành bốn loại cơ bản:
Các hành vi, kĩ năng liên quan đến bản thân.
Các hành vi, kĩ năng liên quan đến môi trường xung quanh.
Các hành vi, kĩ năng liên quan đến công việc, nhiệm vụ.
Các hành vi, kĩ năng liên quan đến mối quan hệ cá nhân
Căn cứ vào mối quan hệ với các đối tượng tương tác như vừa nêu trên, phân loại kĩ năng
xã hội dựa trên nội dung và mục đích của hoạt động cá nhân như sau;
Nhóm kĩ năng hợp tác.
Nhóm kĩ năng tự khẳng định mình.
Nhóm kĩ năng đồng cảm.
Nhóm kĩ năng tự kiểm soát.
2.4. Kĩ năng học tập

Xem thêm: Phụ Lục (Ban Hành Kèm Theo Thông Tư 23/2015/Tt-Bkhđt, Thông Tin Về Thông Tư Số 23/2015/Tt

Kĩ năng học tập là những kĩ thuật mà học sinh phải sử dụng hoặc hoạt động, phải thực
hiện để học tập hiệu quả hơn và đạt đến thành công. Kĩ năng trí tuệ, kĩ năng xã hội, kĩ
năng thể chất là điều kiện để phát triển các kĩ năng học tập. Một kĩ năng học tập có thể
thiên về tinh thần hay thiên về thể chất hoặc mang cả hai tính chất. Về thực tiễn, kĩ năng
học tập rất thường được đề cập trong giảng dạy và đánh giá. Loại kĩ năng này bao gồm
nhiều hoạt động khác nhau mà người học cần thực hiện trong quá trình học tập như: nghe,
đọc, thảo luận, viết tóm tắt, lập dàn ý, trình bày vở, chuẩn bị bài, sử dụng tài liệu, sử dụng
máy tính, sử dụng máy vi tính, tra tự điển, kiểm tra bài làm, bài kiểm tra sau khi lmf, ghi
chép khi nghe giảng, viết báo cáo, trình bày miệng, sưu tầm và trình bày tư liệu

3. Đánh giá thái độ và hạnh kiểm
3.1. Các mức độ của lĩnh vực thái độ
– Tiếp nhận: nhận biết, sẵn lòng tiếp nhận, chú ý có chủ định.
– Cho phản hồi: hiểu biết, sẵn lòng đáp lại, hài lòng đáp lại.
– Phán đoán giá trị: chấp nhận, thể hiện sự tham gia, cam kết thực hiện.
– Tổ chức: Tạo ra khái niệm về giá trị cho bản thân, đưa giá trị vào hệ thống giá trị của
bản thân.
– Thể hiện: hành động kiên định theo giá trị đã lĩnh hội, giá trị trở thành nét, tính cách của
cá nhân
3.2. Bốn nhiệm vụ của học sinh được quy định trong Điều lệ nhà trường.
Nội dung nhận xét đánh giá Cách ghi nhận xét Thời điểm đánh giá
1.Biết vâng lời thầy giáo, lễ phép trong giao tiếp hàng ngày, đoàn kết, thương yêu, giúp
đỡ bạn bè.
2.Thực hiện nội quy nhà trường, đi học đều và đúng giờ, giữ gìn sách vở và đồ dùng học
tập.
3.Giữ gìn thân thể và vệ sinh cá nhân, đầu tóc, quần áo gọn gàng, sạch sẽ, ăn uống hợ vệ
sinh.
4.Tham gia các hoạt động tập thể trong và ngoài gờ lên lớp, gìn giữ, bảo vệ tài sản của
trường, lớp và nơi công cộng, bước đầu biết giữ gìn môi trường, thực hiện các quy tắc về

an toàn giao thông và trật tự xã hội. Thực hiện đầy đủ (Đ)
Nếu học sinh thực hiện đầy đủ các nội dung quy định bên.
Chưa thực hiện đầy đủ (CĐ)
Nếu học sinh chưa thực hiện đầy đủ các nội dung quy định bên thì giáo viên cần ghi nhận
xét cụ thể, rõ ràng những điểm các em chưa thực hiện được cuối học kì I, cuối năm học.
3.3. Các phẩm chất thái độ liên quan đến việc phát triển năng lực học tập môn học.
Những phẩm chất, thái độ liên quan đến việc phát triển năng lực học tập các môn học
khác nhau, tùy theo đặc trưng của từng bộ môn. Tuy nhiên, dù biểu hiện đa dạng nhưng
các phẩm chất, thái độ ấy có thể khái quát được thành một số phẩm chất chung như: hứng
thú học tập, thói quen, phong cách học tập, khả năng tưởng tượng sáng tạo, tình yêu và
lòng quan tâm đến cộng đồng xã hội, những nét tính cách cá nhân như lòng tự tin, tự

trọng, tinh thần trách nhiệm, tính kỉ luật.
VI. Hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập ở tiểu học
A. Hình thức kiểm tra ở tiểu học
1. Kiểm tra theo thời gian
1.1. Kiểm tra thường xuyên
Là quá trình thu thập thông tin về việc học tập của học sinh một cách liên tục trong lớp
học.
Các hình thức kiểm tra thường xuyên dùng để đánh giá những phương diện cụ thể hay
những phần của chương trình học.
Kết quả của kiểm tra này để theo dõi sự tiến bộ của học sinh trong suốt tiến trình giảng
dạy và nó cung cấp những phản hồi liên tục cho học sinh và giáo viên, giúp GV có biện
pháp điều chỉnh kịp thời việc giảng dạy, giúp cho học sinh nhận ra những tiến bộ và chưa
tiến bộ của bản thân để từ đó tự điều chỉnh và phát triển.
* Kiểm tra hằng tháng
– Kiểm tra hằng tháng ở các lớp 1, 2 và 3
Môn Số bài kiểm tra Công cụ kiểm tra Cách thức xác định kết quả kiểm tra
Toán 2 Trắc nghiệm k quan hay tự luận Cho điểm

Tiếng Việt 4 Trắc ng KQ hay tự luận, vấn đáp Cho điểm
TN – XH 1 Vấn đáp Nhận xét
Đạo đức 1 Vấn đáp, quan sát Nhận xét
Nghệ thuật 3 Thực hành, quan sát Nhận xét
Thể dục 1 Thực hành, quan sát Nhận xét
– Kiểm tra hằng tháng ở lớp 4, 5
Môn Số bài kiểm tra Công cụ kiểm tra Cách thức xác định kết quả kiểm tra
Toán 2 Trắc nghiệm k quan hay tự luận Cho điểm
Tiếng Việt 4 Trắc ng KQ hay tự luận, vấn đáp Cho điểm
Đạo đức 1 Vấn đáp, quan sát ghi chép Nhận xét
Khoa học 1 Trắc ng KQ hay tự luận, vấn đáp Cho điểm

LSử và Đ Lí 1 Trắc ng KQ hay tự luận, vấn đáp Cho điểm
Âm nhạc 1 Thực hành, quan sát, ghi chép Nhận xét
Mĩ thuật 1 Thực hành, quan sát, ghi chép Nhận xét
Kĩ thuật 1 Thực hành, quan sát, ghi chép Nhận xét
Thể dục 1 Thực hành, quan sát Nhận xét
1.2. Kiểm tra định kỳ
Là phương thức xem xét kết quả học tập của học sinh theo thời điểm. Mục đích của kiểm
tra định kì giúp giáo viên biết mỗi học sinh tiếp thu được những gì sau mỗi đơn vị bài học
hoặc sau mỗi phần bài học để kịp thời bổ khuyết hay điều chỉnh nội dung và phương pháp
dạy học những phần kế tiếp.
2. Kiểm tra theo mục đích sử dụng kết quả
2.1. Kiểm tra đột xuất chẩn đoán
Kiểm tra kết quả học tập không theo những thời điểm đã ấn định trước. Kết quả của bài
kiểm tra đột xuất phản ánh hành vi điển hình của người học (người học thực hiện nhiệm
vụ trong điều kiện bình thường, không có sự chuẩn bị hay nỗ lực tối đa)
Kết quả bài kiểm tra đột xuất dùng để chẩn đoán các mặt tồn tại của quá trình dạy học, từ
đó đề ra phương hướng hay quyết định điều chỉnh việc dạy và học.

=> Kiểm tra đột xuất có thể xem là kiển tra thường xuyên vì chúng cùng thực hiện một
chức năng.
2.2. Kiểm tra tổng kết
Là xem xét thành quả học tập được thực hiện vào cuối khóa học hoặc cuối môn học. Các
kết quả thu được từ kiểm tra tổng kết chỉ ra khả năng người học có thể đạt được là gì khi
nỗ lực hết mình cũng như khi có sự chuẩn bị tối đa.
Kiểm tra tổng kết được xem là phương tiện để đo mức độ lĩnh hội của học sinh trong các
lĩnh vực học tập và được dùng để xếp loại học tập hoặc để xác định thành quả của người
học đạt được so với kết quả học tập tổng quát đã được xác định trong mục tiêu dạy học.
Kiểm tra tổng kết còn được gọi là hình thức đánh giá thành tích học tập của học sinh và
có ý nghĩa quan trọng về mặt quản lí.
B. Hình thức đánh giá ở tiểu học
Nếu phân loại hình thức đánh giá theo phương tiện gồm: Đánh giá bằng nhận xét và đánh

giá bằng điểm số, nếu phân loại hình thức đánh giá theo mục đích gồm: Đánh giá động
viên và đán giá xếp loại.
1. Đánh giá bằng nhận xét
1.1. Đánh giá bằng nhận xét là gì?
Là (giáo viên) đưa ra những phân tích hoặc những phán đoán về học lực hoặ hạnh kiểm
của người học bằng cách sử dụng các nhận xét được rút ra từ việc quan sát các hành vi
hoặc sản phẩm học tập của học sinh theo những tiêu chí được cho trước.
1.2. Làm thế nào để để đưa ra một nhận xét tốt?
– Trong trường hợp nội dung quan sát nhỏ hẹp, GV thường xuyên tham khảo các tiêu chí
đã được xác lập để có thể hình dung rõ những tiêu chí cần đánh giá.
– Trường hợp nội dung quan sát hoặc kiểm tra rộng lớn và phức tạp, hoặc những bài tập
lớn mà kết quả của nó sẽ được chính thức sử dụng để xếp loại học sinh, ghi vào Sổ điểm,
Sổ học bạ thì cần phải xây dựng bảng hướng dẫn đánh giá.
=> Các bước phác họa thiết kế bảng đành giá – theo Heidi Goodrich (1997) như sau:
Bước 1: Xem xét các mẫu, cho HS thấy thế nào là một mẫu bài làm hay mẫu hành vi tốt

hoặc mẫu bài làm hay mẫu hành vi chưa tốt.
Bước 2: Nhận diện đặc điểm của mỗi bài làm mẫu hay hành vi mẫu ấy.
Bước 3: Phát biểu những mức độ khác nhau của chất lượng bài làm hoặc hành vi thực
hiện; miêu tả mức độ tốt nhất và mức độ kém nhất, sau đó miêu tả các mức độ ở giữa.
Bước 4: Thực hành trên mẫu: cho HS sử dụng bảng hướng dẫn để đánh giá các mẫu mà
GV đã cho trong 3 bước trên.
Bước 5: Trong tiến trình thực hiện, thỉnh thoảng cho các em ngưng để tự đánh giá hay để
bạn bè đánh giá việc làm của mình.
Bước 6: GV sử dụng bảng hướng dẫn mà HS đã dùng ở trên để đánh giá sản phẩm học
tập của HS.
– Quan sát và ghi nhận các biểu hiện hành vi của học sinh theo các tiêu chí đã định.
– Thu thập thông tin đủ, phù hợp và tránh định kiến.
– Trước khi bắt đầu đưa ra một nhận xét hay một nhận định cần xem xét:
+ Chứng cứ (biểu hiện) thu thập được có thích hợp không?
+ Chứng cứ (biểu hiện) thu thập được đã đủ cho việc đưa ra những nhận xét về người học

chưa?
+ Đối với nhận xét dựa trên các tiêu chí học tập, phải xem xét xem những yếu tố nào khác
ngoài bài thực hành hay kiểm tra có thể ảnh hưởng đến kết quả của học sinh.
+ Khi viết một nhận xét nào đó nên cố gắng phát biểu rõ ràng những lí do đưa ra nhận xét
ấy.
1.3. Tác dụng của nhận xét đối với học sinh
– Động viên học sinh phấn đấu học tập đạt kết quả cao hơn
– Hướng dẫn học sinh điều chỉnh việc học tập
1.4. Thế nào là một nhận xét tốt?
Một nhận xét tốt là nhận xét có tác dụng động viên và hướng dẫn học sinh điều chỉnh việc
học. Một nhận xét tốt phải là:
– Thực tế: hướng lời nhận xét tới những vấn đề mà người học có thể làm được.
– Cụ thể: đưa ra những chứng cứ hay chi tiết cụ thể để giải thích hay chứng minh những

nhận xét, học sinh hình dung ra rõ ý nhận xét.
– Nhạy cảm đối với những quan tâm, mục đích hay cố gắng của người học: không cho là
học sinh sai hay không tốt khi các em không đáp ứng được những yêu cầu hay mục đích
mà chungs ta đề ra. Khi học sinh tạo ra một sản phẩm học tập nào đó, học sinh đều có
những mục đích của mình. GV cần cố gắng nhận biết các mục đích ấy và có cách nhìn
nhận phù hợp. Kết hợp lời nhận xét của chúng ta với những ý định được thể hiện qua bài
làm hay qua hoạt động của các em.
– Khuyến khích: khẳng định những điều HS đã làm được với những chứng cứ cụ thể.
– Hướng dẫn: hướng dẫn học sinh cách thức khắc phục những điều chưa đạt cũng như
cách thực hiện nhiệm vụ học tập kế tiếp tốt hơn.
– Kịp thời, không chậm trễ
– Nói thẳng, không bóng gió, úp mở
– Cho những ý kiến hay những cảm nghĩ riêng thay vì đưa ra những lời nhận định đầy uy
quyền (ví dụ: “cô nghĩ/ cô cảm thấy là…”)
Nhận xét không có tác dụng động viên hướng dẫn học sinh điều chỉnh việc học
– Chung chung, không cụ thể
– Nhằm mục đích phê bình, phê phán

– Không đáp ứng nhu cầu của người nhận phản hồi
– Không đề nghị điiều mà người học có thể có hoặc có thể học
1.5. Cách ghi nhận xét kết quả các môn học
* Yêu cầu đánh giá bằng nhận xét:
– Ở lớp 1, 2, 3: Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật, Tự nhiên và Xã hội
– Ở lớp4, 5: Đạo đức, Thể dục, Mĩ thuật, Kĩ thuật, Âm nhạc
– Đánh giá theo hai mức độ: hoàn thành (A), chưa hoàn thành (B)
+ Loại hoàn thành (A): đạt được yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng của môn học
được nêu trong Sổ theo dõi kết quả kiểm tra và đánh giá học sinh ở từng lớp. Học sinh đạt
mức hoàn thành khi có từ 50% số nhận xét trở lên trong từng học kì và cả năm học.
Những học sinh đạt loại Hoàn thành tốt (A+)

+ Loại Chưa hoàn thành (B): học sinh chưa thực hiện được những yêu cầu cơ bản về kiến
thức và kĩ năng của môn học, có dưới 50% nhận xét trong từng học kì và cả năm học.
* Cách thức ghi nhận xét kết quả các môn học đánh giá bằng nhận xét.
– Tìm hiểu nội dung nhận xét được ghi trong Sổ theo dõi kết quả kiểm tra đánh giá và nội
dung sách giáo khoa để xác định rõ các hành vi học tập của học sinh mà ta cần quan sát.
– Để giúp ghi nhận cụ thể các hành vi tiêu biểu của học sinh khi quan sát trong lớp học
sinh đông, giáo viên nên làm những mẫu ghi nhận cho từng môn (có thể dùng lâu dài)
như sau:
Tên HS Môn Tự nhiên và Xã hội/ HKI
Nhận xét 1
a) Nói tên và chỉ đúng các bộ phận của cơ quan hô hấp, tuần hoàn, bài tiết nước tiểu và
thần kinh trên hình vẽ.
b) Nói, viết được về chức năng của các cơ quan trên.
c) Kể được từ 1 đến 2 việc cần làm để giữ vệ sinh các cơ quan trên. Nhận xét 2 Nhận xét
3
A Thực hiện (a) đạt; (b) nói được 1 chức năng; (c) đạt, ngoài ra còn nêu thêm lí do
B
– Sau mỗi tiết hay phần bài học, Gv đưa nhận xét chung (hoàn thành, giỏi…) kèm với

những chứng cứ về điều HS đã làm được và chưa làm được.
– Khi đưa ra nhận xét tổng quát vào cuối HKI hoặc cuối năm học, ngoài xếp loại hoàn
thành hoặc chưa hoàn thành, GV dựa vào các ghi nhận cụ thể có dược trong năm một
cách khái quát về những hành vi HS thường làm thành những nhận định tổng quát về
phẩm chất và năng lực của HS.
* Những lưu ý:
– Không hình dung rõ ràng những yêu cầu cần quan sát khi tiến hành giờ học thuộc môn
học đánh giá bằng nhận xét.
– Chỉ ghi nhận bằng các dấu
tiêu biểu.

mà không kèm theo những chứng cứ về một vài biểu hiện

– Ghi nhận xét kiểu: A = Hoàn thành; B = Chưa hoàn thành.
– Chỉ dùng một bài kiểm tra viết hàng tháng (các môn đánh giá bằng nhận xét) rồi dựa
vào đó để nhận xét.
– Không ghi những nhận xét vụn vặt, thể hiện những hành vi nhất thời của học sinh vào
học bạ. Ví dụ: môn Thể dục: tập đều đặn, thuộc động tác; môn TN – XH: có học bài,
thuộc bài hoặc làm bài tốt
– Không ghi những nhận xét chung chung như; tiến bộ; khéo tay; rèn thêm Toán; ngoan…
2. Đánh giá bằng điểm số
2.1. Đánh giá bằng điểm số là gì?
Là sử dụng những mức điểm khác nhau trên một thang điểm để chỉ ra mức độ về kiến
thức và kĩ năng mà HS đã thể hiện được qua một hoạt động hoặc sản phẩm học tập.
Trong thang điểm, đi kèm với các mức điểm là phần miêu tả tương ứng cho từng mức
điểm (hướng dẫn chấm điểm hoặc đáp án). Những tiêu chuẩn miêu tả cho từng mức điểm
là căn cứ giúp GV giải thích ý nghĩa của các điểm số.
Ví dụ: thang điểm 5 cho bài tập làm văn lớp 5
Mức điểm Chính tả (CT), ngữ pháp (NP) Sự phong phú và cụ thể của ý tưởng Tổ chức,
diễn đạt ý tưởng Hiệu quả giao tiếp
5 Không lỗi CT, NP Ý cụ thể, nhiều chi tiết thú vị Mạch lạc, trình tự hợp thể loại Người
đọc hiểu dễ dàng
4 1, 2 lỗi CT, NP Ý cụ thể, khá nhiều chi tiết thú vị Mạch lạc, trình tự hợp thể loại Người

đọc hiểu dễ dàng
3 2, 3 lỗi CT, NP Ý cụ thể, một số chi tiết thú vị Một vài chỗ không mạch lạc Vài chỗ còn
khó hiểu
2 Hơn 4 lỗi CT, NP Vài chỗ ý chung chung, mơ hồ Không mạch lạc Vài chỗ còn khó hiểu
1 Nhiều lỗi CT, NP Ý mơ hồ Rời rạc, trình tự lộn xộn Khó hiểu

2.2. Giải thích ý nghĩa của điểm số
– Điểm số được xem là kí hiệu phản ánh trình độ học lực và phẩm chất của người học
sinh.
– Người quản lí xem điểm số như là một chứng cứ xác định trình độ học vấn của học sinh
và khả năng giảng dạy của GV.
– Phụ huynh nhìn nhận trình độ của con em mình chủ yếu qua điểm số mà không hiểu
được ý nghĩa của các mục tiêu sư phạm…
=> GV phải lí giải được ý nghĩa của điểm số mà mình đã cho, đặc biệt khi điểm số được
xem là căn cứ để xác định ngưỡng thành đạt của học sinh vì:
– Việc lí giải kiến thức, kĩ năng của HS thể hiện qua điểm số các tác dụng thúc đẩy HS
học tốt hơn, ngày thành công hơn.
– Giúp GV và nhà quản lí nắm được chất lượng dạy và học một cách cụ thể hơn, nhờ đó
họ có thể đưa ra những quyết sách phù hợp để điều chỉnh quá trình dạy học.
=> Để diễn giải được ý nghĩa của điểm số, người GV cần phải:
– Xác định mục đích của đánh giá: Xác định kiến thức, kĩ năng, thái độ hay năng lực nào
đó cần đánh giá.
– Chuẩn bị kĩ các bài kiểm trâ ở lớp học để có thể có một sản phẩm giá trị làm căn cứ cho
điểm, qua điểm số đó đánh giá được trình độ về năng lực của HS, cụ thể:
+ Phải bao quát được nhiều mặt kiến thức hay kĩ năng đã học trong nội dung đề bài kiểm
tra.
+ Đề cập trong bài kiểm tra những mục tiêu của kế hoạch đã nêu ra trong tháng hay học
kì.
+ Xây dựng thang điểm nhưng có thể điều chỉnh trong quá trình chấm khi có những câu
trả lời ngoài dự kiến.
+ Điều chỉnh các câu hỏi trong lúc đọc đề kiểm trâ nấu phát hiện thấy có sự không rõ

ràng.
+ Xác định ngưỡng đạt yêu cầu của bài kiểm tra.
+ Tập hợp nhiều loại thông tin khác nhau từ việc học của HS để làm chứng cứ hỗ trợ cho

việc giải thích điểm số của HS.
2.3. Hạn chế của điểm số
Điểm số phản ánh sự đánh giá mang tính trực giác và có thể xác định trên những bài kiểm
tra thiếu tin cậy. Do vậy, điểm số không giúp xác định cụ thể và đầy đủ khả năng của học
sinh.
Điểm số ít có tác dụng về mặt sư phạm vì nó vừa cho biết sự thật về trình độ HS lại vừa
có thể che lấp sự thật ấy.
Việc chạy theo các điểm số có thể là nguyên nhân sinh ra những áp lực không cần thiết
cho mỗi HS và tạo ra bệnh thành tích chủ nghĩa trong quản lí dạy và học.
3. Đánh giá động viên
3.1. Đánh giá động viên là gì?
Động viên, khuyến khích sự tiến bộ của học sinh khi kiểm tra đánh giá là sử dụng điểm
số, nhận xét hoặc những phương tiện khác để kích thích tinh thần, cảm xúc của học sinh,
từ đó thôi thúc các em thực hiện các nhiệm vụ kế tiếp tốt hơn, với sự phấn chấn cao hơn.
Hay động viên, khuyến khích là các tác động làm nảy sinh những “suy nghĩ tích cực” và
“suy nghĩ cần thiết”, loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực và suy nghĩ lãng phí ở học sinh về
việc học của mình.
3.2. Biện pháp thực hiện động viên, khuyến khích sự tiến bộ của học sinh khi kiểm tra
đánh giá
– Sử dụng điểm số: Cho điểm nhằm động viên học sinh trong kiểm tra thường xuyên.
Đối với một số trường hợp học sinh yếu, học sinh có hoàn cảnh khó khăn được cho điểm
cao hơn so với mức điểm đúng để thưởng học sinh và nhờ vậy khuyến khích học sinh tiếp
tục phấn đấu đạt kết quả học tập ngày tốt hơn.
– Ngoài ra, GV cần hướng dẫn HS xây dựng tập lưu trữ các sản phẩm học tập. Mục đích
khuyến khích học sinh có trách nhiệm đối với việc học của mình, tăng niềm tự hào và tự
trọng đối với các em.
4. Đánh giá xếp loại

4.1. Xếp loại là gì?

Là tiến trình phân loại trình độ hay phẩm chất năng lực của người học dựa trên cơ sở xem
xét các kết quả học tập đã thu thập được qua quá trình kiểm traliên tục và hệ thống. Các
kêt quả học tập này được ghi nhận bằng điểm số hay bằng nhận xét.
Kết quả xếp loại được dùng để ra quyết định chứng nhận trình độ, xét lên lớp, xét khen
thưởng học sinh.
Đánh giá xếp loại kết quả học tập của học sinh tiểu học được thực hiện theo văn bản
hướng dẫn của Bộ GD – ĐT. Theo quy định, HS tiểu học được xếp loại về hai mặt: học
lực (học lực theo môn và học lực chung) và hạnh kiểm.
4.2. Để xếp loại kết quả đáng tin cậy
– Hai yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc đảm bảo độ tin cậy của kết quả xếp loại là:
(1 )hệ thống mục tiêu dạy học rõ ràng và cụ thể nhằm hướng dẫn cho tiến trình đánh giá
xếp loại.
(2) tính thích hợp của các kĩ thuật đánh giá đối với mục tiêu và nội dung đánh giá.
– Đánh giá chủ quan và thiếu chính xác nếu:
(1) không căn cứ trên hệ thống mục tiêu giáo dục tường minh, những tiêu chuẩn cụ thể về
các hành vi học tập.
(2) phần lớn là mục tiêu thành thạo chi phối quá trình đánh giá xếp loại, không có hoặc ít
mục tiêu phát triển.
(3) không có sự hỗ trợ của những quan sát định tính liên quan đến các sự kiện cụ thể
trong lớp học.
(4) người đánh giá không có đủ hiểu biết về chuyên môn và kĩ thuật đánh giá.
VI. Phương pháp đánh giá kết quả học tập ở tiểu học
– Các hình thức kiểm tra nêu trên được thực hiện bằng các phương pháp kiểm tra:
– Kiểm tra miệng
– Kiểm tra viết
– Kiểm tra thực hành.
1. Kiểm tra miệng:
– Phương pháp kiểm tra miệng được sử dụng:

Trước khi học bài mới
Trong quá trình học bài mới
Sau khi học xong bài mới
Thi cuối học kỳ
Thi cuối năm học
– Phương pháp kiểm tra miệng có tác dụng
Tạo cho người giáo viên thu được tín hiệu ngược nhanh chóng từ học sinh có những trình
độ khác nhau. Thúc đẩy cho học sinh học tập thường xuyên, có hệ thống, liên tục. Giúp
học sinh rèn luyện kĩ năng biểu đạt bằng ngôn ngữ một cách nhanh, gọn, chính xác, rõ
ràng. – Tuy nhiên, phương pháp kiểm tra miệng cũng có nhược điểm nếu giáo viên sử
dụng nó không khéo léo, như: Một bộ phận học sinh thường thụ động trong khi kiểm tra.
Mất nhiều thời gian.
– Các yêu cầu khi kiểm tra miệng
Tạo điều kiện cho tất cả học sinh trả lời đầy đủ câu hỏi đề ra Giáo viên nghiên cứu kỹ
những kiến thức cơ bản của bài, nắm chắc chương trình, chuẩn bị kiến thức tối thiểu do
quy định. Dung lượng kiến thức trong mỗi câu hỏi vừa phải, sát trình độ học sinh, học
sinh có thể trả lời ngắn gọn trong vài phút. Sau khi nêu câu hỏi cho cả lớp, cần có thời
gian ngắn để học sinh chuẩn bị, sau đó mới chỉ định học sinh trả lời câu hỏi. Thái độ và
cách ứng xử của giáo viên đối với học sinh có ảnh hưởng trong kiểm tra. Sự hiểu biết của
giáo viên về tính cách của học sinh, sự tế nhị và nhạy cảm là những yếu tố giúp cho
người thầy giáo thấy rõ thực chất trình độ kiến thức, kĩ năng của học sinh được kiểm tra.
Cần kiên trì nghe học sinh trình bày. Khi cần thiết, phải biết gợi ý, không làm cho các em
sợ hãi lúng túng. Yêu cầu học sinh trả lời sao cho cả lớp nghe được và yêu cầu cả lớp
theo dõi câu trả lời của bạn và bổ sung khi cần thiết. Phải có nhận xét ưu khuyết điểm
trong câu trả lời của học sinh về hình thức trình bày, nội dung, tinh thần thái độ. Phải
công bố điểm công khai. Phải ghi điểm vào sổ điểm của lớp và sổ điểm cá nhân của mình.
2. Kiểm tra viết
– Kiểm tra viết được sử dụng:
Sau khi học xong một bài
Sau khi học xong một phần.

Sau khi học xong giữa kì

Tài liệu liên quan

Xem thêm: tuyen tap nguyen ngoc ngan

*

bai thu hoach boi duong thuong xuyen module thpt36 12 808 1

*

bai thu hoach boi duong thuong xuyen module thpt33 8

Viết một bình luận